Giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
Thực hiện Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ Khóa XII và năm 2008, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các cơ quan hữu quan chuẩn bị Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
Tháng 5 năm 2008, Dự án Luật
được khởi động thực hiện theo Quyết định số
25/QĐ-TTg, và quyết định số 2013/QĐ-BVHTTDL. Với tinh thần chủ động và
tích cực, Ban soạn thảo đã hoàn tất Báo cáo tổng kết hai năm thực hiện Luật Sở
hữu trí tuệ và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ; Dự thảo Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều Luật Sở hữu trí tuệ; tổ chức các hội thảo để lấy ý
kiến đóng góp của đại diện giới sáng tạo, nhà sử dụng, các cơ quan quản lý và
thực thi ở Trung ương và địa phương, các nhà khoa học, chuyên gia.
Bộ Tư pháp đã có ý kiến thẩm
định tại văn bản số 4135/BTP-PLDSKT ngày 19 tháng 12 năm 2008. Các ý kiến đóng
góp, ý kiến thẩm định đã được Ban soạn thảo tiếp thu và hoàn chỉnh Dự thảo Luật.
Ngày 10/12/2008, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, Trưởng Ban soạn thảo đã trình Chính phủ xem xét Dự án Luật tại phiên
họp thường kỳ tháng 12 năm 2008 của Chính phủ. Ngày 04/02/2009, Chính phủ đã có
Tờ trình số 12/TTr-CP trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Dự án Luật. Ngày 23 tháng 2 năm
2009, Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội đã có Báo cáo thẩm tra sơ bộ Dự án Luật sửa
đổi, bổ sung một số Điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 705/BC-UBPL12. Tại phiên
họp thứ 17 ngày 24 tháng 2 năm 2009, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã họp thảo luận
và cho ý kiến đối với các nội dung thuộc Dự án do Chính phủ trình và Báo cáo
Thẩm tra sơ bộ của Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội. Ngày 11 tháng 3 năm 2009, Hội
nghị thường trực Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội đã họp và thảo luận
về Dự án Luật.
Tiếp thu ý kiến các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ đã
hoàn chỉnh Luật và trình Quốc hội tại tờ trình số 48/TTr-CP ngày 09/4/2009.
Ngày 27 tháng 4 năm 2009, Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội
đã có Báo cáo thẩm tra Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Sở hữu
trí tuệ số 814/BC-UBPL12.
Ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ
họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ với 90,26% tổng số đại biểu tham gia biểu
quyết tán thành. Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chủ tịch nước đã có Lệnh số
12/2009/L - CTN công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí
tuệ.
I. Sự cần thiết phải sửa
đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ
1. Hệ thống pháp luật về sở hữu
trí tuệ:
Việc Quốc hội ban hành Bộ luật
Dân sự sửa đổi năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đánh dấu bước phát
triển mới, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt
động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và hội nhập quốc tế.
Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi
hành Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, các văn bản pháp luật cũng đã được
ban hành kịp thời 06 Nghị định của Chính phủ, 02 Chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ, 04 Thông tư cùng 04 Quyết định của các Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch,
Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế. Hệ thống pháp
luật về sở hữu trí tuệ hiện hành đã tạo hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích
các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo. Về cơ bản, nó
đã kế thừa các giá trị của các văn bản pháp luật được thể nghiệm trong thực
tiễn, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, gồm người sáng tạo, nhà sử
dụng, công chúng hưởng thụ, bảo vệ lợi ích quốc gia, tương thích với luật pháp
quốc tế, thực hiện sự minh bạch, khả thi. Vì vậy, nó đã thúc đẩy hoạt động bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia, góp phần quan trọng kết thúc quá trình
đàm phán để Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Các quy định pháp luật về sở hữu
trí tuệ đã thực sự đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng trong hơn hai năm thi
hành. Có trên 100 hội nghị, lớp tập huấn, hội thảo đã được tổ chức cho các đối
tượng có quyền và nghĩa vụ liên quan, từ giới sáng tạo đến nhà sử dụng, các cơ
quan quản lý và thực thi với trên 10.000 lượt người tham dự. Nhận thức của công
chúng, đặc biệt là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được nâng lên
thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục và thực thi pháp luật.
Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn diễn ra đối với hầu hết các đối tượng được bảo hộ
từ quyền tác giả, quyền liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp và giống
cây trồng. Nạn sao chép tác phẩm, vi phạm về nhãn hiệu hàng hóa đã gây thiệt
hại không nhỏ đối với các nhà đầu tư. Hầu hết các bản ghi âm, ghi hình, chương
trình máy tính có giá trị bị sao chép lậu, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng bị làm
giả, làm nhái. Môi trường kỹ thuật số nói chung, mạng thông tin điện tử nói riêng
đã được khai thác với động cơ vụ lợi, xâm phạm nghiêm trọng quyền tác giả đối
với các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Một số vụ việc đã
được các tổ chức quốc tế, các quốc gia, doanh nghiệp nước ngoài yêu cầu các cơ
quan nhà nước Việt Nam xem xét, xử lý.
Tình trạng vi phạm trên có nhiều
nguyên nhân, trong đó nhận thức chung của toàn xã hội về vai trò của sở hữu trí
tuệ vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật. Năng lực,
kinh nghiệm và hệ thống thực thi pháp luật có nhiều hạn chế, bất cập. Pháp Luật
Sở hữu trí tuệ vẫn còn những quy định chưa phù hợp trong hoạt động thực thi bảo
vệ quyền, một số điều khoản chưa tương thích với pháp luật quốc tế.
2. Những tồn tại chính của Luật
Sở hữu trí tuệ:
- Có một số điều khoản chưa
tương thích với luật pháp quốc tế như: quy định về giới hạn quyền tác giả tại
Điều 26, giới hạn quyền liên quan tại Điều 33, chưa phù hợp với Công ước Berne.
Nội dung quyền đối với giống cây trồng quy định tại các Điều 157, 160, 163,
165, 178, 186, 187, 188, 190, 194 chưa tương thích với Công ước UPOV, .
Có một số điều khoản có lỗi về
kỹ thuật dẫn đến chưa tương thích với Công ước Berne tại các Điều 42 khoản 1
điểm a về tác phẩm “khuyết danh”; về loại hình tác phẩm tại Điều 14 khoản 1
điểm k thiếu tác phẩm “kiến trúc” chưa thực sự phù hợp với Công ước Berne.
- Có một số quy định qua thực tế
thi hành bộc lộ những hạn chế, bất cập như các quy định về thủ tục đăng ký xác
lập quyền sở hữu công nghiệp tại các Điều 87, 90, 119, 134, 154; các quy định
về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại các Điều 201, 211, 214, 216, 218.
- Một số
vấn đề mới phát sinh trong quá trình hội nhập phải đáp ứng nhằm đảm bảo sự bình
đẳng giữa các tổ chức, cá nhân Việt Nam với pháp nhân và công dân nước ngoài,
như vấn đề thời hạn bảo hộ quyền tác giả (Điều 27) cần được kéo dài hơn so với
quy định hiện hành.
Nguyên nhân của các tồn tại của
Luật Sở hữu trí tuệ:
- Về khách quan: bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ là vấn đề mới và phức tạp đối với Việt Nam, vì vậy, không tránh
khỏi các khiếm khuyết và lỗi về kỹ thuật lập pháp trong quá trình chuẩn bị và
phê duyệt.
- Về chủ quan: có một số điều luật
được quy định nhằm đáp ứng yêu cầu đối với hoạt động của các phương tiện phát
sóng phục vụ cộng đồng, nhưng chưa phù hợp với luật pháp quốc tế (Điều 26, 33).
Quy định này đã trở thành vấn đề tại các diễn đàn quốc tế liên quan, tại các
vòng đàm phán về việc Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11
của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt
Nam, đã quy định áp dụng trực tiếp các Điều 26, 33 của Luật Sở hữu trí tuệ tại
phụ lục kèm theo Nghị định thư: “Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm, bản ghi âm
ghi hình đã công bố để thực hiện chương trình phát sóng không phải xin phép
nhưng phải trả nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên
quan”.
3. Để giải quyết các tồn tại,
bất cập trên về pháp luật và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cần thiết phải thể
chế hóa Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11, đồng thời sửa đổi một số điều khoản khác
hiện đang chưa tương thích với luật pháp quốc tế, một số điều khoản chưa phù hợp
gây khó khăn cho hoạt động thực thi, cũng như những vấn đề mới phát sinh trong
quá trình thực hiện. Việc sửa đổi này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hội
nhập, khắc phục các tồn tại bất cập, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích của cá
nhân, tổ chức Việt Nam bình đẳng với công dân và pháp nhân của các quốc gia,
thúc đẩy các hoạt động thực thi tại Việt Nam và hội nhập quốc tế. Việc sửa đổi
đồng thời sẽ góp phần quan trọng phát huy năng lực sáng tạo, khuyến khích cạnh
tranh lành mạnh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, phát triển thị trường công
nghệ, từ đó nâng cao hiệu lực của pháp luật, hiệu quả thực thi, góp phần phát
triển kinh tế - văn hóa - xã hội.
II. Quan điểm chỉ đạo
sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ
Năm quan điểm xây dựng, trình và
phê duyệt Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 tiếp tục được quán triệt để triển khai
thực hiện Dự án, bao gồm: thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của
Đảng, quy phạm hóa nội dung Nghị quyết số 71/2006/QH11 về việc phê chuẩn Nghị
định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam; bảo vệ lợi ích
quốc gia; bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa người sáng tạo, nhà sử dụng
và công chúng hưởng thụ; kế thừa các giá trị pháp luật đã được thực tiễn kiểm
nghiệm, tiếp thu các chuẩn mực quốc tế; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh
bạch, khả thi, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Từ các quan điểm trên, 3 hướng
chính cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ gồm:
- Sửa đổi một số điều khoản có
nội dung chưa tương thích với các điều ước quốc tế đa phương, các điều khoản
khác phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hội nhập;
- Sửa đổi một số điều khoản đang
nảy sinh các vướng mắc trong thực thi;
- Chỉnh sửa các lỗi kỹ thuật về
nội dung văn bản và các từ ngữ phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.
Từ các quan điểm chỉ đạo và
hướng sửa đổi, bổ sung nêu trên, Dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở
hữu trí tuệ đã được Ban soạn thảo chuẩn bị, tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan,
tổ chức liên quan. Có 4 nhóm vấn đề được đề cập đến trong việc sửa đổi, bổ sung
gồm:
a) Sửa đổi, bổ sung đối với các
điều, khoản liên quan tới nội dung quyền tác giả, quyền liên quan và quyền đối
với giống cây trồng, thuộc Phần thứ hai và Phần thứ tư Luật hiện hành;
b) Sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới
trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp, thuộc Phần thứ ba và Phần
thứ sáu Luật hiện hành;
c) Sửa đổi, bổ sung đối với các
điều, khoản liên quan tới chính sách về sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ, thuộc Phần thứ nhất và Phần thứ năm Luật hiện hành;
d) Sửa đổi, bổ sung đối với các
điều, khoản liên quan tới kỹ thuật văn bản và thay đổi từ ngữ phù hợp với các
quy định pháp luật liên quan.
III. Nội dung cơ bản của
các điều khoản sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ
1. Những nội dung cơ bản của các điều
khoản sửa đổi, bổ sung
Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật sở hữu trí tuệ gồm 3 Điều. Điều 1, sửa đổi, bổ sung một số khoản,
điểm tại 30 Điều của Luật sở hữu trí tuệ, gồm các Điều 3, 4, 7, 8, 14, 25, 26,
27, 30, 33, 41, 42, 87, 90, 119, 134, 154, 157, 160, 163, 165, 186, 187, 190,
194, 201, 211, 214, 218 và Điều 220. Điều 2, thay cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông
tin” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” tại Điều 11, Điều 50, và
Điều 51 của Luật sở hữu trí tuệ. Luật sửa đổi lần này tiếp tục khẳng định việc
duy trì thẩm quyền của Bộ Văn hóa, Thông tin trước kia, nay là Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về quyền tác
giả, quyền liên quan như đã được quy định tại Điều 11 Luật sở hữu trí tuệ 2005.
Điều 3 quy định hiệu lực thi hành Luật từ ngày 01 tháng 01 năm 2010; giao Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.
Tại
phần thứ nhất: sửa đổi, bổ sung 5 Điều, gồm các Điều 3, 4, 7, 8,
11
Điều 3: bổ sung cụm từ “vật liệu thu hoạch” để phù hợp
Công ước UPOV về giống cây trồng
Điều 4: bổ sung 2 thuật ngữ để
quy định rõ và đầy đủ nội hàm của vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.
Điều 7: bổ sung quy định về bảo
hộ sáng chế mật. Đây là vấn đề mới và phức tạp, vì vậy Quốc hội giao Chính phủ
quy định cụ thể để thực hiện và sẽ được luật hoá sau một thời gian kiểm nghiệm
qua thực tiễn thi hành.
Điều 8: để thực hiện được những
chính sách đã quy định tại Điều này phải có sự đầu tư các nguồn lực khác nhau,
trong đó có nguồn từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, bổ sung khoản 5 về đẩy mạnh
đầu tư và huy động các nguồn lực xã hội nhằm nâng cao năng lực của hệ thống bảo
hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Tại phần thứ hai: sửa đổi, bổ sung 10
Điều, gồm các Điều 14, 25, 26, 27, 30, 33, 41, 42, 50, 51
Điều 14: bổ sung 2 từ “kiến
trúc” vào điểm k khoản 1 để phù hợp với Công ước Berne.
Điều 25: Sửa khoản 3 theo hướng
không áp dụng điểm a, đ khoản 1 đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình,
chương trình máy tính.
Điều 30: Bổ sung cụm từ “nhập
khẩu” để phù hợp với Điều 2 Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm
chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ. Việc bổ sung này cũng
phù hợp với Điều 4 khoản 6 BTA. Đồng thời nó cũng phù hợp với điểm d khoản 1
Điều 20 Luật SHTT về quyền tài sản thuộc quyền tác giả.
Điều 26, 33: sửa để phù hợp với
Điều 11bis Công ước Berne, quy phạm hoá Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê chuẩn
Nghị định thư thành lập WTO về việc áp dụng trực tiếp nội dung quy định tại Phụ
lục kèm theo.
Việc sửa đổi có phân biệt việc
trả tiền nhuận bút, thù lao trong trường hợp sử dụng để phát sóng có tài trợ,
quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào và việc sử dụng không có tài
trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất cứ hình thức nào. Quy định này phù
hợp với thực tiễn của Việt Nam vì trong
nhiều năm qua, phần lớn tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, kể cả nguồn
nhân lực sáng tạo chung đều được hình thành bởi sự đầu tư, bao cấp của Nhà nước
và xã hội. Do đó, phải tính đến lợi ích của Nhà nước và cộng đồng xã hội. Đồng
thời, cũng phù hợp với khoản 2 Điều 11bis Công ước Berne cho phép quốc gia
thành viên được quy định điều kiện áp dụng quyền tác giả, bảo đảm không vi phạm
quyền tinh thần cũng như quyền được nhận thù lao hợp lý của tác giả. Quy định
như vậy cũng không mâu thuẫn với Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội. Quyền
sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự đã được quy định trong Bộ luật dân sự và
Luật sở hữu trí tuệ. Vì vậy, trước hết cần thực hiện theo nguyên tắc thoả
thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì giao Chính phủ quy định về
mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán
để thực hiện; đồng thời làm căn cứ để Toà án giải quyết khi đương sự khởi kiện
tại Toà án.
Điều 27: loại hình tác phẩm điện
ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh, được kéo dài thời hạn
bảo hộ tới 75 năm kể từ khi tác phẩm được
công bố lần đầu tiên. Trong thời hạn 25 năm kể từ khi tác phẩm được định hình,
nếu tác phẩm chưa được công bố thì thời hạn được bảo hộ là 100 năm, kể từ khi
tác phẩm được định hình. Quy định này vừa nhằm khuyến khích tác giả, chủ sở hữu
công bố tác phẩm phục vụ xã hội, vừa nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích giữa
loại hình tác phẩm tính thời hạn bảo hộ theo nguyên tắc đời người và loại hình
tác phẩm tính thời hạn bảo hộ theo nguyên tắc định hình hoặc công bố; đồng thời
để bảo đảm sự công bằng cho người Việt Nam với người nước ngoài khi áp dụng
thời hạn bảo hộ này theo cam kết tại BTA và thực hiện nguyên tắc đối xử tối huệ
quốc của Hiệp định TRIPS.
Như vậy, các loại hình tác phẩm
còn lại bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, giáo khoa, giáo trình,
bài giảng, bài phát biểu, báo chí, kiến trúc, tạo hình, âm nhạc, chương trình
máy tính v.v... quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 27 vẫn giữ nguyên thời hạn
bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết.
Đối với tác phẩm sân khấu, theo
Công ước Berne, Hiệp định TRIPs và phù hợp với BTA thì thời hạn bảo hộ là suốt
cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết. Do đó, nó đã được
chuyển sang bảo hộ theo quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 27.
Điều 41: Bổ sung khoản 2 để khuyến khích người quản
lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính
của tác giả được xác định, phù hợp với điều 15 Công ước Berne. Theo đó, tại
điểm a khoản 1 Điều 42 bổ sung quy định loại trừ khoản 2 điều 41 về Chủ sở hữu
quyền tác giả là Nhà nước.
Tại phần thứ ba: sửa đổi, bổ sung 5
Điều, gồm các Điều 87, 90, 119, 134, 154.
Điều 87: bổ sung quy định về đăng ký
nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý
của sản phẩm, để thống nhất quyền quản lý chỉ dẫn địa lý đối với đối tượng được
coi là tài sản quốc gia.
Điều 90: sửa đổi nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, để bảo đảm
không cấp nhiều văn bằng bảo hộ cùng loại đối với cùng một đối tượng hoặc đối
với các đối tượng không khác biệt nhau.
Điều 119: sửa đổi điểm a, b
khoản 2 Điều 119 để giãn thời hạn thẩm định nội dung đơn: đối với đơn sáng chế,
từ 12 tháng thành 18 tháng và đối với đơn nhãn hiệu từ 6 tháng thành 9 tháng,
và kiểu dáng công nghiệp từ 6 tháng thành 7 tháng, nhằm đảm bảo tính khả thi,
cấp văn bằng chính xác, tránh tồn đọng hồ sơ đăng ký, cũng như tránh phải hủy
bỏ văn bằng bảo hộ phù hợp với quyền ưu tiên theo Công ước Paris về bảo hộ sở
hữu công nghiệp.
Điều 134: sửa mốc thời gian xác
lập quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp để bảo đảm
tương thích với Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp.
Điều 154: bổ sung điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp, trừ tổ chức luật sư nước ngoài hành
nghề tại Việt Nam, phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Tại
phần thứ tư: sửa đổi, bổ sung 8 Điều, gồm các Điều 157, 160, 163, 165, 186, 187, 190,
194.
Điều 157: sửa để phù hợp với
Công ước UPOV về tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng.
Điều 160: loại bỏ điểm d khoản 2
quy định về giống cây trồng mà bản mô tả chi tiết của giống đó đã được công bố,
để phù hợp với Công ước UPOV.
Điều 163: loại bỏ điểm e khoản
3, quy định về tên của giống cây trồng không được coi là phù hợp trong các
trường hợp trùng hoặc tương tự với tên của
sản phẩm thu hoạch từ giống cây trồng đó, bổ sung khoản 6 quy định về
công khai tên giống cây trồng để phù hợp với Điều 20 Công ước UPOV.
Điều 165: Bổ sung các khoản 2, 3, 4, 5 về điều kiện kinh doanh dịch
vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.
Điều 186: bổ sung khoản 2 quy
định về quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng, để phù hợp với khoản 2 Điều
14 Công ước UPOV.
Điều 187: sửa đổi quy định về mở rộng quyền của chủ bằng
bảo hộ giống cây trồng, để phù hợp với khoản 2 Điều 14 Công ước UPOV.
Điều 190: sửa đổi quy định về
hạn chế quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng, để phù hợp với khoản 2 Điều
15 Công ước UPOV.
Điều 194: bổ sung khoản 4 quy
định về việc chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng được tạo ra từ ngân
sách nhà nước.
Tại phần thứ năm: sửa đổi, bổ sung 4
Điều, gồm các Điều 201, 211, 214, 218
Điều 201: sửa để cho phép các tổ
chức, cá nhân đáp ứng đủ điều kiện theo quy định pháp luật được thực hiện hoạt
động giám định về sở hữu trí tuệ. Quy định này phù hợp với xu hướng cải cách
hành chính hiện nay, đồng thời đảm bảo chủ trương xã hội hoá của hoạt động này.
Các Bộ liên quan có thể thành lập các đơn vị sự nghiệp, để tham gia thực hiện
hoạt động giám định.
Điều 211: mở rộng phạm vi xử lý
hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, để các cơ quan có
thẩm quyền chủ động kiểm tra xử lý vi phạm.
Điều 214: bỏ quy định về mức
phạt tiền theo giá trị hàng hóa xâm phạm để áp dụng quy định chung của pháp
luật xử phạt vi phạm hành chính, với mức phạt tối đa 500 triệu đồng.
Điều 218:
sửa thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan, để phù hợp Điều 55 Hiệp định TRIPS, Điều
15.5 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ.
Tại phần thứ sáu: sửa đổi Điều 220
Điều 220: sửa lời văn của quy
định chuyển tiếp liên quan đến văn bằng bảo hộ cấp theo quy định pháp luật có
hiệu lực trước Luật Sở hữu trí tuệ tại khoản 3 để tránh gây hiểu và áp dụng sai
trong thực tiễn; bổ sung quy định áp dụng quy định chuyển tiếp cho tên gọi xuất
xứ hàng hóa – đối tượng được xác lập quyền mà không cấp văn bằng bảo hộ.
2. Tác động của Luật sửa
đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ:
Với việc sửa đổi như trên, sự
tác động tích cực của nó sẽ thể hiện trên các khía cạnh chính sau:
- Tạo ra sự phù hợp hơn
của Luật Sở hữu trí tuệ với các chuẩn mực quốc tế, các cam kết của Việt Nam khi
tham gia WTO
Các Điều, khoản được sửa đổi, bổ
sung để phù hợp với các Điều ước quốc tế đa phương, các cam kết của Việt Nam
khi tham gia WTO sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân
Việt Nam trong hội nhập, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việc sửa
đổi này thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc hội nhập quốc tế với các
chuẩn mực chung, phù hợp.
Khuyến khích các doanh nghiệp
nước ngoài yên tâm đầu tư vào Việt Nam với cơ chế pháp luật rõ ràng, mang tính
quốc tế.
Hạn chế tối đa tranh chấp về
việc hiểu và thi hành Luật Sở hữu trí tuệ trong các quan hệ quốc tế. Loại trừ ý
kiến của các quốc gia tại các diễn đàn quốc tế liên quan về những hạn chế của
Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.
- Lợi ích quốc gia được
bảo vệ trong quá trình hội nhập; tạo ra sự bình đẳng về lợi ích giữa công dân,
pháp nhân Việt Nam với công dân, pháp nhân nước ngoài
Các sửa đổi, bổ sung sẽ bảo vệ
được quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân Việt Nam, đảm bảo sự hài hoà về lợi
ích giữa các chủ thể quyền trong và ngoài nước, khắc phục các hạn chế trong các
cam kết quốc tế, tạo vị thế và thuận lợi cho các chủ thể quyền trong các giao
dịch quốc tế liên quan.
Việc sửa để kéo dài thời hạn bảo
hộ tới 75 năm đối với loại hình tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng
dụng, tác phẩm khuyết danh; để cân bằng lợi ích giữa các loại hình, phù hợp với
xu thế chung trên thế giới, vì tuổi thọ bình quân của con người đã được nâng
lên (người Việt Nam có tuổi thọ bình quân là 73 tuổi); đồng thời khắc phục sự
đối xử bất bình đẳng về thời hạn bảo hộ đã cam kết tại BTA. Sửa đổi này cũng nhằm
để công dân, pháp nhân Việt Nam được hưởng các lợi ích như công dân, pháp nhân
các nước thành viên WTO khi Việt Nam thực hiện nguyên tắc đối xử tối huệ quốc
của Hiệp định Trips.
Việc bổ sung quy định về sáng
chế mật để có thể bảo vệ được bí mật quốc phòng, bí mật quốc gia; quy định về
chỉ dẫn địa lý đối với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận sẽ bảo vệ được
tài sản quốc gia trong hoạt động thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nó hoàn
toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.
Công dân, doanh nghiệp
được tiếp cận các quy định rõ ràng và cụ thể hơn về trình tự, thủ tục xác lập
quyền
Các sửa đổi, bổ sung tạo điều
kiện cho công dân, doanh nghiệp tiếp cận các thủ tục rõ ràng, minh bạch trong
việc tiến hành xác lập quyền, phù hợp với yêu cầu về cải cách hành chính. Giảm
các chi phí về tài chính cũng như thời gian vật chất liên quan đến việc lập hồ
sơ, thủ tục nộp đơn, xin cấp văn bằng bảo hộ. Khuyến khích các chủ sở hữu nộp
đơn đăng ký xác lập quyền để được bảo hộ. Ngăn chặn các hành vi nhũng nhiễu,
gây phiền hà có thể xảy ra tại các cơ quan có thẩm quyền.
- Các cơ quan quản lý,
thực thi về sở hữu trí tuệ được hưởng các chính sách phù hợp, tạo điều kiện cho
các hoạt động thực thi có hiệu quả
Bổ sung quy định chính sách về,
nhằm bảo đảm các điều kiện vật chất phù hợp với đặc thù của lĩnh vực sở hữu trí
tuệ, để hỗ trợ các cơ quan quản lý, thực thi về sở hữu trí tuệ còn non trẻ,
đang gặp nhiều khó khăn trong cơ chế chung hiện nay. Góp phần thúc đẩy các hoạt
động thực thi đạt hiệu quả.
Theo đó, các bộ, ngành có thẩm
quyền quan tâm xử lý các vấn đề liên quan đến tài chính, cũng như các điều kiện
vật chất khác, để các cơ quan quản lý, thực thi sở hữu trí tuệ hoàn thành nhiệm
vụ theo quy định pháp luật.
Việc các bộ, ngành liên quan
thành lập các tổ chức sự nghiệp để tham gia hoạt động giám định sẽ khắc phục
tình trạng bất cập về chuyên môn sở hữu trí tuệ trong lực lượng thực thi thuộc
bộ máy nhà nước, các tổ chức hỗ trợ thực thi như tổ chức tư vấn, dịch vụ sở hữu
trí tuệ, tổ chức đại diện tập thể. Chủ trương này còn nhằm tận dụng năng lực
chuyên môn của đội ngũ chuyên gia trong các cơ quan nhà nước, để hỗ trợ hoạt
động của các cơ quan thực thi trong điều kiện chưa đủ năng lực chuyên môn về sở
hữu trí tuệ.
- Nâng cao nhận thức,
hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật cho công chúng, các tổ chức, cá nhân có
quyền và nghĩa vụ liên quan
Việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở
hữu trí tuệ lần này tạo ra dư luận xã hội quan tâm hơn nữa tới vấn đề sở hữu
trí tuệ còn mới mẻ và rất phức tạp tại Việt Nam. Là dịp củng cố, tiếp tục nâng
cao nhận thức, hiểu biết, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng.
Các văn nghệ sỹ, trí thức phấn khởi, yên tâm hơn trong các hoạt động sáng tạo
để có được các sản phẩm có giá trị tư tưởng, văn học, nghệ thuật và khoa học
phục vụ công chúng, vì có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh.
Các cơ quan bảo vệ pháp luật
được trang bị thêm kiến thức mới, đầy đủ, cụ thể hơn để có thể thực thi pháp
luật có hiệu quả. Các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuận
lợi hơn trong việc áp dụng khung hình phạt phù hợp với thẩm quyền. Cơ quan hải
quan có điều kiện chủ động hơn trong việc xử lý hàng hoá xuất, nhập khẩu vi
phạm quyền sở hữu trí tuệ tại cửa khẩu biên giới.
Tóm lại, các sửa đổi, bổ sung
Luật Sở hữu trí tuệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để các tổ chức, cá nhân
tiếp cận được hệ thống pháp luật hoàn thiện, hiện đại, phù hợp với thực tiễn;
tăng cường năng lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, thực thi,
các cơ quan hỗ trợ thực thi, góp phần tạo ra chuyển biến tích cực, có hiệu quả
của hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia và hội nhập quốc tế./.
IV. Tổ chức thực hiện
1. Nghiên cứu xây dựng văn
bản hướng dẫn thực hiện
1.1. Ba Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, Bộ Khoa học và công nghệ và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã
thống nhất trong Quý IV/2009 trình Chính phủ 4 Nghị định sau:
- Nghị định quy định chi tiết và
hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở
hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan;
- Nghị định quy định chi tiết và
hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở
hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;
- Nghị định quy định chi tiết và
hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở
hữu trí tuệ về giống cây trồng;
Nghị định quy định chi tiết và
hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở
hữu trí tuệ đối với các quy định chung cho 3 đối tượng sở hữu trí tuệ.
1.2. Theo thẩm quyền của mình,
các Bộ có thể có các thông tư, hoặc thông tư liên tịch hướng dẫn những vấn đề
cụ thể do Chính phủ giao, hoặc có nhu cầu từ thực tiễn. Riêng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch đã có kế hoạch phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên
cứu xây dựng thông tư liên tịch về trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ
internet.
2. Về tuyên truyền, phổ
biến pháp luật
2.1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch có kế hoạch ban hành kèm theo quyết định số 2651/QĐ-BVHTTDL ngày 30/7/2009
về việc tổ chức giới thiệu Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí
tuệ. Theo đó, có 6 chương trình được tổ chức cho các đối tượng khác nhau từ
giới báo chí, đến các đối tượng của cơ quan quản lý văn hóa, thể thao và duc
lịch ở Trung ương và địa phương, các cơ quan thực thi trên phạm vi cả nước.
2.2. Website “Quyền tác giả Việt
Nam” truyền phát toàn bộ hệ thống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quốc tế, trong
đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; các hoạt động
liên quan đến việc triển khai thi hành, kiểm tra xử lý vi phạm.
2.3. Tổ chức Hội nghị triển khai
Nghị định Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Luật Sở hữu trí
tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, sau khi Chính
phủ ban hành (Quý I/2010).
2.4. Tổ chức các hội thảo quốc
tế, quốc gia:
- Tổ chức Hội thảo quốc tế khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương với sự phối hợp của WIPO và Cục Bản quyền tác giả
về quyền tác giả trong công nghệ thông tin – truyền thông vào các ngày 29, 30,
31/7/2009.
- Tổ chức Hội thảo về truyền
hình trả tiền với sự phối hợp giữa Cục Bản quyền tác giả với CASABAA (dự kiến
trong năm 2009)
- Tổ chức Hội thảo về thu tiền
đền bù từ các thiết bị ghi và vật ghi, trong đó có đĩa quang, với sự phối hợp
giữa Cục Bản quyền tác giả và Viện Sở hữu trí tuệ của Liên bang Thụy Sĩ (tháng 10/2009).
2.5. Tổ chức hội nghị tổng kết 1
năm thi hành Chỉ thị 36 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và thực
thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan (Quý I/2010).
CỤC BẢN QUYỀN TÁC GIẢ
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
Tel: 04-39916057 Fax: 04-39916058
Số điện thoại TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ: 0986 11 66 05 & 043- 9916057
Email: contact@sunlaw.com.vn
Website: www.sunlaw.com.vn &
www.lawdata.com.vn