Góp ý dự thảo luật thuế thu nhập cá nhân
Mới đây, Quốc hội đã đưa dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân để thay thế Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, như vậy là toàn dân có thể tham gia đóng góp ý kiến. Đây là một trong những Luật quan trọng, sẽ là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của người dân.
Cho nên cần phải
có những ý kiến đóng góp từ nhiều phía để làm sao cân bằng được lợi ích giữa
các tầng lớp dân cư trong xã hội, đảm bảo quyền lợi cơ bản của mỗi người và
công bằng xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân đánh vào thu
nhập của riêng cá nhân nhằm mục đích trích một phần tài sản của mỗi cá nhân để
phục vụ các lợi ích chung của xã hội. Với quan điểm người nào thu được càng
nhiều của cải từ xã hội thì người đó càng phải trích nhiều của cải để phục vụ
lại xã hội, do đó thu nhập càng cao thì
thuế phải nộp càng nhiều.
Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập cá
nhân phải đứng trên tư duy nuôi dưỡng nguồn thu, phục vụ lợi ích cho người dân,
tránh đánh thuế trùng, vì luật thuế thu nhập cá nhân là luật thuế được ban hành
sau các luật thuế đánh vào thu nhập như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật
thuế giá trị gia tăng. Do vậy cần rà soát tất cả các quy định có thể gây trùng
thu, đảm bảo tính đồng bộ của thuế thu nhập cá nhân với các luật thuế đã ban
hành.
1. Điều cơ bản là phải nuôi dưỡng
nguồn thu
|
Mô hình thuế thu nhập của Hồng Kông
Theo bài “Hongkong Excellent Taxes” của chuyên gia nghiên cứu về thuế
Alan Reynolds đăng ngày 2-5-2005 trên trang web của Học viện Cato N. W.
Washington D.C., thuế thu nhập ở Hồng Kông được xây dựng theo tinh thần thuế
suất đồng loạt như sau:
Có hai loại thuế thu nhập cho người đóng thuế lựa chọn:
1. Thuế thu nhập theo mức thu: Thu nhập được chia ra làm 4 nấc (4 mức thu) với các thuế suất 2%, 8%,
14% và 20%. Chấp nhận loại thuế này, người đóng thuế có thể trích giảm những
khoản chi cho từ thiện tối đa là 25% thu nhập để tính thuế, hoặc trích giảm
tối đa cả năm là 13.000 đô la Mỹ trong thu nhập để tính thuế nếu phải chi trả
tiền mua nhà, mua xe hơi (dưới dạng trả góp, trả dần). Ngoài ra người đóng
thuế được tính những khoản trích giảm khác từ thu nhập để tính thuế - ví dụ
như chi cho học tập của bản thân, nuôi người già là người thân thuộc, tiền
bảo hiểm cho về hưu.
2. Thuế thu nhập theo thuế suất chuẩn (standard rate): 16% thu nhập, không có khoản trích giảm
nào để tính thuế. Nói chung những người có thu nhập cao thường chọn loại thuế
này.
Thuế suất đồng loạt 17,5%, đánh vào lãi của các công ty, 16% đánh vào
lãi của các hộ kinh doanh cá thể (coi đây là thuế thu nhập cá nhân), thuế
suất đồng loạt 16% đánh vào bất động sản.
Hồng Kông không có thuế giá trị gia tăng, không có thuế nhập khẩu.
Thu nhập của cổ đông từ lợi tức cổ phần không đưa vào thu nhập cá nhân để
tính thuế, vì đã đánh vào lãi của công ty 17,5% (trong khi đó thuế đánh vào
lãi của hộ kinh doanh cá thể là 16%).
Reynolds khuyên nước Mỹ nên học Hồng Kông cách tính thuế
|
Trên tinh thần nuôi dưỡng nguồn thu,
chúng ta phải tính mức thuế suất sao cho hợp lý nhất đối với thu nhập của người
dân. Với mức thuế suất như trong dự thảo thì có thể nói Việt Nam đang thực hiện chính sách tận
thu, mà hậu quả của nó là có thể làm kiệt quệ nguồn đóng góp cho ngân sách nhà
nước. Để thực hiện chính sách nuôi dưỡng nguồn thu, chúng ta cần phải rà soát lại
mức thuế suất không chỉ của Luật thuế thu nhập cá nhân mà còn cả các loại thuế
khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu giá trị gia tăng, thuế xuất nhập
khẩu… sao cho đảm bảo một mức thuế hợp lý trên bình diện toàn xã hội, tránh tình
trạng mức thuế suất của loại thuế nào cũng cao. Một câu hỏi được đặt ra là khi đã
đánh thuế thu nhập cá nhân thì có nên đánh thuế giá trị gia tăng nữa hay không?
Và khi đã đánh thuế thu nhập cá nhân rồi thì có nên tính đến việc giảm thuế thu
nhập doanh nghiệp hay không? Bởi vì suy cho cùng thì thuế là đánh vào thu nhập
của toàn xã hội để nuôi nhà nước, xây dựng đất nước và mang lại phúc lợi cho xã
hội. Ở Việt Nam trước đây chưa có thuế thu nhập cá nhân nên đánh thuế thu nhập
doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng ở mức cao (28% và 10%) cũng có thể tạm
coi là hợp lý, nhưng khi đã ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân thì nhà nước cũng
nên tính lại mức thuế suất sao cho hợp lý đối với người dân. Nếu cứ để các mức
thuế suất cao như hiện nay thì có thể làm kiệt quệ nguồn thu, tạo ra nguy cơ xã
hội không năng động, hạn chế đầu tư.
2. Đánh thuế theo tổng thu nhập
thực chứ không nên đánh thuế theo khoản thu nhập
Dựa trên tư duy nuôi dưỡng nguồn thu
để khuyến khích toàn xã hội kinh doanh là nguyên tắc căn bản của Luật thuế thu
nhập cá nhân, chúng tôi cho rằng căn cứ tính thuế công bằng, khoa học và hợp lý
nhất hiện nay chính là thu nhập thực tế của riêng cá nhân trong kỳ tính thuế.
Thu nhập này là tổng tất cả các khoản thu nhập riêng lẻ có nguồn gốc khác nhau.
Đánh thuế thu nhập cá nhân là đánh vào tổng thu nhập chứ không phải đánh vào
từng khoản thu nhập.
Việc trong dự thảo Luật phân chia
nguồn thu nhập thành nguồn thu nhập chịu thuế (Điều 4) và nguồn thu nhập
không chịu thuế (Điều 5) sẽ làm xuất hiện nguy cơ trốn thuế mà cơ quan
thuế không kiểm soát được. Bởi vì có một điều chắc chắn rằng trong xã hội không
chỉ có những nguồn thu nhập được liệt kê trong dự thảo mà còn có nhiều nguồn
thu nhập khác nữa; đấy là chưa tính đến có những nguồn thu nhập mới sẽ xuất
hiện cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội. Không biết rằng pháp luật sẽ
xử lý như thế nào đối với những nguồn thu nhập chưa có trong dự thảo? Không lẽ
chúng ta phải sửa đổi luật mỗi khi xuất hiện nguồn thu nhập mới hoặc phát hiện
ra là đã bỏ sót nguồn thu nhập nào đó?
Tuy nhiên việc quản lý thu nhập thực
của cá nhân vẫn đang gặp khó khăn vì nước ta tiêu tiền mặt, đang ở trong tình
trạng kinh tế mặt tiền và tiền mặt. Nhưng dù sao cũng cần nghiên cứu cho tương
lai gần!
Điều 8 của Dự thảo quy định
về kỳ tính thuế đã phân chia kỳ tính thuế thành 3 loại, trong đó mỗi loại được
áp dụng đối với một số nguồn thu nhập cụ thể:
·
Kỳ tính
thuế theo năm dương lịch áp dụng đối với thu nhập từ sản xuất, kinh doanh; thu
nhập từ tiền lương, tiền công.
·
Kỳ tính
thuế theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với thu nhập từ đầu tư vốn;
thu nhập từ chuyển nhượng vốn, trừ thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; thu
nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng xổ số, trúng
thưởng trong các hình thức khuyến mại, trò chơi có thưởng; thu nhập từ tiền bản
quyền, nhượng quyền thương mại, chuyển giao công nghệ; thu nhập từ nhận thừa
kế, quà tặng.
·
Kỳ tính
thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán được áp dụng theo quy định
của Chính phủ.
Việc phân chia kỳ tính thuế như trên
sẽ dẫn đến hệ quả là người dân phải nộp thuế theo khoản thu nhập riêng lẻ chứ
không phải theo tổng thu nhập thực tế. Đây chính là một sự không công bằng bởi
vì có những khoản thu nhập có giá trị âm như lãi suất chứng khoán, doanh thu
trong hoạt động kinh doanh. Rõ ràng là người dân đã phải chịu thiệt thòi. Tổng
thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế của họ bằng không, thậm chí có thể âm
nhưng có thể họ vẫn phải nộp thuế chỉ vì có khoản thu nhập tính thuế nào đó của
họ mang lại giá trị dương.
Một vấn đề nữa là việc quyết toán
thuế thu nhập cá nhân theo từng kỳ tính thuế khác nhau sẽ gây ra sự phiền hà
cho người dân. Cứ mỗi khi có khoản thu nhập phát sinh thì người dân lại “lóc
cóc” đến cơ quan thuế để kê khai nộp thuế. Như vậy cơ quan thuế đã “nhường”
phần bất lợi cho người dân còn mình thì nhận lấy phần thuận lợi. Đáng ra, nếu
có một kỳ tính thuế chung thì mỗi kỳ tính thuế người dân chỉ phải đến cơ quan
thuế một lần, nhưng cứ theo quy định trong dự thảo thì cứ có thu nhập phát sinh
thì người dân phải đến nộp thuế. Nên chăng để người dân tự đăng ký kỳ nộp thuế.
Đối với cá nhân kinh doanh thì đăng ký theo năm. Đối với người khác thì có thể
theo kỳ mà người dân thấy thuận lợi nhất.
Rõ ràng việc đánh thuế thu nhập căn
cứ vào nguồn thu nhập và việc không có một kỳ tính thuế chung tất yếu dẫn đến
sự không công bằng và không hợp lý trong việc đánh thuế thu nhập cá nhân. Và để
khắc phục nhược điểm này cần phải thống nhất quan điểm rằng: tổng thu nhập thực
trong kỳ tính thuế chính là căn cứ duy nhất để tính thuế thu nhập cá nhân và
không nên chia kỳ tính thuế thành nhiều loại như trong dự thảo mà phải có một
kỳ tính thuế chung. Kiểm soát tốt thu nhập thực tế của cá nhân chính là cơ sở
cốt yếu để thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân một cách công bằng và hiệu quả.
Chúng ta không nên chỉ vì không kiểm soát được thu nhập thực tế mà quay sang
kiểm soát nguồn thu nhập rồi từ đó đánh thuế theo khoản thu nhập riêng lẻ. Bởi
vì chính việc này sẽ làm cho Luật thuế thu nhập cá nhân có nguy cơ trở thành
một Luật không công bằng cho người dân.
3. Việc đánh thuế thu nhập cá
nhân đối với tài sản chung: đôi điều cần bàn.
Thuế thu nhập cá nhân là thuế đánh
vào thu nhập riêng của cá nhân, do đó Luật cần làm rõ như thế nào là thu nhập
riêng của cá nhân. Trong Dự thảo quy định cá nhân kinh doanh cũng là đối tượng
phải chịu thuế thu nhập cá nhân (Khoản 5 Điều 11) và khái niệm cá nhân kinh
doanh được quy định tại Khoản 2 Điều 3 Dự thảo: “Cá nhân kinh doanh là chủ thể của hoạt động sản xuất kinh doanh bao
gồm: (i) cá nhân hoạt động sản xuất,
kinh doanh, cá nhân hành nghề độc lập; (ii) chủ hộ sản xuất kinh doanh cá thể; (iii) thành viên của nhóm sản xuất, kinh doanh, tổ hợp tác”
Theo chúng tôi thu nhập của hộ sản
xuất, kinh doanh cá thể là thu nhập chung của cả hộ, không phải thu
nhập riêng chủ hộ. Dự thảo quy định chủ hộ sản xuất, kinh doanh cá thể là
đối tượng phải nộp thuế thu nhập cá nhân thì không hiểu họ phải chịu thuế đối
với thu nhập của cả hộ hay chỉ chịu thuế đối với phần thu nhập của riêng mình?
Đối với vấn đề này chúng ta nhất thiết phải làm rõ đâu là thu nhập của hộ, đâu
là thu nhập của chủ hộ và các thành viên khác? Cần phải nhận thức rõ ràng rằng:
chỉ khi nào thu nhập của hộ được chia
cho chủ hộ và các thành viên khác (tức là thu nhập chung chuyển thành thu nhập
riêng) thì lúc đó mới đánh thuế thu nhập cá nhân. Chẳng có gì vô lý bằng việc
đánh thuế thu nhập cá nhân vào thu nhập chung của hộ gia đình. Có lẽ tư duy về
sở hữu tài sản cần được quy định rõ ràng hơn.
Đối với thu nhập của tổ hợp tác
chúng ta cũng phải nhận thức rằng đó là thu nhập chung của cả tổ hợp tác chứ
không phải là thu nhập riêng của bất cứ thành viên nào cả, vì vậy chúng ta cũng
không thể đánh thuế thu nhập cá nhân. Nhưng điều đó không có nghĩa là các thành
viên của tổ hợp tác sẽ trốn được thuế thu nhập cá nhân. Vướng mắc ở đây chỉ là
vấn đề thời điểm phát sinh thuế thu nhập cá nhân mà thôi. Vậy cứ khi nào thu
nhập chung của tổ hợp tác biến thành thu nhập riêng của thành viên thì ta đánh
thuế thu nhập cá nhân. Cho nên như đã nói ở trên, việc kiểm soát thu nhập thực
của riêng cá nhân là vấn đề sống còn của Luật thuế thu nhập cá nhân.
Ví
dụ: Một hộ gia đình sở hữu một xe ô tô chở khách tuyến Nam Định – Hà Nội, họ
không thành lập doanh nghiệp, không thuê người ngoài, chồng lái xe, vợ thu
tiền, con trai thì phụ xe. Sau khi trừ chi phí, thu nhập trung bình hàng tháng
của họ là 20 triệu. Trong trường hợp này nếu bắt chủ hộ đóng thuế thu nhập cá
nhân thì không hợp lý bởi vì tài sản chung của gia đình sao lại phải chịu thuế
thu nhập cá nhân?
4. Đối với chủ doanh nghiệp tư nhân
nên đánh thuế thu nhập cá nhân hay thu nhập doanh nghiệp, không nên đánh trùng
Dự thảo luật đánh thuế chủ hộ sản
xuất, kinh doanh cá thể, thành viên tổ hợp tác nhưng lại không đánh thuế chủ
doanh nghiệp tư nhân trong khi doanh thu của doanh nghiệp tư nhân đồng nhất với
thu nhập của chủ doanh nghiệp. Hơn nữa, như chúng ta biết, chủ hộ kinh doanh cá
thể, thành viên tổ hợp tác và chủ doanh nghiệp tư nhân đều phải chịu trách
nhiệm vô hạn về nghĩa vụ tài sản đối với việc kinh doanh của họ. Do vậy, không
còn gì vô lý hơn khi chủ hộ kinh doanh cá thể, thành viên tổ hợp tác là đối
tượng của Luật thuế thu nhập cá nhân còn chủ doanh nghiệp tư nhân lại là đối
tượng của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Xét về bản chất pháp lý thì cần phải
áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, không nên
áp dụng Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với họ như hiện nay.
5. Cần làm rõ hơn khái niệm người
phụ thuộc
Một vấn đề nữa cần
phải nói tới là khái niệm “người phụ thuộc”. Khái niệm “người phụ thuộc” được
quy định tại Khoản 6 Điều 3 như sau: “Người phụ thuộc là người mà đối tượng nộp thuế có nghĩa
vụ phải nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định của pháp luật”
Khái niệm người phụ thuộc như trên sẽ làm
nảy sinh nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến tình trạng người nộp thuế có thể lợi
dụng sơ hở này để trốn thuế và cơ quan thuế lợi dụng để gây khó khăn cho người
dân. Có nhiều câu hỏi ở đây được đặt ra; ví dụ như: Sinh viên học xa nhà sống
dựa vào bố mẹ thì có được coi là người phụ thuộc không? Người đến tuổi lao động,
có sức khoẻ lao động nhưng không có việc làm thì có được coi là người phụ thuộc
không? Người ở nhà nội trợ thì có được coi là người phụ thuộc không? Người già
hết tuổi lao động nhưng không có lương hưu hay trợ cấp thất nghiệp thì có phải
là người phụ thuộc không? Người tàn tật trong độ tuổi lao động thì có được coi
là người phụ thuộc không? Thương bệnh binh hạng nặng không thể lao động được thì
có được coi là người phụ thuộc không?.... Tóm lại, dự thảo luật cần bổ sung,
làm rõ như thế nào là người phụ thuộc, người phụ thuộc có đặc điểm gì để nhận
dạng? Cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận người phụ thuộc để miễn trừ gia cảnh?
6. Cần tạo thuận lợi cho việc tính thuế thu nhập đối với thu nhập của vợ
chồng.
Về thu nhập của vợ và chồng chúng ta nên quan niệm thu nhập của vợ chồng có
thể được bù trừ cho nhau để đảm bảo mức thuế có lợi nhất cho gia đình họ.
Nếu vợ và chồng, một người có thu nhập cao và một người có thu nhập thấp
hoặc chỉ có một người đi làm, một người ở nhà nội trợ thì ta phải tính tổng thu
nhập của họ sau đó giảm trừ gia cảnh mà hai người được hưởng rồi mới tính thuế
thu nhập của cả hai người. Trường hợp tổng thu nhập của cả hai vợ chồng thấp
hơn mức giảm trừ của cả hai người cộng lại thì không phải đóng thuế thu nhập.
Trường hợp tổng thu nhập của hai vợ chồng cao hơn mức giảm trừ của cả hai người
thì phải đóng thuế thu nhập nhưng họ được đóng theo phương thức có lợi nhất cho
họ.
Ở đây chúng tôi xin dẫn chứng một vài ví dụ cụ thể như sau:
Ví dụ 1: Chồng có thu nhập 7 triệu,
vợ có thu nhập 1 triệu thì không phải đóng thuế vì tiền giảm trừ gia cảnh của
hai người ít nhất cũng đã là 8 triệu.
Ví dụ 2: Chồng có thu nhập tính thuế
là 6 triệu, mức thuế 10%, chịu thuế 600 nghìn; vợ có thu nhập tính thuế là 2
triệu, mức thuế 5%, chịu thuế 100 nghìn. Tổng thuế thu nhập phải chịu là 700
nghìn. Chúng ta có thể cho họ một sự lựa chọn khác như sau: vợ chồng có thể bù
trừ mức thu nhập tính thuế cho nhau sao cho có lợi nhất. Tổng thu nhập tính
thuế của vợ chồng là 8 triệu, trong đó chồng sẽ chịu thuế 200 nghìn, mức thuế
5%, ứng với 4 triệu, vợ cũng chịu thuế 200 nghìn, mức thuế 5%, ứng với 4 triệu;
tổng thuế phải chịu của hai người lúc này chỉ là 400 nghìn thay vì mức 700
nghìn.
Tóm lại để Luật thuế thu nhập cá
nhân công bằng và được thực thi một cách có hiệu quả, chúng ta cần quán triệt
một số quan điểm sau:
1.
Căn cứ tính thuế chỉ có thể là thu nhập thực của cá
nhân chứ không phải là nguồn thu nhập của cá nhân. Cho nên cần phải kiểm soát
thu nhập thực chứ không kiểm soát nguồn thu nhập, bởi tính thuế dựa vào nguồn
thu nhập tức là đánh thuế theo khoản thu nhập. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng
bất bình đẳng và không triệt để.
2.
Thuế thu nhập cá nhân là thuế đánh vào thu nhập riêng
của cá nhân. Cho nên cần phải tách bạch rõ đâu là thu nhập của riêng cá nhân và
đâu là thu nhập không phải của riêng cá nhân. Đối với doanh nghiệp tư nhân cần
phải đánh thuế thu nhập cá nhân chứ không phải đánh thuế thu nhập doanh nghiệp
vì doanh thu của doanh nghiệp cũng chính là thu nhập của cá nhân chủ doanh
nghiệp.
3.
Đối với tài sản vô hình chưa đánh thuế vội mà phải chờ
khi nào tài sản vô hình chuyển đối thành tài sản hữu hình thì mới đánh thuế.
Bởi vì tài sản vô hình tuy có giá trị nhưng không phải lúc nào cũng tồn tại ở
dạng “thực”.
4.
Cần phải làm rõ hơn khái niệm “người phụ thuộc” để
tránh tình trạng hiểu không thống nhất.
5.
Để bảo hộ gia đình cần tính thuế một cách hợp lý đối
với thu nhập của những người có quan hệ gia đình;
6.
Nghiên cứu lại mức thuế suất của các sắc thuế để tìm ra
một thuế suất hợp lý. Chúng tôi cho rằng thuế suất của Việt Nam nói chung
là quá cao.
Trên đây là một số đóng góp vào dự
thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân. Hy vọng nó có tác dụng cho sự nghiên cứu chính
sách thuế cho phù hợp.
Luật gia Cao Bá Khoát
Giám đốc công ty TNHH
Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------