Góp ý sửa đổi luật sở hữu trí tuệ
Luật Sở hữu trí tuệ là một bộ luật có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh, trong phát triển kinh tế thời hội nhập. Tuy nhiên, Luật SHTT của chúng ta vẫn còn nhiều hạt sạn. Là người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực quyền SHTT, cho phép tôi tham gia vào việc góp ý sửa đổi Luật SHTT bằng cách chỉ ra những hạt sạn to nhất và cũng mới chỉ là trong những điểm then chốt nhất của lĩnh vực quyền tác giả mà thôi.
Kính gửi: ông Nguyễn Văn Thuận – Chủ tịch Ủy ban Pháp luật
của Quốc hội
Thưa ông chủ tịch,
Luật Sở hữu trí tuệ là một bộ luật có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động
kinh doanh, trong phát triển kinh tế thời hội nhập. Tuy nhiên, Luật SHTT của
chúng ta vẫn còn nhiều hạt sạn. Là người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực quyền
SHTT, cho phép tôi tham gia vào việc góp ý sửa đổi Luật SHTT bằng cách chỉ ra
những hạt sạn to nhất và cũng mới chỉ là trong những điểm then chốt nhất của
lĩnh vực quyền tác giả mà thôi.
I. Phát sinh quyền tác giả:
Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm ra đời mà không cần đơn yêu cầu
công nhận, không phải trải qua bất kỳ thẩm định nào của cơ quan công quyền,
không cần một thủ tục đăng ký nào (trừ ngoại lệ tại Hoa kỳ). Do nó phát sinh dễ
dàng và không được thẩm định trước nên khi có tranh chấp hay vi phạm quyền tác
giả, thì công việc đầu tiên của tòa án luôn luôn là xác định có hay không có
quyền tác giả đối với sản phẩm là đối tượng tranh chấp, nghĩa là phải xác định
sản phẩm đó có phải là một tác phẩm thỏa mãn các điều kiện của luật quyền tác
giả để tác giả được hưởng quyền tác giả hay không. Các điều kiện này gồm hai
nhóm:
a) Nhóm các điều kiện liên quan đến tác phẩm:
- Sản phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học.
- Kết quả hoạt động tinh thần có tính sáng tạo.
b) Nhóm các điều kiện liên quan đến tác giả:
- Pháp nhân tự nhiên: con người.
- Dấu ấn cá nhân của tác giả thể hiện trong tác phẩm.
Khái niệm tác phẩm và cùng với nó là định nghĩa tác phẩm vì vậy giữ một vai
trò then chốt trong xây dựng và thực thi luật quyền tác giả.
1. Định nghĩa Tác phẩm
Hiệp định TRIPS không định nghĩa thế nào là một tác phẩm. Theo điều 9 khoản
1, các nước thành viên TRIPS có nghĩa vụ tuân thủ từ điều 1 đến điều 21 Công
ước Berne (1971). Như vậy, dường như tác
phẩm-theo tiêu chuẩn của TRIPS- được định nghĩa theo điều 2, khoản 1 của Công
ước này. Tuy nhiên, cách dùng từ trong điều 2 Công ước Berne đã gây ra sự nhầm
lẫn rất đáng tiếc khiến một số nước ĐPT- trong đó có Việt nam trước khi có Luật
Sở Hữu Trí Tuệ năm 2005 – coi đây chính là định nghĩa thế nào là một tác phẩm.
Thực chất, điều 2 chỉ qui định những loại hình tác phẩm thuộc các lĩnh vực nào
sẽ được bảo hộ quyền tác giả, chứ không định nghĩa thế nào là một tác phẩm theo
ý nghĩa của luật quyền tác giả:
“Điều 2. (1) Công ước Berne: “Tác phẩm văn học và Nghệ thuật” bao gồm
toàn bộ các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật mà không
phụ thuộc vào cách thức và hình thức thể hiện như: sách,…. và các tác phẩm chữ
viết khác; các bài thuyết trình, diễn thuyết, diễn văn và các tác phẩm cùng
loại; các tác phẩm âm nhạc, kịch, nhạc kịch……”
Sở dĩ Công ước Berne không nêu định nghĩa thế nào là một tác phẩm mà coi nó
như một điều hiển nhiên khi viết “ Tác phẩm văn học và nghệ thuật bao gồm…”
và chỉ nêu các loại hình tác phẩm được bảo hộ, vì các nước thành viên sáng
lập khi ký kết Công ước này đều đã có một định nghĩa tác phẩm về cơ bản là
giống nhau trong hệ thống luật quốc gia. Nhắc lại điều như vậy trong một công
ước quốc tế là không cần thiết và có thể gây ra những trở ngại không đáng có
khi buộc các nước thành viên phải sửa đổi một số khác biệt không quan trọng
trong định nghĩa của mình để nó phù hợp hoàn toàn với định nghĩa chính thức
(nếu có) của Công ước.
Nhưng chính điều này lại gây ra hậu qủa nghiêm trọng đối với một số nước ĐPT
là thành viên mới của WTO khi họ chỉ mới bắt đầu qúa trình xây dựng và thực thi
quyền tác gỉa, vì hiểu nhầm rằng điều 2, khoản 1 Công ước Berne là định nghĩa
tác phẩm. Ngay cả bản dự thảo cuối cùng về Luật SHTT của ta (dự thảo đã được
chỉnh lý theo ý kiến của các vị đại biểu quốc hội, khóa XI, kỳ họp thứ 8 ) tại
điều 4, khoản 6 cũng vẫn còn định nghĩa giống qui định tại điều 2, khoản 1 Công
ước Berne:
“ Tác phẩm là các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và
khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương thức hay hình thức nào”.
Mặc dù bất kỳ một sản phẩm nào trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa
học thể hiện dưới bất kỳ phương thức hay hình thức nào cũng có thể được coi là
một tác phẩm. Nhưng một tác phẩm theo mục đích và ý nghĩa của luật quyền tác
gỉa- và vì vậy tác giả của nó mới được hưởng bảo hộ quyền tác giả- thì không
thể là một tác phẩm bất kỳ như thế được. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, nếu
một tác phẩm bất kỳ nào cũng là đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác gỉa,
thì ai trong chúng ta cũng được hưởng độc quyền khai thác nội dung các cuộc
trao đổi miệng thường ngày, các buổi nói chuyện phiếm, các loại thư từ, văn bản
giao dịch cá nhân hay kinh doanh thông thường, các bài báo có tính thông tin
thường ngày, thông báo vụ việc, thậm chí cả câu chửi thề, bài mắng chửi nhau
ngoài chợ v…v. Ai muốn sử dụng hay phổ biến chúng đều phải xin phép mỗi ngừơi
khác. Như thế hoạt động thường ngày của xã hội sẽ phải bị ngừng trệ vì chờ
chúng ta xin phép lẫn nhau. Ngoài ra, việc khuyến khích bằng lợi ích kinh tế thông
qua bảo hộ quyền tác giả cho tác giả các tác phẩm bất kỳ như thế cũng không cần
thiết.
Luật quyền tác giả vì vậy không thể không có điều khoản định nghĩa chính
thức thế nào là một tác phẩm nằm trong sự điều chỉnh của nó. Định nghĩa như
trên của Dự thảo mới chỉ nêu một cách tổng quát những sản phẩm thuộc lĩnh vực
nào sẽ được Luật quyền tác giả coi là một tác phẩm, nhưng rõ ràng chưa xác định
được thế nào là một tác phẩm để tác giả của nó được hưởng quyền tác giả.
Rất may là ban soạn thảo năm 2005 đã tiếp thu ý kiến đóng góp và định nghĩa
tác phẩm trong dự thảo cuối cùng đã được sửa đổi. Luật SHTT được quốc hội thông
qua ngày 29.11.2005 có tiến bộ hơn nhờ được bổ sung hai chữ “sáng tạo”. Điều 4,
khoản 7 Luật SHTT hiện hành của ta định nghĩa:
“Tác phẩm là các sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ
thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương thức hay hình thức nào.”
Điều 14 khoản 3 LSHTT bổ sung thêm:
“Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do
tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ
tác phẩm của người khác.”
Tuy vậy, đây là một định nghĩa đúng nhưng chưa đủ, chưa chính xác. Trước
hết, nó chưa nêu được điều kiện liên quan đến tác giả-trong quan hệ với tác
phẩm- là dấu ấn (đặc trưng riêng) của tác giả trong tác phẩm. Nó cũng chưa
chính xác vì không nêu ra điều kiện đủ để phân biệt sáng tạo trong tác phẩm
khác với các sáng tạo khác cũng được bảo hộ SHTT như thế nào, chẳng hạn sáng
tạo trong sáng chế, trong giải pháp hửu ích. Rõ ràng là có những sáng tạo hoàn
toàn có thể không mang dấu ấn đặc trưng của tác giả, chẳng hạn sáng tạo trong
sáng chế, giải pháp hữu ích và ngay cả trong các tác phẩm văn học nghệ thuật.
Do đó chắc chắn sẽ dẫn đến những khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Ví dụ:
- Định nghĩa tác phẩm như trong Luật SHTT hi?n hành của ta không loại trừ
việc tác giả có thể là pháp nhân phi tự nhiên như các công ty, các tổ
chức…Quyền nhân thân của các tác giả là pháp nhân phi tự nhiên sẽ dẫn đến hàng
loạt rắc rối không thể giải quyết khi áp dụng luật SHTT cho trường hợp tác giả
là công ty bị phá sản, bị sát nhập v…v.
- Một mặt, do không phân biệt sáng tạo gì, sáng tạo tinh thần hay sáng tạo
khác (một người bằng lao động trí tuệ của mình có thể
sáng tạo ra một loại vật liệu mới, nhưng hiển nhiên nó không mang dấu ấn cá
nhân của nhà sáng tạo vì : a) ai cũng có thể phát hiện ra công thức đó; b) bất
cứ ai biết công thức này đều sản xuất được vật liệu dĩ. Vì thế, công thức và
vật liệu mới này dù là sản phẩm sáng tạo bằng lao động trí tuệ trong lĩnh vực
khoa học kỹ thuật vẫn không được bảo hộ quyền tác giả); mặt khác, do không cần
phải có dấu ấn của cá nhân tác gỉa, định nghĩa Tác phẩm của ta
cho phép công nhận quyền tác giả đối với các sản phẩm sáng tạo không do con
người làm ra. Ví dụ. Bản nhạc do Computer sáng tác, các bản vẽ lạ lùng do máy
móc thực hiện v…v.
- Có những tác giả thông qua lao động trí tuệ của mình làm ra được một tác
phẩm mới chưa có ai trước đó làm. Chẳng hạn một người sáng tạo một tác phẩm âm
nhạc bằng cách để các âm thanh xuất hiện hoàn toàn ngẫu nhiên. Dù anh ta trực
tiếp sáng tạo nó bằng lao động trí tuệ của mình, tác phẩm đó vẫn không phải là
tác phẩm mà tác giả của nó được bảo hộ quyền tác giả, vì không mang bất kỳ một
dấu ấn cá nhân nào của tác giả. Tính ngẫu nhiên về trật tự xuất hiện âm thanh
sẽ luôn thay đổi và vì thế không thể lấy nó làm đặc trưng cho ai cả.
- Do công nhận tác phẩm không phụ thuộc vào bất kỳ hình thức hay phương thức
thể hiện nào, luật SHTT của ta cũng phải công nhận cả các tác phẩm mà hình
thức, cách thức thể hiện nó không cho phép con người có thể tiếp cận được. Ví
dụ: một bài thơ đã hoàn chỉnh nhưng còn nằm trong đầu và có thể viết ra bất cứ
lúc nào tác giả muốn; hoặc một bức vẽ được khắc lên màng tế bào v…v.
Vì thế, đề nghị sửa định nghĩa tác phẩm trong Luật SHTT cho đúng như sau:
“ Tác phẩm là những sản phẩm sáng tạo tinh
thần mang dấu ấn cá nhân của tác giả trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật”
2. Nên bỏ Điều 37, 38.
“Điều 37. Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả.
Tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật của mình
để sáng tạo ra tác phẩm có các quyền nhân thân qui định tại Điều 19 và các
quyền tài sản qui định tại Điều 20 của Luật này”
Đây là một qui định vi phạm nghiêm trọng tiêu chuẩn tối thiểu của TRIPS, vì
qui định như vậy có nghĩa là việc sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất,
kỹ thuật của tác giả để sáng tạo là điều kiện để tác giả được hưởng quyền tác
giả. Theo đó, một nhà thơ khó có thể được hưởng quyền nhân thân, quyền tài sản
vì anh ta không cần tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật đã có thể sáng tạo được
một bài thơ. Điều 38 Luật SHTT cũng qui định các điều kiện tương tự đối với các
đồng tác giả.
Các qui định như vậy không những là thừa mà còn gián tiếp qui định thêm các
điều kiện khác với tiêu chuẩn quốc tế cho việc công nhận một tác phẩm và qua đó
là quyền tác giả. Theo tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu, một tác phẩm- mà tác
giả được hưởng quyền tác giả- sẽ được Luật quyền tác giả công nhận bảo hộ chỉ
với một điều kiện duy nhất: nó phải là sản phẩm sáng tạo tinh thần mang dấu ấn
cá nhân. Thời gian, chi phí tài chính, công sức, nội dung đạo đức, v…v không
được phép là điều kiện công nhận quyền tác giả.
Ngoài ra, các điều 37,38 Luật SHTT hiện hành cũng vi phạm nguyên tắc không
được
hạ thấp mức độ bảo hộ quyền tác giả thấp hơn tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu của
TRIPS.
II. Chuyển quyền tác giả.
Trong phần các qui định liên quan đến chuyển quyền tác giả của Luật SHTT
hiện hành không có qui định quan trọng nhất liên quan đến chuyển quyền. Đó là qui
định về nguyên tắc cơ bản để xác định phạm vi, hình thức chuyển quyền cho
trường hợp tác giả và người nhận chuyển quyền không có thỏa thuận, hoặc thỏa
thuận không rõ ràng về việc sử dụng quyền tài sản.
1. Cần bỏ điều 45.
Theo tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu của TRIPS, cũng như Luật quyền tác giả của
tất cả các quốc gia là thành viên TRIPS, quyền tác giả là bất khả chuyển nhượng
khi tác giả còn sống. Tác giả chỉ có thể cho phép một người khác sử dụng một
hay tất cả các quyền (quyền tài sản), các hình thức sử dụng để khai thác, sử
dụng tác phẩm trong một thời hạn xác định. Như vậy, tác giả không chuyển nhượng
quyền tác giả mà chỉ chuyển- với những giới hạn xác định- quyền sử dụng một
hoặc toàn bộ các quyền dẫn ra từ quyền tác giả. Tác giả chỉ chuyển quyền sử dụng
quyền tác giả mà thôi.
Điều 45 vi phạm nghiêm trọng tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu theo qui định của
TRIPS. Vì, nó cho phép chuyển nhượng quyền tác giả. Việc Luật
SHTT hiện hành vừa có điều 45 qui định việc chuyển nhượng quyền tác giả, vừa có
điều 47 qui định việc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, chứng minh rõ ràng
rằng Luật SHTT của ta cho phép chuyển nhượng quyền tác giả.
2. Sửa lại Điều 39.
Có 02 lý do chính để phải sửa lại điều 39 hiện hành:
(1) Như đã phân tích ở trên, điều 39 cũng cho phép chuyển sở hữu quyền tác
giả cho người sử dụng lao động/người giao việc. Do đó cũng vi phạm tiêu chuẩn
tối thiểu của TRIPS. Thêm vào đó,
(2) Luật SHTT hiện hành-dù nhìn dưới bất kỳ góc độ nào- cũng không bảo vệ
đúng mức quyền lợi của tác giả là người lao động. Điều 39 LSHTT qui định người
sử dụng lao động (tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo hoặc giao kết hợp đồng với tác
giả) là chủ sở hữu quyền tài sản (Điều 20) và quyền công bố tác phẩm (Điều 19
khoản 3) là vi phạm chuẩn mực quốc tế.
Dù giả định rằng, sẽ thay đổi cụm từ “…là chủ sở hữu các quyền qui định tại
điều…“ trong điều 39 hiện nay bằng cụm từ “…là chủ sở hữu quyền sử dụng các
quyền qui định tại điều…“
Thì điều này cũng không vì thế mà không đi ngược lại nguyên tắc “chuyển
quyền theo mục đích“ của quốc tế:
Việc chuyển quyền “sử dụng“ quyền tài sản- gồm toàn bộ các quyền khai thác
sử dụng tác phẩm- theo luật định như vậy trên thực tế vừa lấy hết-một cách bất
công- quyền sử dụng toàn bộ các quyền khai thác lợi ích kinh tế đối với tác
phẩm của tác giả; vừa không khuyến khích người sử dụng lao động thỏa thuận với
tác giả là ngưới lao động, người nhận việc về các quyền sử dụng cụ thể riêng
biệt cũng như thời hạn và phạm vi khai thác tác phẩm hình thành trong quá trình
thực hiện hợp đồng lao động/giao việc. Tuy Điều 39 có “thòng” một câu “trừ
trường hợp có thỏa thuận khác” nhưng nó hầu như vô giá trị. Bởi các thỏa thuận
khác này chỉ có thể có giá trị khi tác giả ký kết chúng với người sử dụng lao
động trước khi tác phẩm ra đời mà thường là ngay trong hợp đồng lao động, hợp
đồng giao việc. Tuy nhiên vào thời điểm đó, một mặt, có lẽ có rất ít người lao
động nghĩ rằng mình sẽ trở thành tác giả và trong số rất ít người này thì số
người hiểu về quyền tác giả còn ít hơn rất nhiều nữa. Mặt khác, người sử dụng
lao động chắc chắn không quan tâm đến một hợp đồng sử dụng quyền tác giả với
người lao động nữa, khi theo điều 39, toàn bộ quyền sử dụng quyền tác giả với
tác phẩm đã hoàn toàn không còn là của người lao động nữa rồi.
Qui định chuyển toàn bộ quyền tài sản (hay đúng hơn là quyền
sử dụng quyền tài sản) theo luật định như trong Luật SHTT của ta là rất rất
hiếm gặp trên thế giới. Các nước thành viên TRIPS đều không có qui định tương
tự như vậy. Theo chuẩn mực quốc tế, xung đột quyền lợi giữa chủ lao động và tác
giả là người lao động được giải quyết như sau:
- Hai bên cần có một hợp đồng, thỏa thuận nêu cụ thể người sử dụng lao động,
người giao việc được quyền khai thác, sử dụng tác phẩm trong phạm vi, mục đích
nào. Hợp đồng này nên có hiệu lực cho cả các tác phẩm trong tương lai.
- Trường hợp không có một hợp đồng cụ thể như vậy hoặc người giao việc không
giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cụ thể, thì khi xẩy ra tranh chấp Tòa án sẽ
công nhận là đã tồn tại một sự chấp nhận- thông qua sự im lặng của người lao
động/ người nhận việc- cho phép người sử dụng lao động/ người giao việc có
quyền khai thác, sử dụng tác phẩm chỉ trong phạm vi và cách thức như mục đích,
ý nghĩa của hợp đồng lao động/giao việc và mục đích sử dụng tác phẩm mà hai bên
đã thống nhất. Quyết định của Tòa án như thế là dựa trên nguyên tắc “Chuyển
quyền theo mục đích”. Đây cũng là nguyên tắc được áp dụng phổ biến như một
chuẩn mực quốc tế hiện nay.
Ví dụ: Công ty A ký hợp đồng thuê nhà nhiếp ảnh B chụp các sản phẩm của mình
để làm sách quảng cáo. Với sự bố trí tài tình của B, mỗi bức ảnh các sản phẩm
của A là một tác phẩm nghệ thuật. Sau khi làm sách quảng cáo, A còn sử dụng các
tác phẩm này để quảng cáo trên TV, làm Logo và bán cho một số công ty khác sử
dụng. Theo điều 39 Luật SHTT hiện hành của Việt nam thì A có quyền làm như vậy,
bởi toàn bộ quyền tài sản theo điều 20 của B đã chuyển sang A. Ngược lại, theo
tiêu chuẩn quốc tế, thì A đã vi phạm quyền tài sản của B khi sử dụng các tác
phẩm của B để quảng cáo trên TV, làm Logo và bán cho các công ty khác. Vì: a)
Hợp đồng giữa A và B không nêu chi tiết A được quyền sử dụng tác phẩm của B để
làm gì và với cách thức nào?; b) Theo nguyên tắc “chuyển quyền theo mục đích“
thì A chỉ có quyền sử dụng các phẩm của B trong phạm vi mục đích và ý nghĩa của
hợp đồng giữa A và B, nghĩa là chỉ được sử dụng các bức ảnh để làm sách quảng
cáo mà thôi.
Điều 39 Luật SHTT hiện hành của ta vừa vi phạm chuẩn mực TRIPS, vừa hạn chế
rất lớn quyền và lợi ích được bảo hộ của tác giả, và vì vậy cũng vi phạm nghiêm
trọng nguyên tắc không được hạ thấp mức độ bảo hộ quyền tác giả thấp hơn tiêu
chuẩn bảo hộ tối thiểu của TRIPS.
Vì vậy, nên sửa lại như sau:
a) Nên bỏ điều 39 hiện nay và thay bằng điều 39 mới như sau:
„ Khi tác giả sáng tạo tác phẩm trong qúa trình hoàn thành trách nhiệm
và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng lao động/ giao việc, thì người sử dụng lao
động/người giao việc được quyền khai thác, sử dụng tác phẩm theo qui định tại
khoản 3, điều 47, nếu nội dung thỏa thuận giữa hai bên không có điều gì khác.“
b) Nên sửa đổi và bổ sung điều 47 như sau:
aa) Bỏ khoản 1 hiện hành và thay bằng khoản 1 mới:
“ Tác giả có thể cho phép một người khác sử dụng có thời hạn một, một số
hoặc toàn bộ các quyền qui định tại khoản 3 điều 19, điều 20, khoản 3 điều 29,
điều 30 và điều 31 Luật này dưới một, một số hoặc bất cứ hình thức nào để sử
dụng, khai thác tác phẩm (Quyền sử dụng). Quyền sử dụng có thể là độc quyền
hoặc không độc quyền.
bb) Khoản 2 mới:
“Việc cho phép sử dụng tác phẩm bằng những hình thức chưa được biết đến
là vô hiệu“
cc) Khoản 3 mới:
“Trong trường hợp việc chuyển quyền sử dụng không được thỏa thuận cụ
thể, rõ ràng, nó sẽ được xác định bởi mục đích hợp đồng/giao dịch mà các bên
liên quan giao kết. Mục đích, ý nghĩa giao kết giữa các bên cũng là cơ sở để
xác định: a) liệu có thỏa thuận chuyển quyền sử dụng hay không? Đó là quyền sử
dụng độc quyền hay không?với hình thức sử dụng nào? và b) các giới hạn của
quyền sử dụng ấy.“
dd) Các khoản 2,3,4 cũ vì vậy sẽ trở thành các khoản 4,5,6 của điều 47 mới.
Thưa ông chủ tịch,
Luật SHTT hiện hành của ta vẫn còn rất nhiều thiếu sót. Đó cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm quyền tác giả, quyền SHCN trầm
trọng hiện nay. Nếu có thể, đề nghị ông xem xét dành nhiều thời gian hơn nữa để
các chuyên gia về Luật SHTT trong và ngoài nước góp ý cụ thể hơn, chính xác
hơn, đầy đủ hơn về bộ luật quan trọng này.
Xin chân thành cảm ơn.
Tp. HCM ngày 18.05.2009
GS.TSKH LUẬT. NGUYỄN VÂN NAM