Hai mươi năm đổi mới: Một cuộc cải cách sở hữu còn dang dở
Hai mươi năm sau đổi mới, cô gái thị trường đã đến tuổi khó bảo, làm cho quan viên quản lí nhà nước nhiều phen phải phiền lòng. Khi sốt, khi đóng băng; chỉ riêng cái thị trường nhà đất đã rối bời, nói chi đến những thị trường vốn với nợ đọng khó đòi hay thị trường lao động với hàng ngàn vụ đình công bất hợp pháp và quy mô ngày càng lan rộng.
Dường như có điều gì chưa thật ổn trong mối tơ duyên giữa công quyền và quyền lực thị trường. Bài viết dưới đây góp vài thiển ý cùng nhìn
nhận lại vai trò của phi tập trung hóa quyền tài sản trong các chính sách kinh
tế ở nước ta.
Dân phú, quốc cường là lời của người xưa, mà việc thực hiện nó có lẽ cũng
chẳng đến mức quá khó. Dân chỉ ham muốn làm giàu, nếu nền công lực thật lòng
bảo vệ quyền tài sản tư của họ. Của tư phải khác của công ở chỗ việc sử dụng và
định đoạt nó có tính loại trừ; bảo vệ sở hữu tư nhân hóa ra về căn bản là bảo
vệ quyền định đoạt mang tính loại trừ của người chủ.
Hai thập kỉ đổi mới ở nước ta, theo một cách nhìn hạn hẹp, có lẽ cũng là
từng bước chấp nhận và tăng dần sự bảo hộ đối với các quyền tài sản tư nhân của
người dân. Mảnh đất nhận khoán ngày nào nay đã được giao lâu dài cho các hộ
nông dân, quyền canh tác, chuyển đổi và nhượng bán của họ đã được ghi nhận. Sau
cuộc bình thường hóa quan hệ với người Mỹ, đất đai chợt có giá, thổ cư mau
chóng biến thành vàng; quyền tư hữu đối với đất ở mau chóng được tái xác lập,
được mua, được bán, thế chấp cho tặng như ngàn xưa. Trên cái xác khô cứng của
sở hữu toàn dân, quyền tài sản tư về đất đai đã được tái xác lập lan rộng và
khó có thể đảo ngược được.
Cũng như thế, thương nhân giành lấy quyền tài sản tư đối với sản nghiệp, văn
sĩ giành lấy tác quyền và thợ thuyền hiểu nỗi cay nghiệt của hàng hóa sức lao
động. Trong cuộc cổ phần hóa, các nhóm cổ đông đa số cấu kết với người quản lí
mà trở thành ông chủ mới đích thực của công ty. Hiển hiện ở khắp nơi, quyền tài
sản tư đã trở thành một thực tế ngày càng mạnh mẽ trong một xứ sở chưa thật yêu
mến sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và chấp nhận sức kéo của mãnh lực thị
trường.
Tuy nhiên, vô số rắc rối cũng phát sinh từ sự chót nhỡ duyên do hoàn cảnh
ấy. Quan viên quản lí nhà nước chưa thể quen với quyền loại trừ của chủ tài
sản. Kìa là những chính sách úp úp mở mở "xây nhà xong mới được bán"
hay lại cho bán đất nền dự án, kìa là quyền ấn định bảng giá đất mới; chỉ có
quan viên nhà nước mới có cái quyền biến đất trồng rau muống thành đất công
nghiệp hay đất ở. Những cái quyền to lớn biến cục đất thành cục vàng ấy là gì,
nếu không phải là quyền định đoạt. Nếu quả đúng như vậy, thì sổ đỏ cấp cho đất
nông nghiệp của nông dân chẳng thể có nhiều giá trị.
Nếu xem nhà đất là quyền tài sản tư, thì chỉ có chủ nhà đất đó mới có quyền
định đoạt và sự can thiệp của quan viên nhà nước cũng phải chiều theo sức mạnh
thị trường. Căn cứ phát sinh cái quyền tài sản tư đó là thừa kế, hay do mua
bán, cấp phát tặng cho hoặc tự khẩn khai tổn tạo mà có; sổ đỏ hay hồng của cơ
quan nhà nước chỉ ghi nhận, cơ quan địa chính chỉ cung cấp dịch vụ đăng kí, chứ
không thể ban phát các quyền tài sản tư nhân đó.
Cũng như thế, ông chủ đích thực của công quỹ hiện nay chính là vô số cơ quan
nhà nước có quyền định đoạt khối tài sản đó. Điều này đúng với các doanh nghiệp
quốc hữu, mà cũng đúng với chi dùng công cộng nói chung. Khi quyền tài sản
không rõ ràng và mọi sự giám sát của công luận trở nên yếu ớt, thì cơ hội lạm
quyền của người quản lí gia tăng; sau muôn vàn kẽ hở của công mau chóng rơi vào
túi người có quyền cũng là điều dễ hiểu.
Cuộc chấn hưng kinh tế ở Việt Nam chỉ có thể được đẩy xa hơn nữa,
nếu người nước ta yêu mến sở hữu tư nhân và hết lòng bảo hộ cái giá trị giản
đơn, song thiêng liêng đó. Nó giản đơn, vì một chút của riêng tư làm người ai
chẳng muốn; nó thiêng liêng vì quyền tài sản tư là động lực ganh đua của mọi
giống người, ơn sự ganh đua khốc liệt đó mà mọi nguồn tài nguyên khan hiếm của
quốc gia được sử dụng có hiệu quả, xã hội được văn minh. Nền quan chế nước ta
phải minh định rạch ròi tài sản công và những gì có thể được xem là quyền tài
sản tư và ra sức bảo vệ cho những quyền định đoạt của chủ tài sản. Bởi thế, có
thể nói hai thập kỉ cải cách dường như mới chỉ là sự bắt đầu, còn ngổn ngang
chông gai trên con đường đi tới. Thay đổi cách nhìn nhận về sở hữu, gia tăng
bảo hộ quyền tài sản tư nhân của người dân có lẽ nên là một định hướng mà người
hoạch định chính sách nước ta quan tâm.
SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN - PGS TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trích dẫn từ:
http://www.phamduynghia.netfirms.com/2%20Caicach%20sohuu%20KTSG.htm