Hành lang pháp lý liên quan đến sáp nhập và thâu tóm ngân hàng ở Việt Nam.
Khái niệm về M&A (Mergers and Acquisitions) hiện đang được định nghĩa theo các tiêu chí khác nhau (trong các tài liệu như Mergers, Consolidation, Acquitions, Leverged Buyouts, Takeovers (friendly/hostile), Management Buyouts, Share-Due, Asset-Due...) nhưng đều có nội dung về quan hệ sáp nhập, hợp nhất hoặc thâu tóm giữa các doanh nghiệp với mong muốn tìm kiếm, mở rộng thị trường, nâng cao quy mô doanh nghiệp
1. Khái quát chung về sáp nhập và thâu tóm doanh nghiệp (M&A)
1.1. Một số khía cạnh liên quan đến khái niệm M&A và M&A ngân hàng
Khái niệm về M&A (Mergers and Acquisitions) hiện đang được định nghĩa theo
các tiêu chí khác nhau (trong các tài liệu như Mergers, Consolidation,
Acquitions, Leverged Buyouts, Takeovers (friendly/hostile), Management Buyouts,
Share-Due, Asset-Due...) nhưng đều có nội dung về quan hệ sáp nhập, hợp nhất
hoặc thâu tóm giữa các doanh nghiệp với mong muốn tìm kiếm, mở rộng thị trường,
nâng cao quy mô doanh nghiệp; mặt khác nó cũng góp phần “làm sạch” thị trường
đối với những doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản, hoặc những doanh nghiệp cần phải
được đầu tư về vốn/quản trị/công nghệ... từ các doanh nghiệp khác. Hơn nữa,
cũng như quy luật của sự phát triển, các doanh nghiệp không chỉ chọn giải pháp
phát triển “tự sinh” thông qua việc tự thành lập các doanh nghiệp trực thuộc mà
còn thông qua các biện pháp phát triển “ngoại sinh” với việc sáp nhập, thâu tóm
doanh nghiệp khác. Có thể tóm lược cấu trúc của các giao dịch M&A qua một
sơ đồ cơ bản sau: (Hình 1)
Trên thực tế, còn có cách phân chia M&A theo các tiêu chí khác nhau, như:
(i) dựa vào pháp luật về cạnh tranh, tập trung kinh tế để độc chiếm thị trường
với một tỷ lệ độc chiếm thị trường liên quan hợp pháp theo quy định của pháp
luật về cạnh tranh, tập trung kinh tế. Trong tiêu chí này có: (a) hợp nhất/sáp
nhập theo chiều ngang (Horizontal Mergers), theo đó, giữa hai doanh nghiệp kinh
doanh cùng cạnh tranh trực tiếp, chia sẻ cùng dòng sản phẩm, cùng thị trường
hợp nhất/sáp nhập với nhau. Kết quả từ việc M&A theo hình thức này sẽ mang
lại cho bên hợp nhất/bên sáp nhập cơ hội mở rộng thị trường, tăng hiệu quả
trong việc kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả hệ thống
phân phối; (b) hợp nhất/sáp nhập theo chiều dọc (Vertical Mergers), theo đó,
giữa hai doanh nghiệp nằm trên cùng một chuỗi giá trị, dẫn tới sự mở rộng về
phía trước hoặc phía sau của doanh nghiệp hợp nhất trên một chuỗi giá trị đó.
Hình thức hợp nhất này được chia thành hai nhóm nhỏ: hợp nhất tiến (forward),
trường hợp này xảy ra khi một doanh nghiệp mua lại doanh nghiệp khách hàng của
mình, ví dụ doanh nghiệp may mặc mua lại chuỗi cửa hàng bán lẻ quần áo; hợp
nhất lùi (backward), trường hợp này xảy ra khi một doanh nghiệp mua lại nhà
cung cấp của mình, ví dụ như doanh nghiệp sản xuất sữa mua lại doanh nghiệp bao
bì, đóng chai hoặc doanh nghiệp chăn nuôi bò sữa... Hợp nhất theo chiều dọc đem
lại cho doanh nghiệp tiến hành hợp nhất các lợi thế về đảm bảo và kiểm soát
chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống chế
nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh...; hoặc (c) hợp nhất/sáp nhập tổ
hợp (Conglomerate Mergers) với sự kết hợp cả hai hình thức trên. (ii) dựa vào
phương thức giao dịch có thể chia thành (a) góp vốn, mua cổ phần với tỷ lệ nhất
định (chi phối /không chi phối) hoặc (b) sáp nhập, hợp nhất 100%....
Cũng như các giao dịch M&A, M&A ngân hàng là phương thức hữu hiệu và là
giải pháp tốt để cải tạo và tái cấu trúc hệ thống. Mặc dù là ngành tương đối
đặc thù với nhiều yêu cầu khắt khe cho toàn hệ thống, nhất là đối với công tác
quản trị rủi ro, kiểm soát các chỉ số an toàn, bảo đảm an ninh tiền tệ và nền
kinh tế đất nước, nhưng với những lợi ích nhiều mặt của M&A mang lại như
(i) tập trung nguồn lực, mở rộng và phát triển mạng lưới nhanh chóng để nâng
cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng, (ii) cải thiện công nghệ, nâng cao
trình độ quản lý để tăng cường cạnh tranh, giảm chi phí hoạt động, (iii) đẩy
nhanh tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước; (iv) đồng thời
loại bỏ và làm sạch thị trường những ngân hàng yếu kém, hoạt động không có hiệu
quả... (v) mặt khác, M&A còn là phương thức thu hút đầu tư trực tiếp và
gián tiếp hiệu quả, thúc đẩy thị trường chứng khoán, thị trường cổ phiếu ngân
hàng phát triển... thì M&A ngân hàng cần được được nghiên cứu đầy đủ và áp
dụng một cách phù hợp với nền kinh tế và các điều kiện của Việt Nam. Có như
vậy, chúng ta vừa đáp ứng được mục tiêu bảo đảm an toàn hệ thống mà vẫn đáp ứng
được các yêu cầu, đòi hỏi của các nhà đầu tư, của chính sự vận động của thị
trường.
1.2. Thực trạng và xu hướng M&A ngân hàng tại Việt Nam
Trong thời gian vừa qua, cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính của thế giới đã
ảnh hưởng, tác động xấu đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có các định chế tài
chính, ngân hàng tưởng như không thể bị ảnh hưởng như UniCredit, AIG, Merrill
Lynch, Citi Group, JP Morgan Chase... Và tất yếu theo quy luật thị trường, hàng
loạt các vụ mua bán, sáp nhập các công ty tài chính, ngân hàng, nhất là ở Mỹ -
nơi đã có hơn 40 ngân hàng bị phá sản và hàng chục ngân hàng tự nguyện hoặc bị
mua bán và sáp nhập trong năm 2008 vừa qua1. Nền kinh tế Việt Nam trong thời
gian qua cũng đã gặp những thách thức, không những phải đối mặt với những diễn
biến khó lường của kinh tế thế giới, mà còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nội
tại: lạm phát tăng cao, thâm hụt cán cân thương mại cũng đạt mức kỷ lục (hơn
14% GDP), thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm... đã làm cho nền kinh tế
nói chung, trong đó có “hệ thống ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với những khó
khăn, thách thức chưa từng có trong hơn 20 năm đổi mới”2. Trong hệ thống ngân
hàng thương mại (NHTM), nhiều ngân hàng đã gặp khó khăn trong kinh doanh, nhất
là các ngân hàng nhỏ do phải cạnh tranh với các ngân hàng trong và ngoài nước
và phải đối mặt với việc thay đổi chính sách lãi suất, tỷ giá của Nhà nước để
kiềm chế lạm phát, khủng hoảng tài chính toàn cầu3... Ngoài ra, một yêu cầu về
tài chính đặt ra cho các ngân hàng là phải đạt được kế hoạch tăng vốn điều lệ
tối thiểu theo lộ trình được quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính
phủ về Danh mục vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, theo đó, đến ngày
31/12/2008, vốn điều lệ tối thiểu của các NHTM cổ phần phải là 1.000 tỉ đồng,
ngày 31/12/2010 phải là 3.000 tỷ đồng. Đối với các ngân hàng đã có bề dày hoạt
động, vốn lớn thì điều này không gặp khó khăn, nhưng đối với một số ngân hàng
nhỏ thì đây thực sự là những khó khăn, nhất là trong giai đoạn thị trường chứng
khoán kém hấp dẫn, các đợt IPO, phát hành bổ sung, tăng vốn... không thu hút
được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư như cách đây hai năm.
Do đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Việt Nam (NHVN), các giải pháp
đưa ra là phải (i) kêu gọi các nhà đầu tư, nhà đầu tư chiến lược (trong và
ngoài nước) tiếp tục đầu tư, góp vốn, mua cổ phần tại các NHTM để trở thành các
cổ đông chiến lược của các ngân hàng, qua đó tăng thêm sức mạnh về vốn, hỗ trợ
nghiệp vụ, kinh nghiệm quản trị, quản lý... cho các ngân hàng (ii) cho phép mua
lại, hợp nhất, sáp nhập các ngân hàng nói chung, nhất là các ngân hàng nhỏ để
tạo sức cạnh tranh, gia tăng thị phần, qua đó có thể hình thành các ngân hàng
lớn, thậm chí là các tập đoàn tài chính - ngân hàng Việt Nam đủ sức cạnh tranh
trên thị trường trong nước và khu vực (các hoạt động này gọi chung là M&A
trong lĩnh vực ngân hàng). Trong thời gian vừa qua, nhất là trong những tháng
cuối năm 2008, vấn đề M&A ngân hàng đã được nhiều báo chí đề cập4, các Bản
nghiên cứu theo đơn đặt hàng của Nhà nước cũng đã đưa ra đề xuất sáp nhập các
ngân hàng nhỏ, các ngân hàng hoạt động yếu kém. Nhà nước phải có giải pháp “xây
dựng kế hoạch và cơ sở pháp lý cho hoạt động mua lại và sáp nhập giữa các ngân
hàng (bao gồm cả ngân hàng nước ngoài)”5. Vì vậy, M&A ngân hàng là một
trong những yêu cầu, đồng thời là một quy luật kinh tế tất yếu được đặt ra,
nhất là trong giai đoạn nền kinh tế thế giới và trong nước đang gặp nhiều khó khăn
như hiện nay.
2. Khung pháp lý liên quan đến việc M&A ngân hàng ở Việt Nam
2.1. Đối với pháp luật chuyên ngành
2.1.1. Đối với hoạt động đầu tư, góp vốn, mua cổ phần để trở thành cổ đông
chiến lược
Đối với nhà đầu tư chiến lược trong nước, Nhà nước cũng đã ban hành các văn bản
điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần cho nhà đầu tư trong nước đầu tư vào
thị trường Việt Nam nói chung, thị trường ngân hàng nói riêng như Luật Doanh
nghiệp năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành,
Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Quy chế
cấp giấy phép thành lập ngân hàng. Các quy định tại Quyết định số
1122/2001/QĐ-NHNN ngày 04/9/2001, Quyết định số 797/2002/QĐ-NHNN ngày 29/7/2002
và Quyết định số 20/2008/QĐ-NHNN ngày 04/7/2008 sửa đổi, bổ sung Quyết định số
1122 về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệ của NHTM trước đây đã có
hướng dẫn cụ thể chung cho hoạt động mua cổ phần tại các ngân hàng, theo đó các
tổ chức, cá nhân trong nước phải tuân thủ các quy định về điều kiện, tỷ lệ,
trình tự, thủ tục tăng vốn điều lệ của ngân hàng. Các tổ chức, trong đó có tổ
chức tín dụng phải tuân thủ các điều kiện về chế độ tài chính, kế toán, báo cáo
tài chính năm phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập thuộc danh sách
các tổ chức kiểm toán đã được Bộ Tài chính công bố đủ tiêu chuẩn kiểm toán
doanh nghiệp. Ý kiến kiểm toán đối với các báo cáo tài chính phải thể hiện sự
chấp nhận toàn bộ. Trường hợp ý kiến kiểm toán là chấp nhận có ngoại trừ thì
khoản ngoại trừ phải là không trọng yếu và phải có tài liệu giải thích hợp lý
về cơ sở cho việc ngoại trừ đó... Hiện nay, có nhiều tổ chức kinh tế, tập đoàn
lớn, trong đó có các định chế tài chính lớn như Vietcombank, BIDV, Viettel,...
cũng đã góp vốn, đầu tư để trở thành cổ đông chiến lược của một số ngân hàng
nhỏ. Mặc dù đã có hành lang pháp lý nhưng hoạt động M&A dưới hình thức này
vẫn cần phải có một hành lang pháp lý đầy đủ, đảm bảo cho hoạt động được thuận
lợi hơn. Ngoài ra, để phù hợp với những yêu cầu mới của Ngành ngân hàng và đòi
hỏi của hội nhập, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2009/NĐ-CP về tổ chức
và hoạt động của Ngân hàng Thương mại, trong đó có các quy định mới về vốn điều
lệ, chuyển nhượng cổ phần. Để chi tiết hoá các quy định này, ngày 26/02/2010,
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 06/2010/TT-NHNN hướng dẫn chi tiết
thi hành Nghị định này, theo đó tại Chương III đã quy định chi tiết về mua bán,
chuyển nhượng cổ phần, mua lại phần vốn góp của thành viên góp vốn. Ngoài các
quy định trên, việc góp vốn, mua cổ phần trước đây còn được điều chỉnh bởi các quy
định về các giới hạn về đầu tư, góp vốn của NHTM vào các NHTM và Tổ chức tín
dụng khác được thể hiện trong Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN của NHNN quy định
về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, Quyết
định số 03/2007/QĐ-NHNN, Quyết định số 34/2008/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung
Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN (Quyết định số 457). Tuy nhiên, trong thời gian
vừa qua, việc đảm bảo các tỷ lệ này, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số
13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn thay thế cho Quyết định
số 457 quy định cụ thể:
- Mức vốn góp, mua cổ phần của Ngân hàng Thương mại trong một doanh nghiệp, quỹ
đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác (Doanh nghiệp góp vốn, mua cổ phần)
không được vượt quá 11% Vốn Điều lệ của Doanh nghiệp góp vốn, mua cổ phần
- Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của Doanh nghiệp góp vốn, mua cổ phần không
được vượt quá 11% Vốn Điều lệ của Doanh nghiệp góp vốn, mua cổ phần
- Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của Ngân hàng Thương mại: (i) tại tất cả các
công ty trực thuộc tối đa không quá 25% Vốn Điều lệ và Quỹ dự trữ của Ngân hàng
và (ii) trong tất cả các doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, Ngân hàng
Thương mại khác và góp vốn, mua cổ phần của Công ty trực thuộc không được vượt
quá 40% Vốn Điều lệ và Quỹ Dự trữ của Ngân hàng, trong đó tổng mức góp vốn, mua
cổ phần của Ngân hàng vào các Công ty trực thuộc không được vượt quá 25%.
Đối với nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, theo cam kết Việt Nam gia nhập WTO,
thì việc các tổ chức nước ngoài được phép góp vốn, mua cổ phần của các doanh
nghiệp nói chung, NHTM của Việt Nam nói riêng cũng được quy định khá cụ thể,
theo đó các cam kết về dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác được
thực hiện phù hợp với các luật lệ và các quy định liên quan được ban hành bởi
các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để đảm bảo sự phù hợp với Điều VI của
GATS và Đoạn 2 (a) của Phụ lục về các Dịch vụ tài chính. Do đó, để có một hành
lang pháp lý rõ ràng, cụ thể về vấn đề này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của NHTM
Việt Nam và để cụ thể hơn, NHNN đã ban hành Thông tư số 07/2007/TT-NHNN ngày 29/11/2007
hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 69/2007/NĐ-CP, theo đó, nhà đầu
tư chiến lược nước ngoài là tổ chức tín dụng nước ngoài có uy tín, có năng lực
tài chính và khả năng hỗ trợ NHVN trong phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng,
nâng cao năng lực quản trị, điều hành và áp dụng công nghệ hiện đại; có lợi ích
chiến lược phù hợp với chiến lược phát triển của NHVN. Theo các quy định này
thì tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm cả cổ đông nước
ngoài hiện hữu) và người có liên quan của các nhà đầu tư nước ngoài đó không
vượt quá 30% vốn điều lệ của một NHVN. Đồng thời với mỗi loại hình nhà đầu tư
khác nhau thì được quyền sở hữu tỷ lệ cổ phần khác nhau và điều kiện cho mỗi
nhà đầu tư cũng là khác nhau. Mức sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài
không phải là tổ chức tín dụng nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư
nước ngoài đó không vượt quá 5% vốn điều lệ của một NHVN. Mức sở hữu cổ phần
của một tổ chức tín dụng nước ngoài và người có liên quan của tổ chức tín dụng
nước ngoài đó không vượt quá 10% vốn điều lệ của một NHVN. Mức sở hữu cổ phần
của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư chiến
lược nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ, trường hợp vượt quá 15% thì
phải xin phép Thủ tướng Chính phủ nhưng tối đa không quá 20% vốn điều lệ của
NHVN.
Và do đó, trong thời gian vừa qua, đã có hàng loạt định chế tài chính lớn của
nước ngoài như HSBC, ANZ, Sumitomo Mitsui Banking, VOF Investment Limited
Bristish Virgin Island, IFC, Mirae Asset, Deutsche Bank AG, OCBC, Maybank, BNP
Paribas... đã đầu tư, mua cổ phần để trở thành các cổ đông chiến lược nước
ngoài tại các NHVN.
2.1.2. Đối với hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất ngân hàng
Tại Việt Nam, vấn đề M&A không phải là mới, 10 năm về trước, NHNN đã có hẳn
một Quy chế về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng cổ phần ban hành
kèm theo Quyết định số 241/1998/QĐ-NHNN5 ngày 15/07/1998 của Thống đốc NHNN làm
tiền đề pháp lý quan trọng cho những cuộc M&A ngân hàng diễn ra vào các năm
1997, 1998, 1999, 2001, 2003 với việc nhiều NHTM cổ phần nông thôn với quy mô
vốn nhỏ đã được M&A như NHTM cổ phần Phương Nam đã M&A hàng loạt các
NHTM khác như NHTM cổ phần nông thôn Đồng Tháp, Châu Phú, Đại Nam, Cái Sắn;
NHTM cổ phần Đông Á M&A NHTM cổ phần tứ giác Long Xuyên; Sacombank M&A
Ngân hàng Thạnh Thắng; NHTM cổ phần Phương Đông M&A với Ngân hàng nông thôn
Tây Đô... Từ năm 2005 trở lại đây, hoạt động mua lại, hợp nhất, sáp nhập các
ngân hàng trong nước đã ít đi, tuy nhiên với tư cách là một hình thức M&A,
hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư trong và ngoài nước để trở
thành cổ đông chiến lược đã diễn ra mạnh mẽ, nhất là sau khi Việt Nam đã trở
thành thành viên của WTO với hàng loạt các cam kết về mở rộng thị trường tài
chính, ngân hàng.
Vừa qua, NHNN Việt Nam cũng đã ban hành Thông tư số 04/2010/TT-NHNN hướng dẫn
việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại các tổ chức tín dụng để thay thế cho Quyết
định số 241/1998/QĐ-NHNN5 ngày 15/07/1998 (Thông tư số 04). Thông tư số 04 đã:
(i) kế thừa và loại bỏ những hạn chế của Quy chế về sáp nhập, hợp nhất, mua lại
tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam được ban hành theo Quyết định số
241/1998/QĐ-NHNN5 ngày 15/07/1998 của Ngân hàng Nhà nước, theo đó phạm vi các
đối tượng được/thuộc diện sáp nhập, hợp nhât được mở rộng. (ii) kế thừa tinh
thần của Luật Doanh nghiệp 2005 về hợp nhất, sáp nhập, Luật Cạnh tranh 2004 về
tập trung kinh tế, đồng thời đảm bảo tuân thủ các cam kết của Việt Nam đối với
WTO trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng, cụ thể:
Về hình thức M&A: Thông tư số 04 quy định các Ngân hàng thương mại chỉ được
tiến hành M&A theo một số hình thức nhất định như: (i) Ngân hàng được M&A
với các tổ chức tín dụng khác; (ii) Một Ngân hàng được M&A với một Ngân
hàng, công ty tài chính, tổ chức tín dụng hợp tác để thành một Ngân hàng; (iii)
Một Ngân hàng được mua lại một Công ty tài chính, một Công ty cho thuê tài
chính.
Về điều kiện để tiến hành M&A: Thông tư số 04 quy định việc M&A không
được thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm theo quy định của Luật Cạnh
tranh. Các tổ chức tín dụng tham gia các hoạt động này phải phối hợp xây dựng
một đề án thực hiện hợp nhất, sáp nhập, hoặc mua lại không trái với nội dung
của hợp đồng đã ký. Ngoài ra, tổ chức tín dụng còn lại sau khi tiến hành hợp
nhất, sáp nhập, hoặc mua lại phải đảm bảo đáp ứng điều kiện về vốn pháp định
theo quy định của pháp luật.
2.2. Đối với pháp luật có liên quan, điều chỉnh hoạt động M&A doanh nghiệp
nói chung, ngân hàng nói riêng
Ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên ngành trong quá trình
M&A ngân hàng, các bên trong quan hệ M&A phải tuân thủ các quy định của
pháp luật khác như pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư, pháp luật về
cạnh tranh... Pháp luật về cạnh tranh quy định khi sáp nhập, hợp nhất dẫn đến
tập trung kinh tế dẫn đến một ngân hàng có mức “tập trung kinh tế” lớn hơn 50%
thị trường liên quan. Pháp luật về chứng khoán cũng điều chỉnh hoạt động phát
hành ra công chúng của tổ chức tín dụng, cụ thể tại Thông tư số 07/2007/TT-BTC
của Bộ Tài chính xác định cụ thể nghĩa vụ xin phép phát hành của tổ chức tín
dụng. Ngoài ra, pháp luật chứng khoán còn điều chỉnh các tỷ lệ sở hữu của ngân
hàng nước ngoài, tổ chức nước ngoài đối với cổ phần tại các ngân hàng niêm yết
trên sở giao dịch chứng khoán. Pháp luật về tài chính điều tiết việc xây dựng
Phương án chuyển giao tài sản, tài chính, thuế khi các ngân hàng M&A. Pháp
luật về dân sự, thương mại liên quan đến các quy định điều chỉnh hợp đồng M&A.
Pháp luật về sở hữu trí tuệ đối với việc chuyển nhượng, mua lại nhãn hiệu,
thương hiệu của ngân hàng; pháp luật về lao động đối với việc xây dựng phương
án sử dụng lao động khi sáp nhập, hợp nhất ngân hàng... Bên cạnh hệ thống các
quy định pháp luật Việt Nam, hoạt động M&A ngân hàng phải tuân theo các
thoả thuận, hiệp ước song phương và đa phương như các cam kết của Việt Nam gia
nhập WTO, các quy định trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, các Hiệp định
ASEAN...
3. Một số giải pháp góp phần hoàn thiện khung pháp lý về M&A ngân hàng tại
Việt Nam
Xây dựng tập trung và có hệ thống đối với quy định của pháp luật về M&A
ngân hàng với (i) hoạt động mua lại, sáp nhập và hợp nhất và (ii) đầu tư mua cổ
phần để trở thành cổ đông chiến lược trong Luật Các tổ chức tín dụng với tư
cách là đạo luật điều chỉnh chuyên ngành, theo đó cần có các định nghĩa, khái
niệm, hình thức, điều kiện, quy trình và hợp đồng M&A ngân hàng cụ thể.
Đồng thời, với tư cách là một hình thức tập trung kinh tế bị điều chỉnh bởi các
quy định của pháp luật cạnh tranh, các quy định về M&A ngân hàng cần phải
phù hợp, đáp ứng các điều kiện về kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh, về thị
phần, thị trường liên quan... để tránh việc độc quyền, hạn chế cạnh tranh lành mạnh
trên thị trường ngân hàng. Hiện nay, các đạo luật về đầu tư, các cam kết của
Việt Nam về đầu tư cũng đã xác nhận M&A là một hình thức đầu tư, tuy nhiên
quy định này mới chỉ xác định nó với tư cách là một hình thức đầu tư trực tiếp
(FDI) và còn rất sơ sài về yêu cầu, điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư này
trong lĩnh vực ngân hàng, trong khi đó Luật Chứng khoán coi hoạt động góp vốn,
mua cổ phần của nhà đầu tư đối với các ngân hàng trên thị trường chứng khoán là
một hình thức đầu tư gián tiếp (FII)… Ngoài ra, các vấn đề pháp lý khác cũng
rất đáng được quan tâm như định giá tài sản, thương hiệu, thuế, giải quyết lao
động sau M&A... cũng cần phải được làm rõ trong quá trình hoàn thiện các chính
sách, cơ chế cho hoạt động M&A ngân hàng.
Hình thành các công ty tư vấn M&A và các chuyên gia tư vấn M&A của Việt
Nam một cách chuyên nghiệp, đó là những nhà cung cấp các dịch vụ M&A từ A
tới Z với các khâu (i) dự báo, tìm kiếm, thăm dò đối tác, (ii) thẩm định đầy đủ
các nội dung về pháp lý/tài chính (Legal/Financial Due Diligence); (iii) thiết
lập hợp đồng M&A trong từng trường hợp, từng yêu cầu cụ thể; (iv) các thủ
tục với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau M&A; (v) các vấn đề cần giải quyết
sau M&A. Và để cung cấp các dịch vụ M&A, nhất là M&A ngân hàng đòi
hỏi các công ty tư vấn, chuyên gia tư vấn M&A phải là những công ty, chuyên
gia hàng đầu về tài chính, ngân hàng và pháp luật, có kinh nghiệm thực tế.
Ths Bùi Thanh Lam - Ngân hàng FPT
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM
--------------------------------------------------------------------------------