Hành vi trốn nợ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật Việt Nam ?
Người vay vốn trả lãi suất cao, bỏ trốn khi không trả được nợ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 139 BLHS (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) hoặc điều 140 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).
Vay tiền là giao dịch dân sự bình thường được pháp
luật cho phép, nhưng trong bối cảnh có tác động giao dịch này có thể bị
biến tướng, bị bóp méo trở thành vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo
quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP
ngày 12/7/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an
ninh và trật tự an toàn xã hội, người có hành vi “dùng thủ đoạn gian dối
hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự” có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đến
2.000.000 đồng.
Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử
phạt bổ sung là “tịch thu tang vật, phương tiện” và phải bồi thường toàn
bộ thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra.
Ngoài biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, người vay
vốn trả lãi suất cao và bỏ trốn khi không trả được nợ thì tùy từng
trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định
tại điều 139 BLHS (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) hoặc điều 140 (tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).
Theo quy định tại điều 139, người có hành vi dùng “thủ
đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu
đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã
bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm” thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6
tháng và cao nhất là tù chung thân.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu
đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm
đến 5 năm.
Như vậy, để xử lý một người về tội danh này, cần chứng
minh được người đó đã có “hành vi gian dối” khi huy động vốn để chiếm
đoạt như tạo vỏ bọc là một doanh nghiệp làm ăn phát đạt, có nhiều nhà
đất, xe cộ, cửa hàng kinh doanh hoặc dùng "mồi nhử" người gửi tiền dạng
như đang có dự án lớn, đang có chỗ đầu tư bất động sản hời… nên cần huy
động vốn dù với lãi suất cao…
Theo quy định tại Điều 140, người có một trong những
hành vi dưới đây nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4
triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà
còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù
từ 3 tháng đến 3 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận
được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ
đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận
được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng
tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại
tài sản.
Người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
có thể bị xử phạt cao nhất là tù chung thân và còn có thể bị phạt tiền
từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm và bị tịch thu một
phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.
SUNLAW FIRM