Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam
Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động. Vì thế, pháp luật lao động có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước.
Tóm tắt
Bộ Luật Lao
động Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994, đến nay Bộ luật
đó qua ba lần sửa đổi bổ sung. Bộ luật đó thể hiện rõ mong muốn của xã
hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đổi mới pháp chế, nhằm xây dựng
một Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập,
cũng như yêu cầu khách quan của thực tiễn đời sống lao động, có thể
thấy pháp luật lao động Việt Nam còn bộc lộc một số nhược điểm cần phải
được chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình mới.
1. Đánh giá chung về hệ thống pháp luật lao động Việt Nam hiện hành
Có thể nói, từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới, pháp luật lao động nước ta đã có một bước tiến đáng kể:
Một là, hệ thống pháp luật lao động đã trở thành một
hệ thống luật chuyên ngành tương đối đồ sộ với khá nhiều văn bản pháp
luật, kể cả văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất như Bộ Luật Lao động.
Pháp luật lao động ở nước ta trong những năm qua đã có bước chuyển đổi
và phát triển quan trọng. Ngày 23/06/1994, Quốc hội đã thông qua Bộ
luật Lao động [1] – Bộ luật của nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Bộ Luật Lao động đã được thực hiện từ ngày
01/01/1995. Sau đó Bộ Luật Lao động được sửa đổi bổ sung ba lần vào các
năm 2002; 2006 và 2007. Bộ Luật Lao động đã khẳng định vị trí quan
trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Bộ
Luật Lao động đã thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng cộng sản
Việt Nam và Hiến pháp 1992 trong lĩnh vực lao động – xã hội. Điều này
có thể thấy, một Bộ luật đã được pháp điển hoá, chi tiết hoá và bổ sung
bằng các đạo luật riêng lẻ, như: Luật Bảo hiểm Xã hội; Luật đưa người
lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng; Luật Dạy nghề
là nét mới trong hoạt động lập pháp của Việt Nam. Bộ Luật Lao động đã
góp phần quan trọng giải phóng mọi tiềm năng lao động, mở mang nhiều
ngành nghề, giải quyết việc làm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Có thể nói, Bộ Luật Lao động đã tạo ra một hành
lang pháp lý để mọi người có quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử
về việc làm, học nghề và khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm cho
bản thân và cho người khác (Điều 5 Bộ Luật Lao động). Ngoài ra, để đảm
bảo quyền có việc làm của công dân, Bộ Luật Lao động còn qui định:
“Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào
và bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm” (Điều 16). Cùng với việc bảo
vệ quyền tự do làm việc của người lao động, Bộ Luật Lao động cũng đảm
bảo cho người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ các quyền tự chủ trong
việc tuyển chọn, sắp xếp lao động, trả lương trong đó khẳng định “Người
sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua trung tâm dịch vụ
việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao động phù hợp
với nhu cầu sản xuất kinh doanh” (Điều 16 Bộ Luật Lao động).
Hai là, pháp luật lao động đã làm thay đổi cơ bản
nhận thức của người lao động, người sử dụng lao động trong việc tuyển
dụng và thiết lập quan hệ lao động, thoả ước lao động tập thể (Chương
IV, V Bộ Luật Lao động) từng bước mở rộng và bảo đảm cho các bên thực
hiện quyền thoả thuận của mình trên cơ sở pháp luật lao động. Việc đổi
mới cơ chế hợp đồng lao động, chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội đã tạo
thành một hệ thống các cơ chế, chính sách tương đối đồng bộ, tạo môi
trường pháp lý lành mạnh, hỗ trợ mạnh mẽ cho việc tự do chuyển dịch
nghề lao động giữa các đơn vị, các địa phương và khu vực. Bộ Luật Lao
động đã đổi mới căn bản chế độ quản lý lao động của Nhà nước ta: Nhà
nước quản lý lao động ở tầm vĩ mô thông qua một cơ chế chính sách, pháp
luật, kiểm tra, thanh tra nhưng không trực tiếp can thiệp vào quá trình
quản lý sử dụng lao động của doanh nghiệp. Chuyển từ cơ chế Nhà nước
qui định mọi chế độ, chính sách của người lao động sang cơ chế chỉ ban
hành khung pháp luật tối đa, hoặc tối thiểu làm căn cứ, chuẩn mực để
các bên tự thoả thuận, quyết định phù hợp với điều kiện sản xuất kinh
doanh của từng đơn vị (Chương VI, VII Bộ Luật Lao động).
Ba là, Luật Lao động đã thực hiện đồng bộ nhiều
nguyên tắc hợp lý như: bảo vệ người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, khuyến khích sử dụng nhiều
lao động, đảm bảo sự thoả thuận của các bên trong quan hệ lao động và
tạo điều kiện cho công đoàn hoạt động để xây dựng mối quan hệ lao động
hài hoà, ổn định, phát triển kinh tế song hành với tiến bộ xã hội. Các
nguyên tắc này đã xác định sự thống nhất trong nội dung điều chỉnh của
pháp luật lao động, bảo hộ lao động và phát huy thế mạnh của cả hai lực
lượng lao động và sử dụng lao động trong xã hội.
Bốn là, Luật Lao động hiện hành mang tính hội nhập cao. Điều này xuất phát từ nhu cầu thực tiễn ở Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế
thị trường và trước nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế cũng như vấn đề
toàn cầu hoá quan hệ lao động. Từ chỗ thừa nhận có sự di trú lao động
giữa các nước, khuyến khích việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài và cho phép người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam… đến
nay, các quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam đã được
điều chỉnh trên một mặt bằng pháp lý tương đối thống nhất với các quan
hệ lao động trong nước. Có thể thấy, Bộ Luật Lao động 1994 đã đưa vấn
đề trên vào Chương VI để “luật hoá” trở thành các quy định có hiệu lực
cao. Sau khi Bộ Luật Lao động được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 07/CP ngày 20/01/1995 hướng dẫn một số điều của Bộ
Luật Lao động về việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài và sau đó là Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày
20/09/1999 quy định về đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm
việc có thời hạn ở nước ngoài. Không chỉ dừng lại ở các quy định đó,
năm 2002 Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài. Theo đó, ngày 17/04/2003 Chính phủ ban
hành Nghị định số 181/2003/NĐ-CP về vấn đề trên. Các quy định về đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã được pháp điển hoá thành
Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng,
tạo điều kiện để Việt Nam thâm nhập ngày càng mạnh mẽ vào thị trường
lao động quốc tế (ngày 29/11/2006).
Các qui định của pháp luật lao động Việt Nam ngày
càng gần gũi hơn với các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Đây là cơ sở để
Nhà nước ta phê chuẩn một số Công ước quan trọng của Tổ chức lao động
quốc tế như: Công ước số 29 (1930) về lao động cưỡng bức; Công ước 111
(1958) về phân biệt đối xử; Công ước 138 (1973) về tuổi tối thiểu được
đi làm… [2]. Tính đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn được 17 Công ước của
Tổ chức lao động quốc tế, còn khá nhiều công ước khác tuy chưa được phê
chuẩn, song trong một chừng mực nào đó, cũng đã được phản ánh trong Bộ
Luật Lao động, như: “Cơ chế ba bên”; “Đối thoại xã hội” một nét độc đáo
gắn liền với tổ chức và hoạt động của Tổ chức lao động quốc tế (ILO),
cũng bước đầu được vận dụng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt
Nam.
Năm là, pháp luật lao động Việt Nam hiện hành đã
hình thành và bước đầu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp lao động
trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế. Các tranh chấp lao động và các khiếu
nại, tố cáo lao động cũng được phân biệt rõ và được giải quyết theo
những cơ chế khác nhau. “Người lao động và người sử dụng lao động có
quyền yêu cầu, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động.
Nhà nước khuyến khích việc giải quyết các tranh chấp lao động bằng hoà
giải và trọng tài” (Điều 9 Bộ Luật Lao động). Những mâu thuẫn tranh
chấp giữa các bên chủ yếu do các bên quyết định: tự giải quyết hay yêu
cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Việc giải quyết tranh chấp lao
động có sự tham gia của nhiều tổ chức: hoà giải, Chủ tịch Uỷ ban Nhân
dân cấp huyện, Trọng tài và Toà án (Chương XIV Bộ Luật Lao động).
Nguyên tắc thương lượng, hoà giải và trọng tài được coi là nguyên tắc
số một trong quá trình giải quyết tranh chấp. Chẳng những thế, Điều 158
Bộ Luật Lao động còn khẳng định: “1. Thương lượng trực tiếp, tự dàn xếp
và tự quyết định của hai bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp;
2. Thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích
của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và tuân theo
pháp luật…”. Lần đầu tiên quyền đình công của người lao động đã được
pháp luật lao động ghi nhận (Điều 7 Bộ Luật Lao động).
Như vậy, có thể khẳng định pháp luật lao động Việt
Nam đã đáp ứng yêu cầu cơ bản của nền kinh tế thị trường, trong điều
kiện mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Pháp luật lao động
đã góp phần giải phóng sức lao động, tạo điều kiện cho việc hình thành
và phát triển thị trường sức lao động ở nước ta. Bằng các qui định cụ
thể, pháp luật lao động đã xác định đối tượng điều chỉnh chủ yếu hiện
nay là mối quan hệ làm công ăn lương (Điều 1); quan hệ của công chức
Nhà nước và một số đối tượng khác được tách hẳn ra (Điều 4) là một xuất
phát điểm hợp lý cho tất cả các qui định khác mà pháp luật lao động
hướng vào điều chỉnh mối quan hệ lao động cơ bản của nền kinh tế thị
trường. Các qui định của pháp luật lao động đã thực sự đi vào cuộc sống
và ngày càng phát huy tác dụng trong quá trình phát triển kinh tế – xã
hội ở nước ta.
2. Một số hạn chế
So với yêu cầu thực tiễn, trong bối cảnh toàn cầu
hoá, hệ thống pháp luật lao động Việt Nam hiện hành không thể tránh
khỏi những hạn chế cần khắc phục. Thể hiện ở những điểm sau đây:
Một là, pháp luật lao động Việt Nam thiếu tính đồng bộ.
Nhìn một cách tổng quát, về hình thức, hệ thống pháp
luật lao động tuy đã có những văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhưng
không cụ thể, chi tiết để có thể áp dụng chúng một cách trực tiếp, độc
lập. Hệ thống văn bản hướng dẫn Bộ Luật Lao động còn khá cồng kềnh, do
nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau ban hành nên không tránh khỏi sự mâu
thuẫn, chồng chéo, như: vấn đề hướng dẫn thời hiệu xử lý kỷ luật lao
động tại Nghị định 33/2003/NĐ-CP hay quy định về giá trị của biên bản
hoà giải đối với các tranh chấp lao động, vai trò của Hội đồng trọng
tài lao động cấp tỉnh trong việc giải quyết tranh chấp lao động, thủ
tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích… Điều đó, làm
giảm tính hiệu lực của các văn bản luật dẫn đến hệ thống pháp luật này
khó tra cứu và khó thực hiện đồng bộ.
Hệ thống pháp luật lao động Việt Nam hiện hành còn
khá phức tạp do sự tồn tại của cơ chế ban hành văn bản hướng dẫn thực
hiện. Những văn bản này được ban hành ở những thời điểm khác nhau tạo
nên một hệ thống công trình tản mạn, chồng chéo, khó tra cứu, khó áp
dụng đúng trong mối tương quan với cả hệ thống pháp luật. Có thể thấy
qua Điều 32 của Bộ Luật Lao động, hợp đồng lao động có thể bao gồm việc
thoả thuận về làm thử. Qui định này cho thấy vấn đề thử việc là một
phần của hợp đồng lao động. Trong khi đó, Điều 7 của Nghị định 44/CP
lại qui định rằng hợp đồng chỉ được ký sau khi thời gian thử việc kết
thúc mà người sử dụng lao động thông báo kết quả cho người lao động
hoặc người lao động không được thông báo mà vẫn tiếp tục làm việc, như
vậy vấn đề thử việc không phải là một phần của hợp đồng lao động chính
thức. Điều này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích của người lao
động, chẳng hạn tới việc tính thâm niên công tác hay quyền nghỉ hàng
năm. Ngoài ra sự mâu thuẫn giữa các văn bản hướng dẫn về cùng một qui
định của Bộ Luật Lao động có thể thấy qua Nghị định 39/2003/NĐ-CP
(18/04/2003) và Nghị định 105/2003/NĐ-CP (17/09/2003). Cả hai Nghị định
đều liên quan đến việc tuyển dụng và sử dụng lao động Việt Nam cho các
tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài. Đối tượng áp dụng của hai
Nghị định khác nhau. Tuy nhiên, trung tâm giới thiệu việc làm tiến hành
việc tuyển dụng lao động được đề cập trong cả hai nghị định trên là
những trung tâm có chức năng khác nhau. Những điều này sẽ gây ra sự khó
hiểu về trung tâm nào có chức năng tuyển dụng lao động Việt Nam cho các
văn phòng ngoại giao.
Hai là, hệ thống pháp luật lao động chưa mang tính
khả thi cao. Pháp luật lao động hiện hành vẫn còn một số quy định chưa
mang tính khái quát, chưa đủ linh hoạt đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế
thị trường. Trong khi nhiều nước phát triển điều chỉnh quan hệ lao động
theo hướng tạo ra một thị trường lao động năng động thông qua đó phân
công lao động hợp lý hơn và sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả cao thì pháp
luật lao động Việt Nam vẫn có nhiều quy định để bảo hộ dài hạn cho
người lao động, như các Điều 27, Điều 34, Điều 38 của Bộ Luật Lao động.
“Đó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nhiều nhận định, đánh
giá chi phí sa thải ở Việt Nam thuộc hàng cao nhất so với trên thế
giới” [3]. Điều đó có thể làm ngần ngại các nhà đầu tư trong và ngoài
nước, chậm quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, phản tác dụng bảo
vệ người lao động nên không đáp ứng được mong muốn của các nhà làm luật.
Trong Luật Lao động còn khá nhiều các qui phạm mang
tính chất định hướng, như “nhà nước định chỉ tiêu…”, “nhà nước có chính
sách khuyến khích…”, “bảo đảm tiền lương thực tế…”, “nghiêm cấm mọi
hành vi…”. Mặc dù, đã có nhiều văn bản hướng dẫn tiếp theo nhưng nhìn
chung vẫn còn chậm và thiếu đồng bộ. Các qui định về xử phạt đối với
các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động (Chương II, Nghị định
113/2004/NĐ-CP) còn thiếu nhiều nội dung cần thiết chưa được qui định
hoặc đã được qui định nhưng chưa hợp lý. Những hành vi vi phạm như:
không ký hợp đồng lao động bằng văn bản theo qui định, đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động, kỷ luật sa thải trái pháp luật… còn tồn tại phổ
biến trong thực tế làm ảnh hưởng lớn đến việc làm, đời sống người lao
động còn chưa qui định bị xử phạt. Hay qui định xử phạt hành vi “bắt
người lao động đặt cọc tiền không tuân theo các qui định của pháp
luật…” là cần thiết nhưng chưa đồng bộ với các qui định khác.
Khi áp dụng pháp luật cho thấy còn khá nhiều quy
định chưa rõ ràng, gây những tranh chấp không đáng có giữa các bên hoặc
tạo ra sự không thống nhất trong quá trình điều chỉnh và thực thi pháp
luật (ví dụ các Điều 17, 38, 41, Điều 117 và Điều 175… Bộ Luật Lao
động). Một số quy định khác cũng chưa được hợp lý, không khả thi dẫn
đến khó thực hiện hoặc không đảm bảo hiệu quả khi thực hiện (như Điều
27, Khoản 3 Điều 30, Khoản 1 Điều 37, Điều 42, Điều 45, Điều 50, Điều
85, Điều 86, Điều 111, Điều 116, Điều 145, Điều 151, Điều 170a và Điều
170b Bộ Luật Lao động). Trong đó, điển hình là các quy định về đình
công và giải quyết đình công trở nên quá hình thức. Đó là một trong các
nguyên nhân dẫn đến 1519 cuộc đình công từ năm 1995 đến hết tháng
6/2007 [4] đều có dấu hiệu không hợp pháp và chưa cuộc đình công nào
được giải quyết tại toà án theo quy định của pháp luật. Điều này chứng
tỏ rằng Luật Lao động còn nhiều qui định bất cập, chưa tạo ra môi
trường pháp lý hợp lý cho các quan hệ lao động phát triển theo quy luật
của thị trường.
Luật Lao động Việt Nam hiện hành còn có những nội
dung chưa thật sự khoa học, nặng tính chủ quan của nhà làm luật dẫn đến
thực tế rất khó thực hiện. Nhiều qui định của pháp luật lao động chưa
thực sự tạo ra một môi trường pháp lý thoáng đãng cho mối quan hệ lao
động hình thành và phát triển theo các qui luật của nền kinh tế thị
trường (Ví dụ như Điều 54 về thoả ước ngành, cần phải qui định chi tiết
hơn về đại diện thương lượng, ký kết, thủ tục đăng ký; Một số điều
khoản của Luật Lao động không được người lao động và người sử dụng lao
động chấp nhận và được xem là không quan trọng như sổ lao động).
Một số qui định trong pháp luật lao động còn hạn chế
về kỹ thuật lập pháp, mâu thuẫn với các qui định khác, nhiều thuật ngữ
pháp lý không được giải thích cụ thể dẫn đến khó hiểu hoặc có nhiều
cách hiểu khác nhau. Ví dụ Điều 31 Bộ Luật Lao động qui định: “… người
sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp
đồng lao động đối với người lao động…”. Trên thực tế một số doanh
nghiệp, nhất là doanh nghiệp Nhà nước làm ăn không có hiệu quả phải tổ
chức lại sản xuất hay chuyển thành công ty cổ phần… trong trường hợp
này chủ doanh nghiệp mới vẫn phải gánh hậu quả của doanh nghiệp cũ,
không có quyền quyết định về nhân sự trong doanh nghiệp của mình. Nếu
nhìn vấn đề này ở góc độ khác thì có thể coi đó là vi phạm quyền tự do
kinh doanh đã được Hiến pháp qui định. Hoặc Điều 148 về việc tham gia
bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp, diêm nghiệp, chỉ đơn giản nêu nên rằng các doanh nghiệp có
trách nhiệm tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội phù hợp đặc điểm cụ
thể của mỗi doanh nghiệp. Rõ ràng là, cần phải có văn bản dưới luật
hướng dẫn thêm nếu muốn thực hiện điều khoản này. Cũng tương tự như vậy
Điều 156, khoản 4 Điều 158 Bộ Luật Lao động có ghi: “… đại diện của
người sử dụng lao động…” nhưng qui định về tổ chức đại diện người sử
dụng lao động cũng như hoạt động của tổ chức này chưa được qui định cụ
thể.
Thứ ba, hệ thống pháp luật lao động Việt Nam chưa thực sự được xây dựng trên những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường.
Điều này thể hiện rất rõ, trong pháp luật lao động
có quá nhiều các qui định có hình thức tuyên ngôn về chính sách và
không qui định bất kỳ nghĩa vụ cụ thể nào đối với người lao động và
người sử dụng lao động hoặc đối với cả hai bên (Điều 14, 15, 26, 55,
82, 109, 128, 140). Những Điều khoản này mang tính chất chung chung,
chưa cụ thể nên một số lượng lớn Nghị định và Thông tư cấp Bộ phải ra
đời để bổ sung, hoặc những Điều khoản đó không được thực hiện. Một số
qui định cụ thể trong Bộ luật chưa thật chặt chẽ nên khi thực hiện
trong thực tế gặp không ít vướng mắc, ví dụ: về loại Hợp đồng lao động,
điều chuyển lao động, trợ cấp thôi việc làm ảnh hưởng đến quyền và
nghĩa vụ của các bên.
Hệ thống pháp luật lao động cũng còn thiếu một số
nội dung cần thiết để điều chỉnh quan hệ lao động theo yêu cầu của nền
kinh tế thị trường như: Những người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật
có quyền được hưởng một số chế độ phù hợp theo qui định của Chính phủ
(Điều 136 Bộ Luật Lao động) nhưng cho tới nay chưa có văn bản hướng dẫn
cụ thể, chi tiết; hay qui định về hợp đồng
lao động vô hiệu, chưa thực sự ghi nhận sự tồn tại cơ chế ba bên, thiếu
vắng qui định công đoàn phải tham gia vào quá trình thương lượng tập
thể… Có thể thấy, trong pháp luật lao động đã qui định việc tham khảo ý
kiến của đại diện người lao động và người sử dụng lao động nhưng chưa
có qui định rõ ràng về cơ chế ba bên, như: Nội dung các qui định pháp
luật về cơ chế ba bên còn nhiều hạn chế đặc biệt là qui định về thiết
chế thường trực thực hiện việc tham khảo ý kiến ba bên; Tính đại diện
và năng lực tham gia của các đối tác xã hội nhìn chung chưa đáp ứng
được yêu cầu của nền kinh tế thị trường, việc xác định tổ chức đại diện
của người sử dụng lao động chưa hợp lý, đặc biệt là ở cấp địa phương và
ngành nghề; Chưa tổ chức được hội nghị ba bên ở cấp trung ương và địa
phương. Mặc dù, “Cơ chế ba bên là cơ chế đặc dụng của Luật Lao động, đã
được các nước trên thế giới sử dụng từ lâu. Trong lĩnh vực lao động,
việc sử dụng cơ chế ba bên là một trong những biện pháp đảm bảo ổn định
và hài hoà quan hệ lao động thông qua đối thoại xã hội và cùng quyết
định. Cơ chế ba bên được sử dụng nhằm hoạch định chính sách, pháp luật
lao động, triển khai thực thi pháp luật lao động và giải quyết các vấn
đề phát sinh trong quá trình lao động, đặc biệt là giải quyết tranh
chấp lao động và đình công” [5]. Như vậy, nhà nước vẫn chưa coi việc
cùng tham gia quyết định các vấn đề lao động của bên người lao động và
người sử dụng lao động trong mối quan hệ lao động thống nhất. Ngoài ra,
phải kể đến sự thiếu vắng các qui định bảo vệ cho những người làm việc
gia công tại nhà cũng như vấn đề an toàn, vệ sinh lao động, bảo hộ lao
động đối với những người này. Những khoảng trống trong bản thân những
điều khoản cụ thể cũng là vấn đề cần được quan tâm.
Từ khi triển khai thực hiện Bộ Luật Lao động đến
nay, vị thế của nước ta đã có nhiều thay đổi: là thành viên chính thức
ASEAN, tham gia AFTA, ký hiệp định thương mại Việt – Mỹ, và đặc biệt là
gia nhập WTO một tổ chức thương mại lớn nhất thế giới… Trong bối cảnh
mới của đất nước, rõ ràng nhiều qui định trong Bộ Luật Lao động chưa
đáp ứng được yêu cầu mới cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam
Thứ nhất, cần khắc phục những bất hợp lý
của các quy định hiện hành, đảm bảo sự hợp lý, tính thống nhất trong
điều chỉnh và thực thi pháp luật, đảm bảo sự phù hợp với điều kiện kinh
tế thị trường ở Việt Nam. Yêu cầu này đòi hỏi hệ thống pháp luật lao
động đẩy đủ và khả thi hơn. Thực tế chứng minh thị trường lao động ở
Việt Nam có nhiều đặc điểm riêng biệt như cung lao động lớn hơn cầu
nhưng lại thiếu lao động trình độ cao; khu vực tư nhân đang phát triển
nên lực lượng sử dụng lao động chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
hoạt động kinh doanh phụ thuộc nhiều vào điều kiện tồn tại; bảo hiểm
thất nghiệp sắp được thực hiện… Như vậy, việc điều chỉnh quan hệ lao
động, điều tiết thị trường lao động cần linh hoạt, giảm sự bảo hộ của
Nhà nước và từng bước chuyển sang quá trình tự bảo vệ thông qua hoạt
động của tổ chức công đoàn và đại diện người sử dụng lao động; đảm bảo
sự tham gia của đại diện các bên, đặc biệt là khu vực tư nhân vào việc
hoàn thiện, sửa đổi bổ sung pháp luật lao động.
Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung pháp luật lao
động một cách tổng thể hoặc tách Bộ Luật Lao động thành những đạo luật
riêng để việc điều chỉnh pháp luật hợp lý hơn. Thực tế, Bộ Luật Lao
động phải thực hiện đồng thời quá nhiều mục tiêu như: bảo vệ người lao
động, điều chỉnh quan hệ lao động, thực hiện các chính sách việc làm,
chính sách tiền lương, chính sách an toàn, vệ sinh lao động, chính sách
an sinh xã hội, giải quyết tranh chấp lao động và đình công… Điều đó
làm cho việc sửa đổi, bổ sung pháp luật lao động không được đồng bộ,
chẳng những làm giảm hiệu quả điều chỉnh pháp luật mà còn ảnh hưởng đến
tác dụng vốn có của mỗi chính sách. Nên chăng hoàn thiện pháp luật lao
động theo hướng từng bước tách một số chế định thành một số luật chuyên
ngành để tiện cho việc thực hiện như: Luật việc làm, Luật về tiền lương
tối thiểu, Luật về quan hệ lao động, luật về bảo hộ lao động, Luật về
người tàn tật, Luật về người cao tuổi…
Thứ ba, hoàn thiện pháp luật lao động cần
dung hoà tính linh hoạt của thị trường với tính bền vững trong bảo vệ
người lao động. Nếu không bảo vệ tốt và đề cao vai trò của người lao
động thì không khai thác được nguồn lực cho sự phát triển vì họ sẽ kém
tích cực, ít đầu tư vào sức lao động, xã hội không ổn định… Nếu bảo vệ
người lao động đến mức không tính đến yêu cầu của sự phát triển chung,
chấp nhận cả thói quen vô kỷ luật của họ hoặc thủ tiêu động cơ cạnh
tranh giữa những người lao động thì lại có thể kìm hãm sự phát triển…
Hoàn thiện pháp luật lao động phải đồng thời hướng tới hai mục tiêu:
bảo vệ người lao động để ổn định xã hội và phát triển kinh tế làm cơ sở
cho tiến bộ xã hội. Điều đó đòi hỏi quá trình hoàn thiện pháp luật lao
động phải có sự điều tiết hợp lý. Nhà nước bảo vệ người lao động cũng
phải trên cơ sở phù hợp với yêu cầu của thị trường, chú ý đến nhu cầu
chính đáng của cả hai bên.
Thứ tư, hoàn thiện pháp luật lao động phải
tiếp cận tiêu chuẩn lao động quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội
nhập quốc tế. Là một nước thành viên của ILO, trong điều kiện hội nhập
kinh tế và toàn cầu hoá trong nhiều lĩnh vực, hệ thống pháp luật lao
động của Việt Nam cần tiếp cận rộng rãi hơn nữa với các tiêu chuẩn lao
động quốc tế. Việc tiếp cận các tiêu chuẩn lao động quốc tế không chỉ
bó hẹp trong 17 Công ước của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn mà còn phải
tính đến các nguyên tắc cơ bản của ILO như loại bỏ lao động cưỡng bức,
việc làm đầy đủ và nhân văn, tự do liên kết và thương lượng tập thể,
chống phân biệt đối xử, đảm bảo các quyền cơ bản của người lao động tại
nơi làm việc… Như vậy, việc hoàn thiện pháp luật lao động phải dựa trên
cả những Công ước mà Việt Nam chưa phê chuẩn như: Công ước 87 (1948) về
quyền tự do liên kết và quyền tổ chức; Công ước số 98 (1949) về nguyên
tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể; Công ước số 122 về chính
sách việc làm; Công ước số 131 về ấn định tiền lương tối thiểu đặc biệt
đối với các nước đang phát triển; Công ước số 88 về tổ chức dịch vụ
việc làm; Công ước số 142 về hướng nghiệp và đào tạo nghề trong phát
triển nguồn nhân lực; Công ước của Tổ chức lao động quốc tế liên quan
đến an toàn, vệ sinh lao động. Điều đó có nghĩa là, hệ thống pháp luật
lao động phải thể chế hoá các Công ước này, tạo ra điều kiện để nước ta
có thể phê chuẩn các Công ước này trong thời gian tới. Khi đưa các tiêu
chuẩn quốc tế vào pháp luật quốc gia sẽ làm cho người sử dụng lao động
buộc phải thực hiện chúng và điều đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
Việt Nam hội nhập tốt hơn trong việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động,
các quy tắc ứng xử liên quan đến tiêu chuẩn lao động. Nếu không tiếp
cận các tiêu chuẩn lao động quốc tế trong hệ thống pháp luật thì các
doanh nghiệp Việt Nam sẽ tốn kém khi đăng ký các bộ quy tắc ứng xử
(CoC) như là điều kiện để xuất hàng hoặc tránh bị chèn ép trong xuất
khẩu.
Thứ năm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về
an sinh xã hội. Hội nhập nền kinh tế thế giới là con đường ngắn nhất để
Việt Nam phát triển nhưng cơ hội làm ăn mới luôn đi kèm với những thách
thức rủi ro. Một trong những rủi ro lớn nhất là thất nghiệp và phá sản,
sẽ có hàng loạt người lao động trong các doanh nghiệp bị mất việc làm
và nhiều người nông dân bị mất dần đất canh tác. Trong khi đó, chúng ta
lại chưa có chương trình giáo dục cho người lao động khi bị dôi dư,
việc đào tạo kỹ năng nghề đang thiếu chiến lược lâu dài. Do đó cần phải
có các chính sách, biện pháp để hỗ trợ và bảo vệ người lao động. Cụ thể
là: Mở rộng các hình thức bảo hiểm xã hội tự nguyện. Ban hành các quy
phạm pháp luật để tạo ra cơ sở pháp lý cho người dân tham gia loại bảo
hiểm này phù hợp với khả năng của họ. Xây dựng hệ thống bảo hiểm tai
nạn, các chính sách cho đối tượng mất khả năng làm việc; Tiếp tục phát
triển bảo hiểm y tế tự nguyện cho nông dân, lao động nông thôn và bảo
hiểm y tế cho người nghèo. Nhà nước cần phải đầu tư và mở rộng hệ thống
y tế cộng đồng và địa phương để cung cấp dịch vụ y tế cho người dân;
Cần phải xây dựng quỹ hỗ trợ thất nghiệp với sự đóng góp, tham gia của
người lao động, người sử dụng lao động và hỗ trợ của nhà nước.
Thứ sáu, tiếp tục hoàn thiện cơ chế thị trường, đổi mới các công cụ quản lý của nhà nước trong lĩnh vực lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho những
yếu tố của thị trường lao động phát triển. Ban hành đồng bộ, kịp thời
các văn bản pháp quy cho sự phát triển của thị trường lao động trong
điều kiện hội nhập, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng khả năng
và cơ hội tìm việc làm cho người lao động. Có cơ chế khuyến khích và ưu
đãi đặc biệt đối với những doanh nghiệp thu hút nhiều lao động vào phát
triển kinh tế – xã hội miền núi, vùng sâu, vùng xa, những vùng có nhiều
tiềm năng, có lực lượng lao động dồi dào nhưng còn thấp về chất lượng.
Cải thiện các quy định pháp lý, tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật,
có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao
động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Tạo động lực và kích thích tính tích cực lao động
nhằm nâng cao tính sáng tạo, năng suất và hiệu quả lao động. Bên cạnh
động lực vật chất, cần quan tâm đến việc tạo động lực về tinh thần như:
lương tâm, đạo đức nghề nghiệp, sự say mê, tính công bằng xã hội… nhằm
nâng cao chất lượng toàn diện của người lao động Việt Nam trong tương
quan so sánh trên bình diện quốc tế.
Hội nhập nền kinh tế thế giới là quá trình tất yếu
khách quan với nhiều cơ hội và thách thức, song đối với pháp luật lao
động Việt Nam là một thách thức không nhỏ. Do đó, hoàn thiện pháp luật
lao động Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá phải đạt được các yêu cầu:
bảo vệ người lao động đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người sử dụng lao động, tạo lập mối quan hệ lao động hài hoà, góp phần
phát triển kinh tế, ổn định xã hội, vững vàng trong hội nhập và phát
triển. Chính vì thế, các yêu cầu đối với pháp luật lao động phải được
đặt trong giải pháp hoàn thiện tổng thể hệ thống pháp luật khác có liên
quan trên cơ sở nguyên tắc tương thích và công bằng.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Luật Lao động của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007).
[2] Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Một số công ước và khuyến nghị, NXB Lao động và Xã hội, Hà Nội 2004.
[3] A copublication of the World bank, The International Finance Corporation and the Oxford University Press, 2005.
[4] Báo Lao động ngày 22/08/2007.
[5] Lưu Bình Nhưỡng, “Luật lao động Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Tạp ch, Luật học, Số 1 (2007) 31.
SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC, ĐẠI QUỐC GIA HÀ NỘI, KINH TẾ – LUẬT SÔ 24 (2008), TR 84 – 92 - LÊ THỊ HOÀI THU – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật: