Hợp đồng bị tuyên vô hiệu do nhầm lẫn, nhìn từ quy định về xác định chất lượng hàng hóa trong hợp đồng
Trong thực tiễn ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng và vấn đề thanh toán là hai nội dung quan trọng nhất. Thanh toán là nghĩa vụ chính của bên mua trong giao dịch mua bán hàng hóa. Thỏa thuận về mức giá mà bên mua phải thanh toán và phương thức thanh toán là nội dung chủ yếu của thỏa thuận thanh toán. Nghĩa vụ cung cấp hàng hóa là nghĩa vụ chủ yếu của bên bán. Các thỏa thuận về tên hàng hóa, chất lượng của hàng hóa là những nội dung chủ yếu liên quan đến đối tượng của hợp đồng.
Chất lượng hàng hóa là một trong những nội dung quan
trọng cần được xem xét trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên,
trong thực tiễn thương mại có nhiều trường hợp điều khoản chất lượng
trong hợp đồng chỉ ghi đơn giản: “như Bản đặc điểm kỹ thuật” (as the
Specification) và điều này dẫn đến nhiều tranh cãi liên quan đến việc
xác định tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa trong hợp đồng khi các bên
phát sinh tranh chấp.
1. Vụ kiện giữa Công ty Việt Á Châu và Công ty Connell Bros
1.1. Nội dung vụ kiện:
Tóm tắt vụ kiện:
Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu
(bên mua) đã kiện Công ty TNHH Connell Bros (bên bán) để đòi bồi thường
thiệt hại do việc hàng hóa do Công ty TNHH Connell Bros cung cấp không
đạt yêu cầu về chất lượng. Cụ thể như sau:
Ngày 7/7/2003, Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản
xuất Việt Á Châu (Công ty Việt Á Châu) ký hợp đồng số 241/03-VU mua của
Công ty TNHH Connell Bros (Công ty Connell Bros) sản phẩm Myflame
84527E, số lượng 16.080 kg (67 thùng ống), đơn giá 2,9 USD/kg CIF HCMC,
trị giá hợp đồng 46.632 USD, xuất xứ hàng hóa: Vương quốc Anh. Sau đó,
ngày 11/7/2003 các bên lại ký tiếp hợp đồng số 243/03-VU mua 10.080 kg
sản phẩm trên, trị giá 29.232 USD và 5.987,472 kg sản phẩm Performax TF
1133, trị giá 20.357,40 USD. Điều khoản chất lượng của hai hợp đồng này
chỉ ghi “theo Bản đặc điểm kỹ thuật” (same as Specifications).
Sau khi ký hợp đồng mua hàng với Công ty Connell
Bros, bên mua đã ký hợp đồng số 086/07-2003-VG-GCDI ngày 18/7/2003 gia
công cán phủ chất chống cháy lên vải Poly-oxford cho Xí nghiệp may Bình
Thạnh thuộc Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình
Thạnh – GILIMEX. Ngày 19/8/2003, bên mua đã giao lô hàng thành phẩm cho
Xí nghiệp may Bình Thạnh. Đến giữa tháng 9/2003, Xí nghiệp Bình Thạnh
phát hiện ra số hàng gia công không đạt yêu cầu do loại chất Myfame
84527E nói trên: vải được gia công ra không khô, dẻo dính, bong tróc.
Vì thế, Xí nghiệp Bình Thạnh đã từ chối thanh toán tiền gia công cho
bên mua.
Vụ kiện được xử sơ thẩm lần đầu tiên vào ngày
28/9/2004 và đã trải qua bốn phiên xét xử với những kết luận khác nhau
qua mỗi lần xét xử. Lần xét xử sơ thẩm thứ nhất vào ngày 28/9/2004, Tòa
án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
(Công ty Việt Á Châu) đòi bị đơn bồi thường thiệt hại do hàng hóa cung
cấp không đúng chất lượng và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn (Công
ty Connell Bros) về yêu cầu thanh toán tiền hàng còn thiếu của nguyên
đơn đối với bị đơn1. Bản án sơ thẩm đã bị kháng cáo và bị Tòa phúc thẩm hủy án để giao cho Tòa sơ thẩm giải quyết lại2.
Vụ kiện sau đó đã được Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh và Tòa phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm và phúc thẩm
lại vào các ngày 1/8/2006 và 12/7/2007. Cả hai Tòa này đều tuyên hai
hợp đồng mua bán trên vô hiệu do nhầm lẫn và tranh chấp của các bên
được giải quyết theo quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế về xử lý
hợp đồng vô hiệu: “Các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau tất cả tài sản
đã nhận được từ việc thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp không thể trả
được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền… Thiệt hại phát sinh, các bên
tự gánh chịu”3.
Quan điểm xét xử của Tòa phúc thẩm lần hai trong
Bản án phúc thẩm số 68/KDTM-PT ngày 12/7/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh:
- “…Hai hợp đồng mua bán số 241/03-VU và 243/3-VU
mua hóa chất có tên Myflame 84527E dùng cho nguyên liệu vải Polyester
và Oxphor. Nhưng lại ghi trong hợp đồng và trong bill nhận hàng là chất
Myflame 84527E dùng cho nguyên liệu PO (da thuộc). Nguyên liệu PO không
tồn tại trên thị trường 30 năm và không có thực. Hai hợp đồng nêu trên
đều do Công ty TNHH Connell Bros soạn thảo, đánh máy và ký sau đó đưa
cho Công ty Việt Á Châu ký. Như vậy, bị đơn bán hóa chất Myflame 84527E
dùng cho PO. Còn nguyên đơn mua hoá chất Myflame 84527E dùng cho vải
sợi Polyester và Oxphor nhưng nhầm lẫn. Cho dù nguyên đơn có chứng minh
được rằng, trước khi ký hai hợp đồng nêu trên và sau hai hợp đồng đó
vẫn tiếp tục ký các hợp đồng mua chất Myflame 84527E dùng cho vải
Polyester và Oxphor và đã đưa vào sản xuất, sản phẩm không bị hư hại.
Như vậy, phía Công ty Connell Bros đã bán sản phẩm Myflame 84527E không
đúng chất lượng, đưa vào sản xuất đã gây thiệt hại 121.000USD ngoài hợp
đồng là lỗi hoàn toàn thuộc Công ty Connell Bros. Công ty Connell Bros
biết rõ chất Myflame 84527E đã bán cho Công ty Việt Á Châu, không thể
cho rằng Công ty Việt Á Châu mua hàng phải biết mua hàng gì. Rõ ràng,
trong hợp đồng đều ghi chất Myflame 84527E chỉ dùng cho PO: “Special
notes the Materials for PO Suynthere loather product”. Do vậy, bản án
kinh tế – thương mại sơ thẩm số 380/KDTM ngày 01/8/2006 của Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào điều 141 Bộ luật Dân sự (1995)
và tuyên bố hai hợp đồng 241 và 243 nêu trên vô hiệu là có cơ sở…”
- “Xét kháng cáo của Công ty Connell Bros cho rằng
trong hợp đồng ghi rõ là PO nên đã bán nguyên liệu dùng cho PO, phía
nguyên đơn dùng cho nguyên liệu PU là không đúng. Tại phiên tòa này,
phía Công ty Connell Bros cho rằng đánh máy nhầm lẫn thành chữ PO. Sự
nhầm lẫn này không ảnh hưởng đến các điều khoản trong hợp đồng. Đồng
thời đổ lỗi cho bị đơn mua hàng phải biết rõ mình mua hàng gì và dùng
cho vật liệu PO hoặc PU, còn người bán không chịu trách nhiệm. Kháng
cáo của Công ty Connell Bros là không thể chấp nhận được. Bởi lẽ, Công
ty Việt Á Châu từ trước đến nay đã ký nhiều hợp đồng mua chất Myflame
84527E chỉ dùng cho PU với Công ty Connell Bros. Công ty Connell Bros
biết rõ điều đó và đã thừa nhận bán chất Myflame 84527E dùng cho PU,
nhưng hợp đồng do đánh máy lầm nên ghi chữ PO là nguyên liệu không có
thực, Công ty Connell Bros cùng là người soạn thảo hợp đồng, người giao
hàng, đồng thời là người xuống kiểm tra thực trạng lô hàng đưa vào sản
xuất làm hư hại cho 100.000m vải Polyester trị giá 121.000 USD thiệt
hại cho Công ty Việt Á Châu. Công ty Connell Bros nhiều lần hứa bồi
thường 7 tấn chất Myflame 84527E và xác định chất Myflame 84527E bán là
không đúng chất lượng (giám định của chuyên gia bên Công ty Connell
Bros, cũng như giám định sau này của VINACONTROL). Công ty Connell Bros
hứa bồi thường thiệt hại, nay lại chối bỏ, không thừa nhận, đổ lỗi cho
Công ty Việt Á Châu không sản xuất thử nghiệm, không kiểm tra thiết bị
của Công ty. Những vấn đề đưa ra chỉ là sự đối phó cho những thiệt hại
mà trước đó Công ty Connell Bros thừa nhận đã làm thiệt hại cho Công ty
Việt Á Châu…”
- “Xét thấy Công ty Việt Á Châu cũng thừa nhận do
quá tin Công ty Connell Bros soạn thảo hợp đồng và do có mối quan hệ
mua bán lâu dài, đã ký nhiều hợp đồng với Công ty Connell Bros. Công ty
Việt Á Châu cũng cho rằng quá tin vào lời hứa của Công ty Connell Bros,
cũng như Công ty sản xuất chất Myflame 84527E đã kiểm tra, xác định
chất Myflame đã giao theo hợp đồng 241, 243 như đã ký kết là không đúng
chất lượng, đã hứa bồi thường. Sau đó, Công ty Connell Bros không chịu
bồi thường, nên mới cho giám định chất Myflame 84527E đã quá hạn sử
dụng. Lỗi một phần rõ ràng thuộc Công ty Việt Á Châu. Do vậy phải chịu
hậu quả thiệt hại phát sinh do hợp đồng vô hiệu như bản án sơ thẩm đã
tuyên là phù hợp…”
Căn cứ điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà tuyên:
“Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn Công
ty TNHH DV-TM-SX Việt Á Châu và kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH
Connell Bros và giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
1. Vô hiệu hợp đồng mua bán số 241/03-VU ký ngày
07/7/2003 và số 243/03-VU ký ngày 11/7/2003 giữa Công ty TNHH sản xuất
thương mại Việt Á Châu và Công ty TNHH Connell Bros. Việc xử lý hợp
đồng vô hiệu như sau:
a. Bác yêu cầu của Công ty TNHH DV-TM-SX Việt Á Châu trong việc đòi Công ty TNHH Connell Bros bồi thường thiệt hại 121.000USD.
b. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Connell Bros, buộc Công ty TNHH sản xuất thương mại Việt Á Châu thanh toán cho
Công ty Connell Bros 33 thùng Myflame 84527E và hoàn trả số tiền là
52.896 USD, trị giá của 76 thùng Myflame 84527E mà Công ty TNHH dịch vụ
thương mại sản xuất Việt Á Châu đã sử dụng4.
c. Thiệt hại phát sinh, các bên tự gánh chịu.
Các phần quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành”.
2. Bình luận vụ án
Trước tiên, phải thừa nhận rằng đây là một vụ kiện
phức tạp liên quan đến chất lượng hàng hóa trong hợp đồng: tranh chấp
giữa các bên phát sinh do hàng hóa là hóa chất Myflame 84527E mà bên
bán cung cấp cho bên mua không đảm bảo yêu cầu về chất lượng: “nguyên
liệu hóa chất này làm ra hàng phải đạt tiêu chuẩn hàng chống cháy, khô,
không dính ướt, không bị bong tróc”5; và tính phức tạp của
vụ việc ở chỗ các yêu cầu kỹ thuật đối với chất lượng của hàng hóa đã
không được quy định rõ trong hợp đồng. Theo như những tình tiết trong
vụ án, điều khoản chất lượng trong hợp đồng mua bán giữa hai bên chỉ
ghi đơn giản “theo Bản đặc điểm kỹ thuật” (same as specifications). Quy
định sơ sài này của hợp đồng đã dẫn đến những tranh cãi giữa các bên và
sự lúng túng của Tòa án6 trong việc xác định căn cứ để đánh
giá chất lượng của hóa chất Myflame 84527E khi mà có đến hai thông số
kỹ thuật khác nhau về độ nhớt của sản phẩm. Mặc dù phán quyết cuối cùng
của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đã có
hiệu lực pháp luật, với những tình tiết của vụ kiện, chúng tôi cho rằng
vẫn còn nhiều điều cần phải bàn luận.
Vấn đề thứ nhất, liệu rằng có các bên có sự
nhầm lần về đối tượng của hai hợp đồng mua bán số 241/03-VU ngày
7/7/2003 và 243/03-VU ngày 11/7/2003 hay không?
Vấn đề thứ hai, tiêu chí nào sẽ được lấy
làm căn cứ để để đánh giá chất lượng của hàng hóa của hai hợp đồng
trên? Vấn đề này chỉ có ý nghĩa khi hợp đồng không bị vô hiệu do nhầm
lẫn như quyết định của Tòa án xét xử sơ, phúc thẩm lần hai.
2.1. Yếu tố nhầm lẫn trong hợp đồng
Quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu khi có sự nhầm lẫn7
là nhằm đảm bảo cho hợp đồng được ký kết đúng, là sự thể hiện ý chí
đích thực của các bên tại thời điểm giao kết. Tuy nhiên, hợp đồng được
ký do sự nhầm lẫn của hai bên sẽ không mặc nhiên vô hiệu như các hợp
đồng được giao kết do bị lừa dối, đe dọa8. Khi hợp đồng được
ký kết do sự nhầm lẫn, cũng có một phần lỗi vô ý của bên bị nhầm lẫn.
Do đó, bên bị nhầm lẫn trước tiên phải đàm phán với bên còn lại về việc
sửa đổi những nhầm lẫn đó. Nếu yêu cầu thay đổi của bên bị nhầm lẫn
không được chấp nhận thì họ mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp
đồng vô hiệu. Quy định này là hợp lý và hoàn toàn phù hợp với nguyên
tắc thiện chí, trung thực. Mặt khác, không thể nói các bên ký kết là
bình đẳng và tự nguyện trong ký kết hợp đồng khi một trong các bên có
sự nhầm lẫn vì đã không ở một vị trí bình đẳng với bên kia trong vấn đề
tiếp nhận những thông tin liên quan đến giao dịch. Điều này dẫn đến
việc họ đã ký kết hợp đồng dưới sự tác động của sự nhận thức sai lầm,
do đó, khó có thể nói bên bị nhầm lẫn hoàn toàn tự nguyện khi ký kết hợp đồng.
Trong vụ kiện trên, Tòa án đã nhận định cả hai bên
đều có sự nhầm lẫn về tác dụng của hóa chất Myflame 84527E (dùng cho PO
– da thuộc hay vải sợi Polyester – Oxford) và đã tuyên hai hợp đồng
241/03-VU và 243/03-VU vô hiệu mà không cần yêu cầu của bất kỳ bên nào
(trình bày của Bản án còn cho thấy cả hai bên đều khẳng định hợp đồng
có hiệu lực). Theo chúng tôi, trong vụ này, Tòa án đã giải quyết không
đúng về mặt trình tự thủ tục và không đúng với nguyên tắc tôn trọng
quyền quyết định và định đoạt của đương sự9 (Tòa đã giải
quyết vượt quá phạm vi yêu cầu của các bên đương sự). Ngoài điểm gây
tranh cãi trên, căn cứ để Tòa tuyên hợp đồng vô hiệu cũng là một vấn đề
cần được xem xét lại.
Theo nội dung của Bản án trên, Hội đồng xét xử đã
tuyên bố hợp đồng vô hiệu dựa trên nhận định “sự đánh máy lầm lẫn” chữ
PU (vải da tổng hợp) thành PO (da thuộc) – PO là nguyên liệu đã không
tồn tại trên thị trường 30 năm và không có thực. Đây là chỉ lỗi kỹ
thuật của nhân viên đánh máy (ngay cả Bản án của các Tòa án giải quyết
vụ tranh chấp cũng mắc phải) mà đã được cả hai bên thừa nhận, các bên
tại phiên tòa đều đồng ý ký hiệu đúng phải là PU (polyurethane)10.
Hơn nữa, lỗi kỹ thuật này đó cũng có thể xuất phát từ chính đối tượng
là vải Polyester và Oxford bởi vì chữ Poly Oxford có thể được các bên
viết tắt thành PO. Mặc dù giả thiết này khó chứng minh, nhưng Tòa án
cũng cần phải đặt ra để xem xét, có như vậy thì các tình tiết của vụ án
mới được xem xét một cách kỹ lưỡng và toàn diện. Tuy nhiên, việc xác
định nguyên nhân của việc đánh máy nhầm không phải là vấn đề thiết yếu
đáng quan tâm trong vụ án. Điều cần làm rõ ở đây là cần hiểu thế nào là
“nhầm lẫn” – căn cứ để tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn?
Theo Bộ nguyên tắc UNIDROIT thì nhầm lẫn là “sự tin nhầm về sự việc hoặc về pháp luật tồn tại vào thời điểm giao kết hợp đồng”11, nghĩa là sự hiểu không đúng về nội dung, bản chất của sự vật, sự việc hay nhầm lẫn về pháp luật;
việc nhầm lẫn về mặt hình thức cũng có thể làm hợp đồng vô hiệu khi nó
là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự hiểu sai về nội dung. Bộ luật dân
sự Việt Nam không quy định riêng một điều khoản “khái niệm nhầm lẫn”
như Bộ nguyên tắc UNIDROIT nhưng Điều 131 của Bộ luật Dân sự (Điều 141
Bộ luật Dân sự 1995) đều cho thấy nhầm lẫn ở đây phải là một nhầm lẫn
về nội dung, bản chất của giao
dịch, chứ không phải là một lỗi kỹ thuật trong đánh máy. Vấn đề còn lại
là các bên có sự nhầm lẫn về mặt nội dung hay không? Bên mua – Công ty
Việt Á Châu – khẳng định Công ty mua hóa chất Myflame 84527E để
dùng cho vải Polyester và Oxford. Về phía bên bán, Hội đồng xét xử cũng
nhận định Công ty Connell không có sự nhầm lẫn về nội dung chất PU hay
PO: “… Bởi lẽ Công ty Việt Á Châu từ trước đến nay đã ký nhiều hợp đồng
mua chất Myflame 84527E chỉ dùng cho PU với Công ty Connell Bros. Công
ty Connell Bros biết rõ điều đó và đã thừa nhận bán chất Myflame 84527E
dùng cho PU, nhưng hợp đồng do đánh máy lầm nên ghi chữ PO là nguyên
liệu không có thực…” (vấn đề này sẽ được tiếp tục làm rõ ở phần sau).
Vì thế, chúng tôi cho rằng việc phán quyết hợp đồng vô hiệu của Tòa án
là không có tính thuyết phục và có nhiều mâu thuẫn.
2.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng
Mục đích của chúng tôi khi xem xét vụ án trên là
thông qua vụ án này để góp phần tìm hiểu về giải pháp được pháp luật
đưa ra đối với những trường hợp tranh chấp của các bên về một nội dung
không được thỏa thuận rõ trong hợp đồng, trong trường hợp cụ thể của vụ
án này là thỏa thuận về chất lượng hàng hóa mà các bên tiến hành mua bán12.
Theo những ghi nhận trong Bản án trên và các Bản án
của các Tòa xét xử vụ kiện trước đó, điều khoản về chất lượng được ghi
trong hợp đồng chỉ quy định một cách ngắn gọn: “theo Bản đặc điểm kỹ
thuật”. Cũng qua những ghi nhận của các Bản án, hóa chất Myflame 84527E
có hai thông số kỹ thuật khác nhau về độ nhớt của hóa chất:
- Bản dữ liệu kỹ thuật Myflame 84527E cấp tháng 5/2002, có độ nhớt 95 poise.
- Bản dữ liệu kỹ thuật Myflame 84527E cấp tháng
7/2002, có độ nhớt 115 poise. (Bản được cấp cho hai hợp đồng đang xảy
ra tranh chấp)
- Bản dữ liệu kỹ thuật Myflame 84527E cấp tháng 10/2002, có độ nhớt 95 poise13.
Điểm kỳ lạ này đã được Cơ quan giám định VINACONTROL
lưu ý trong kết luận giám định: “… Myflame là hỗn hợp làm chậm quá
trình cháy, còn số 84527E là số sản phẩm. Thông thường mỗi sản phẩm chỉ
có một độ nhớt nhất định. Tuy nhiên, sản phẩm Myflame 84527E mà các bên
giao dịch lại có hai số độ nhớt là 95 poise và 115 poise”14.
Mặc dù kết luận của cơ quan giám định không xác định được thông số cụ
thể để đánh giá chất lượng của hàng hóa, chúng tôi vẫn đánh giá rất cao
kết luận trên vì nó đã cung cấp một cơ sở quan trọng cho việc tìm ra
tiêu chí hợp lý để đánh giá chất lượng của hàng hóa Myflame 84527E, đó
là “thông thường mỗi sản phẩm chỉ có một độ nhớt nhất định”. Như vậy, hoàn toàn có cơ sở để lựa chọn một trong hai độ nhớt trên để làm căn cứ “nhất định”
của sản phẩm Myflame 84527E. Điều này cũng phù hợp với tập quán thương
mại chung và nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất của hệ thống tiêu chuẩn
khi xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật15.
Chúng tôi cho rằng thông số độ nhớt 95 poise là
thông số nên được sử dụng như là một tiêu chí thống nhất để xác định độ
nhớt của hóa chất Myflame 84527E dựa trên những tình tiết của vụ kiện
và các luận cứ sau:
Thứ nhất, độ nhớt 95 poise là độ nhớt chủ
yếu được nhà sản xuất sử dụng để xác định độ nhớt của hóa chất Myflame:
Trong ba Bản đặc điểm kỹ thuật thì có hai bản ghi độ nhớt là 95 poise.
Thứ hai, độ nhớt 95 poise được coi là một điều khoản hiểu ngầm của các bên do các bên đã hình thành với nhau một thói quen thương mại16:
(i) Trước khi ký hai hợp đồng đang tranh chấp (độ nhớt 115 poise) thì
hai bên đã ký với nhau những hợp đồng tương tự để mua hóa chất Myflame
84527E để bên mua dùng cho việc gia công chất chống cháy lên vải
Poly-Oxford và độ nhớt của hóa chất Myflame 84527E ở các hợp đồng nói
trên đều là 95 poise; (ii) Thay đổi độ nhớt từ 95 poise lên 115 poise
đã không được bên bán thông báo cho bên mua biết như một thay đổi trong
hợp đồng và thói quen của các bên. Theo chúng tôi, đây là sự tắc trách
của bên bán trong việc tuân thủ nguyên tắc thiện chí và trung thực
trong hoạt động thương mại. Vì thế, việc bên mua không chấp nhận độ
nhớt 115 poise là hợp lý.
Trong trường hợp này, có thể xem hóa chất Myflame
84527E (độ nhớt 95 poise) mà bên mua đã mua của Công ty Connell Bros
trước hai hợp đồng đang tranh chấp là mẫu hàng hóa mà bên bán đã cung
cấp cho bên mua, và việc gia công cán phủ bằng hóa chất Myflame 84527E
có độ nhớt 95 poise thành công là nguyên nhân để bên mua tiếp tục ký
các hợp đồng mua loại hóa chất này. Vì vậy, bên bán sẽ phải cung cấp
hàng hóa phù hợp với mẫu hàng hóa. Đây là yêu cầu của nguyên tắc thiện
chí, trung thực và là một trong những tiêu chí để xác định chất lượng
của hàng hóa trong trường hợp hợp đồng không có thỏa thuận được quy
định tại Điều 39 Luật Thương mại 200517. Tuy nhiên, thật
đáng tiếc là vụ việc xảy ra khi Luật Thương mại 2005 chưa có hiệu lực,
mà Luật Thương mại 1997 lại không quy định những nội dung như Điều 39
của Luật Thương mại 2005.
Bên cạnh quy định về nghĩa vụ cung cấp hàng hóa có
chất lượng như hàng mẫu, Điều 39 Luật Thương mại 2005 còn quy định
người bán phải cung cấp hàng hóa có chất lượng phù hợpvới mục đích cụ thể mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Nếu quy định này được áp dụng cho vụ án thì có thể kết quả của vụ án sẽ
khác đi và lúng túng của Tòa án về đối tượng của hợp đồng có thể sẽ
được giải quyết một cách nhanh chóng và thuyết phục. Bởi, quy định nói
trên là căn cứ pháp lý quan trọng để Tòa án có thể đưa ra kết luận mục
đích cụ thể của hợp đồng là “dùng cho vải Polyester và Oxford”.
3. Kết luận
Chúng tôi cho rằng, cách giải quyết vụ kiện theo
hướng tuyên vô hiệu hợp đồng là không hợp lý và đã không giải quyết
được triệt để tranh chấp của các bên. Trong vụ kiện này, yêu cầu của
bên nguyên đơn (bên mua) là đòi bồi thường thiệt hại do hàng hóa không
đúng chất lượng và phía bị đơn (bên bán) có yêu cầu phản tố đòi bên
nguyên đơn phải thanh toán tiền mua hàng hóa mà nguyên đơn còn thiếu.
Hơn nữa, Tòa án giải quyết vụ tranh chấp trên đã không xem xét toàn
diện các chứng cứ và tình tiết của vụ án, mà chỉ lý giải các tình tiết
của vụ việc một cách chủ quan. Điều này đã dẫn đến những mâu thuẫn,
luẩn quẩn trong chính những lập luận và nhận định của Tòa án, làm cho
Bản án của Tòa không có tính logic pháp lý và tính thuyết phục cao.
Những nội dung của Điều 39 Luật Thương mại 2005 là
những nội dung mới được bổ sung mà Luật Thương mại 1997 trước đây không
có. Như trình bày ở phần trên, nếu các nội dung tại Điều 39 được áp
dụng thì có thể việc giải quyết vụ án trở nên đơn giản hơn, tránh được
những mâu thuẫn và lúng túng của Tòa án, nhất là đối với việc xác định
mục đích sử dụng của chất Myflame 84527E trong hợp đồng. Mặc dù những
kết quả tương tự cũng có thể đạt được nếu vận dụng những quy định về
giải thích hợp đồng của Bộ luật Dân sự 199518, tuy nhiên quy
định rõ ràng của Điều 39 Luật Thương mại 2005 sẽ giúp Tòa án không phải
mất thời gian cho việc giải thích điều khoản hợp đồng.
Chú thích:
(1) Xem Bản án số 245/KTST ngày 28/9/2004 của Tòa án nhân dân TP.HCM.
(2) Xem Bản án số 37/KTPT ngày 20/10/2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM.
(3) Xem Bản án số 380/2006/KDTM-ST ngày
01/8/2006 Tòa án nhân dân TP.HCM và Bản án phúc thẩm số 68/2007/KDTM-PT
ngày 12/7/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM.
(4) Được sửa lại theo Thông báo sửa chữa, bổ
sung bản án phúc thẩm số 420 ngày 30/7/2007 là: “Chấp nhận một phần yêu
cầu phản tố của Công ty TNHH Connell Bros, buộc Công ty TNHH sản xuất
thương mại Việt Á Châu có nghĩa vụ hoàn trả Công ty TNHH Connell Bros
33 thùng Myflame và số tiền là 52.896 USD, trị giá 76 thùng Myflame
84527E mà Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu đã sử
dụng”.
(5) Lời trình bày của nguyên đơn được ghi nhận trong Bản án phúc thẩm số 37/KTPT ngày 12/5/2005.
(6) Xem Bản án số 245/KTST ngày 28/9/2004 (sơ thẩm lần thứ nhất) và Bản án số 37/KTPT ngày 12/5/2005 (phúc thẩm lần thứ nhất).
(7) Điều 131 Bộ luật Dân sự 2005 (Điều 141 Bộ luật Dân sự 1995).
(8) Xem Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005 (Điều 142 Bộ luật Dân sự 1995).
(9) Xem điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự 2004.
(10) Được thể hiện rất rõ trong Bản án sơ thẩm số 380/KDTM-ST ngày 01/8/2006 Tòa án nhân dân TP.HCM.
(11) Điều 3.4 Bộ nguyên tắc của UNIDROIT.
(12) Bản án sơ thẩm số 245/KTST ngày 28/9/2004,
Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh có viết: “… Hội đồng xét xử nhận thấy
các bên đã không thỏa thuận và ghi rõ những chỉ số và đặc tính kỹ thuật
chi tiết của hóa chất Myflame 84527E mà các bên mua bán nên không có cơ
sở để so sánh và xác định.”
(13) Xem Bản án số 37/KTPT ngày 12/5/2005. Thuật ngữ “Bản dữ liệu kỹ thuật” trong các bản án dùng để chỉ Bản đặc điểm kỹ thuật.
(14) Xem Bản án số 380/2006/KDTM-ST ngày 01/8/2006.
(15) Xem Điều 6.4 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
(16) Xem Điều 409 Bộ luật Dân sự 2005 (Điều 408
Bộ luật Dân sự 1995); Điều 8, 9 Công ước Viên; Điều 1.9, 1.10, 4.2,
4.3, 4.4, 4.6 Bộ nguyên tắc UNIDROIT .
(17) Điều 35.2 Công ước Viên 1980.
(18) Giải thích điều khoản hợp đồng về ký hiệu
PU hay PO có thể dựa vào quy định tại Điều 408.1 Bộ luật Dân sự 1995
(tiêu chí ý chí chung của các bên). Để xác định PU là “da thuộc tổng
hợp” hay “vải Poly-Oxford” có thể dựa vào quy định tại Điều 135.2 và
Điều 408 Bộ luật Dân sự 1995 (tiêu chí bảo vệ bên yếu thế và tiêu chí
tập quán mua bán đã được xác lập từ trước giữa hai bên).
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - TRẦN PHƯƠNG HẠNH – Khoa Luật Thương mại, Đại học Luật TPHCM
Trích dẫn từ:http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/hop-111ong-bi-tuyen-vo-hieu-do-nham-lan-nhin-tu-quy-111inh-ve-xac-111inh-chat-luong-hang-hoa-trong-hop-111ong