Hợp đồng lao động!
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp ( còn gọi là người sử dụng lao động) và người lao động. Hợp đồng lao động về nguyên tắc phải nằm trong khuôn khổ qui định tại Bộ luật lao động. Đây là một văn bản hành chính pháp lý quan trọng mà ai cũng nên tìm hiểu.
Luật sư Trần Hồng Phong giới thiệu
3 loại hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao
động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
trong quan hệ lao động.
Xét về thời gian, có các loại Hợp đồng lao động sau đây:
1. Hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trong hợp đồng, hai
bên ( người lao động và người sử dụng lao động) không xác định thời hạn, thời
điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
2. Hợp đồng lao động xác định thời hạn. Trong hợp đồng hai bên xác
định rõ thời hạn, thời điểm chấm dứt hợp đồng. Theo qui định, thời hạn thỏa
thuận phải từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
Khi hợp đồng lao động như hai trường hợp trên hết hạn, và người lao động vẫn
tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng hết hạn, hai
bên phải ký kết hợp đồng lao động mới. Nếu không ký kết hợp đồng lao động mới,
thì hợp đồng đã giao kết hiển nhiên được xem như trở thành hợp đồng lao động
không xác định thời hạn.
Trường hợp hai bên tiếp tục ký kết hợp đồng lao động mới với thời hạn được
xác định (theo qui định như trên, từ 12-36 tháng) - thì cũng chỉ được ký thêm
một lần nữa. Sau đó, nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì hai bên bắt
buộc phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Điều này có thể
hiểu một cách nôm na là : hợp đồng lao động có thời hạn không thể tái ký quá 2
lần.
3. Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định. Loại
hợp đồng này có thời hạn dưới 12 tháng.
Lưu ý là không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một
công việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính
chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế
người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản hoặc nghỉ
việc có tính chất tạm thời khác.
Hình thức và nội dung hợp đồng lao động
Về nguyên tắc, hợp đồng lao động phải được ký kết bằng văn bản và phải
được làm thành hai bản, mỗi bên giữ một bản. Nếu vì lý do nào đó mà hai bên
không ký hợp đồng lao động bằng văn bản thì khi xảy ra tranh chấp, cơ quan chức
năng vẫn xem như giữa hai bên có một bản hợp đồng lao động – theo dạng không
xác định thời hạn, và giải quyết dựa trên diễn biến thực tế ( về tiền lương,
thời gian làm việc …) và qui định tại Bộ luật lao động (về chế độ, thời gian
nghỉ phép, các nguyên tắc chung …).
Đối với một số công việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới ba tháng
hoặc đối với lao động giúp việc gia đình thì các bên có thể giao kết bằng
miệng. Trong trường hợp giao kết bằng miệng, thì các bên đương nhiên phải tuân
theo các quy định của pháp luật lao động.
Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
- Công việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.
- Tiền lương, địa điểm làm việc
- Thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo
hiểm xã hội đối với người lao động.
Thời gian thử việc không quá 60 ngày
Trước khi ký hợp đồng lao động chính thức, người sử dụng lao động và người
lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, thời gian thử việc, bao gồm quyền
và nghĩa vụ của hai bên trong thời gian này.
Thời gian thử việc không được quá 60 ngày đối với lao động chuyên môn kỹ
thuật cao ( lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên) và không được
quá 30 ngày đối với lao động khác.
Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc ít nhất phải bằng 70%
mức lương mà người sử dụng dự định trả cho vị trí thử việc (nếu thử việc thành
công).
Trong thời gian thử việc, mỗi bên đều có quyền huỷ bỏ thoả thuận làm thử mà
không cần báo trước, không cần nêu rõ lý do và không phải bồi thường nếu việc
làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.
Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải nhận người lao
động vào làm việc chính thức như đã thoả thuận.
Tạm hoãn hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động được tạm hoãn thực hiện trong những trường hợp sau đây:
- Người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự.
- Người lao động bị tạm giữ, tạm giam;
- Do hai bên thoả thuận.
Khi hết thời gian tạm hoãn, người sử dụng lao động phải nhận người lao động
trở lại làm việc.
Chấm dứt hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động chấm dứt trong những trường hợp sau đây:
- Hết hạn hợp đồng – đối với hợp đồng có thời hạn.
- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng – đối với hợp đồng thời vụ.
- Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng – đối với tất cả các loại hợp đồng
lao động.
- Người lao động bị kết án tù giam hoặc bị cấm làm công việc cũ theo quyết
định của Toà án;
- Người lao động chết; mất tích theo tuyên bố của Toà án.
Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường
xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có
trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với
phụ cấp lương (nếu có). Trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động
vi phạm kỷ luật, bị sa thải thì người lao động không được trợ cấp thôi việc.
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
Người lao động làm việc theo dạng hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc
hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:
- Không được bố trí theo đúng công việc, điều kiện làm việc, không được trả
lương đầy đủ … như đã thỏa thuận trong hợp đồng;
- Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục
thực hiện hợp đồng;
- Là lao động nữ, có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc;
- Bị ốm đau, tai nạn đã điều trị ba tháng liền.
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng, người lao động phải báo trước từ 3 – 30
ngày, tùy theo loại hợp đồng.
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao
động
Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong
những trường hợp sau đây:
- Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;
- Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải - theo quy định tại Bộ luật lao
động;
- Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau
đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định
thời hạn ( từ 12 -36 tháng) ốm đau đã điều trị 6 tháng liền và người lao động
làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có
thời hạn dưới 12 tháng ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động,
mà khả năng lao động chưa hồi phục.
- Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định
của Chính phủ, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng
vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
- Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo
cho người lao động biết trước:
- Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
- Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng
đến 36 tháng;
- Ít nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công
việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng".
Người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
trong những trường hợp người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của thầy thuốc, người lao
động đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và người lao động là nữ đang trong
trường hợp nghỉ thai sản – theo qui định tại Bộ luật lao động.
Lưu ý : Mỗi bên có thể từ bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
trước khi hết thời hạn báo trước. Khi hết thời hạn báo trước, mỗi bên đều có
quyền chấm dứt hợp đồng lao động.
( Theo Bộ luật lao động)
----------------------------------------------------------------------
(Nguồn: Ecolaw.vn)