Hợp đồng REPO chứng khoán và việc sửa chế định hợp đồng chuộc lại tài sản trong bộ luật dân sự năm 2005
1. Đầu năm 2007, khi thị trường chứng khoán (TTCK) đang sôi động, tính thanh khoản cao, nhiều Công ty chứng khoán (CTCK) đã chào bán một dịch vụ mới cho các nhà đầu tư tại Việt Nam là dịch vụ repo chứng khoán. Hầu hết các CTCK đều quảng bá rầm rộ dịch vụ này với lợi thế hấp dẫn là khách hàng có thể có được một khoản tiền lớn hơn so với dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán mà thủ tục lại đơn giản, thuận tiện, nhanh gọn.
Tuy nhiên, sau năm 2007, TTCK Việt Nam lao dốc liên
tục. Nhiều CTCK trước đó đã cho khách hàng repo đến giới hạn nguy hiểm
và vì vậy, đã tự đẩy mình vào bờ vực phá sản khi cho khách hàng repo tới
hàng ngàn tỷ đồng. Trước tình hình đó, ngày 27/5/2008, Uỷ ban Chứng
khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 990/UBCK-QLKD yêu cầu các CTCK
phải dừng ký mới các hợp đồng repo cổ phiếu. Yêu cầu này được đưa ra
sau khi VN-Index mất gần 100 điểm trong vòng một tháng. Công văn này ra
đời là do UBCKNN lo sợ TTCK sẽ giảm sâu hơn nữa từ những tác động của
hoạt động thế chấp, cầm cố và repo chứng khoán. Sang đầu năm 2009, khi
TTCK có dấu hiệu phục hồi, các CTCK rục rịch khởi động lại dịch vụ repo.
Trên thực tế, dù trong thời gian qua, hợp đồng repo
chứng khoán đã được nhiều CTCK triển khai mạnh, nhưng một quy chế pháp
lý cho loại hợp đồng này vẫn chưa được thiết lập. Bởi vậy, việc ký kết
các hợp đồng repo trên TTCK hiện đang ở trong tình trạng mạnh ai nấy
làm, không theo một “quy chuẩn” pháp lý nào. Chính vì chưa có bất cứ một
hướng dẫn nào từ cơ quan có thẩm quyền, nên các CTCK đã tự soạn sẵn
những hợp đồng repo với tính chất như một hợp đồng mẫu, trong đó thiết
kế những điều khoản có lợi cho mình để các nhà đầu tư ký. Hệ quả là khi
xảy ra tranh chấp, nhà đầu tư (trong đó có không ít nhà đầu tư nhỏ lẻ,
ít vốn, ít kinh nghiệm, thiếu thông tin) sẽ là người bị thua thiệt. Vì
vậy, trong một động thái thận trọng, cuối tháng 5/2009, một lần nữa
UBCKNN lại có công văn yêu cầu các CTCK không được ký mới các hợp đồng
repo. Được biết, từ vài năm nay, Bộ Tài chính đang dự kiến ban hành một
thông tư hướng dẫn giao dịch mua bán lại chứng khoán nhưng cho đến nay,
dự thảo này vẫn chưa được thông qua.
2. Trong khi hợp đồng repo cổ
phiếu vẫn đang loay hoay chưa tìm được cho mình một vị thế pháp lý thích
hợp để tồn tại trong TTCK, thì từ tháng 7/2009, một số công ty bất động
sản lại chào bán với các nhà đầu tư một dịch vụ mới mang tên repo bất
động sản. Cũng bằng việc quảng cáo những lợi thế của dịch vụ repo (như
tiền vay được nhiều hơn so với thế chấp bất động sản, thủ tục thuận lợi,
nhanh chóng, nhà đầu tư không mất quyền sở hữu với bất động sản của
mình) mà các công ty bất động sản đã thu hút được khá nhiều khách hàng
đến với dịch vụ này. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nghiệp vụ repo
bất động sản, đã xuất hiện nhiều vấn đề chưa rõ ràng về khía cạnh pháp
lý của hợp đồng repo, đặc biệt là sự không rõ ràng liên quan đến việc
chuyển dịch quyền sở hữu khiến người có tài sản có nguy cơ bị đẩy vào
tình trạng bị mất nhà, mất đất một cách “hợp pháp” khi vào lúc đáo hạn
hợp đồng, họ không có đủ tiền để mua lại tài sản.
3. Số phận “thăng trầm” của hợp đồng
repo cùng với những hệ lụy của nó khiến người ta không thể không đặt ra
một số câu hỏi : Hợp đồng repo đáp ứng kỳ vọng gì của thị trường mà
thời gian qua nó trở nên sôi động không chỉ trong lĩnh vực chứng khoán
mà còn trong lĩnh vực đầu tư bất động sản? Trong khi thị trường “nóng”
với hợp đồng repo thì tại sao cơ quan nhà nước lại luôn có động thái
“kìm hãm” nó? Dưới góc độ pháp lý, bản chất của hợp đồng repo là gì? Về
kỹ thuật lập pháp, nếu cho rằng thực tiễn đòi hỏi cần có loại hợp đồng
này, thì có nhất thiết phải “pháp điển hoá” nó trong một đạo luật hay
không? Và cuối cùng, để định hình một khung pháp lý cho hoạt động đó,
thì những nội dung nào cần phải được thiết lập trong quan hệ hợp đồng
giữa các bên?
Trong bối cảnh Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) đang
được nghiên cứu để bổ sung, sửa đổi (đặc biệt đối với hai chế định quyền
sở hữu tài sản và hợp đồng), bài viết này tiếp cận vấn đề hợp đồng repo
dưới góc độ pháp lý, nhưng không chỉ xem xét nó trong phạm vi hẹp của
lĩnh vực đầu tư chứng khoán hay bất động sản, mà nhìn nhận nó ở góc độ
khái quát hơn, trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản nói chung,
nhằm bước đầu định dạng khuôn khổ pháp lý cho loại hợp đồng này trong
hệ thống pháp luật Việt Nam.
I. HỢP ĐỒNG REPO CHỨNG KHOÁN VÀ REPO BẤT ĐỘNG SẢN
Hợp đồng repo chứng khoán là gì?
4. Hợp đồng repo1 là một
loại hợp đồng giao dịch chứng khoán có kỳ hạn, theo đó, nhà đầu tư có
thể bán các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu…) của mình với cam
kết mua lại chúng trong một khoảng thời gian nhất định với giá cao hơn
giá bán ban đầu (theo thoả thuận với CTCK). Dưới góc độ tài chính, repo
thực chất là nghiệp vụ phái sinh từ các nghiệp vụ cho vay có bảo đảm và
được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tài chính trên thế giới.
5. Về bản chất, giao dịch repo chứng
khoán là việc nhà đầu tư (người có tài sản nhưng đang thiếu tiền để
kinh doanh) dùng chứng khoán của mình “tạm bán” hoặc “bán có thời hạn”
cho CTCK (người có sẵn tiền nhưng không có tài sản) với cam kết sẽ mua
lại số chứng khoán đó sau một thời gian. Việc “bán có thời hạn” trong
hợp đồng repo bao giờ cũng kèm theo một “lời hứa” của người bán sẽ mua
lại số chứng khoán này khi hợp đồng repo đáo hạn.
Nếu nhìn vào hình thức của giao dịch nói trên, người tiêu dùng dịch vụ2
dễ lầm hợp đồng repo với hợp đồng cho vay cầm cố chứng khoán, bởi lẽ cả
hai hợp đồng này đều nhằm mục đích vay tiền và đều có sự chuyển giao
tài sản tạm thời từ người bán (hay người cầm cố) sang cho người mua (hay
người nhận cầm cố). Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, hợp đồng repo chứng
khoán có một số điểm khác biệt quan trọng so với một hợp đồng cho vay
cầm cố thông thường.
Những đặc trưng cơ bản của hợp đồng repo chứng khoán
6. Thứ nhất, trong hợp đồng
repo, luôn có sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản từ người bán sang
người mua. Theo hợp đồng, trong thời hạn repo, người mua (CTCK và là
người cho vay) là chủ sở hữu của tài sản, người bán (nhà đầu tư và là
người vay) phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán cho
người mua. Trong thời hạn hợp đồng, bên mua chịu rủi ro và được hưởng
những lợi ích phát sinh từ tài sản. Đây là điểm khác biệt so với cầm cố
chứng khoán vì khi cầm cố, người vay vẫn là chủ sở hữu cổ phiếu còn CTCK
chỉ là người “giữ” cổ phiếu mà thôi.
Thứ hai, nếu trong hợp đồng cho vay cầm cố,
CTCK được “giữ” cổ phiếu của người vay nhưng không được phép dùng cổ
phiếu này để kinh doanh, thì ở hợp đồng repo, CTCK được sử dụng cổ phiếu
để kinh doanh kiếm lời trong thời hạn hợp đồng.
Thứ ba, tuy quan hệ giữa các bên trong hợp
đồng repo là quan hệ mua – bán, nhưng quyền, nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng này không hẳn giống với quyền, nghĩa vụ của các bên trong một
hợp đồng mua bán thông thường. Nếu như ở hợp đồng mua bán thông thường,
sau khi chuyển quyền sở hữu tài sản cho người mua, người bán không còn
được hưởng những lợi ích phát sinh từ tài sản (kể cả lợi ích phát sinh
từ trước hay sau khi bán) thì trong hợp đồng repo, mặc dù đã chuyển
quyền sở hữu chứng khoán sang cho người mua, nhưng người bán vẫn tiếp
tục được hưởng cổ tức và một số quyền lợi khác phát sinh (trước đó) từ
số cổ phiếu mà họ đã chuyển nhượng cho CTCK (như quyền tham dự đại hội
đồng cổ đông, quyền bỏ phiếu v.v..). Đây chính là điểm khác biệt có tính
chất đặc thù của hợp đồng repo, khiến cho loại hợp đồng này khác hẳn
một hợp đồng mua bán thông thường.
7. Trong hợp đồng repo, yếu tố quan
trọng nhất mà cả hai bên đều quan tâm – mà thiếu nó, hợp đồng repo sẽ
mất đi sự linh hoạt và tính cạnh tranh so với các hình thức cho vay khác
– đó là giá repo. Bởi, trên cơ sở giá này, cả hai bên sẽ cùng thiết lập
một công thức tính giá sao cho đảm bảo được lợi ích của cả hai khi giao
kết hợp đồng3.
Ý nghĩa thực tiễn của giao dịch repo chứng khoán
8. Mặc dù chỉ mới được áp dụng tại Việt Nam một vài năm qua như một nghiệp vụ phái sinh từ các nghiệp vụ cho vay có bảo đảm4,
nhưng repo là một công cụ đã được triển khai từ lâu trên thị trường tài
chính các nước. Với tính chất rất linh hoạt của mình, repo được coi là
một đòn bẩy về tài chính trên TTCK bởi nó đáp ứng được kỳ vọng của nhiều
bên trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận trên TTCK.
Về phía nhà đầu tư, repo cổ phiếu cho phép
họ không phải bán cổ phiếu với giá thấp khi cần tiền, vẫn có quyền sở
hữu đối với số cổ phiếu đã repo, tăng hiệu quả kinh doanh nhờ việc có
thêm một khoản tiền do repo cổ phiếu. Trong thời gian chuyển nhượng, nhà
đầu tư vẫn được hưởng cổ tức và quyền lợi phát sinh khác từ cổ phiếu
(như quyền dự họp đại hội đồng cổ đông, quyền biểu quyết v.v..). So với
việc vay cầm cố, với nghiệp vụ repo, nhà đầu tư sẽ có được khoản tiền
lớn hơn với lãi suất hấp dẫn hơn. Đó là chưa kể đến việc nếu được repo
với giá cao, nhà đầu tư sẽ tận dụng được tối đa nguồn vốn đầu tư đã bỏ
ra; và họ còn được các CTCK cung cấp thông tin đầy đủ, chi tiết liên
quan đến cổ phiếu mà họ đã repo.
Về phía các CTCK, nghiệp vụ repo cho phép CTCK có quyền kinh doanh chứng khoán đã mua trong suốt thời hạn của hợp đồng5,
điều này sẽ làm gia tăng lợi nhuận cho chính công ty. Đó là còn chưa kể
đến việc, với nghiệp vụ repo, một cách gián tiếp, CTCK đã trở thành một
chủ thể cho vay hợp pháp, điều mà trước đây chỉ có ngân hàng và các quỹ
tín dụng có được.
Về phía thị trường tiền tệ nói chung, nghiệp
vụ repo làm tăng tính thanh khoản cho thị trường và tạo điều kiện thuận
lợi cho nhà đầu tư tiếp cận vốn vay từ các CTCK nhờ việc cạnh tranh
giữa các công ty này trong nghiệp vụ repo.
Xét cả ở góc độ riêng của bên mua và bên bán cũng như
góc độ chung của thị trường tiền tệ, thực hiện nghiệp vụ repo cổ phiếu
cho phép cả “ba bên” đều có lợi. Điều này lý giải cho tình hình sôi động
của loại hợp đồng này trong thời gian qua.
Tuy nhiên, hợp đồng repo cũng có một số điểm hạn chế
đối với cả “ba bên” khiến cơ quan quản lý nhà nước lo ngại và đã phải sử
dụng đến biện pháp hành chính để can thiệp bằng hai công văn của UBCKNN
như đã nói ở trên.
Hạn chế của hợp đồng repo
9. Thông thường, hoạt động repo sẽ
mang lại lợi ích cho các bên nếu thị trường có tính thanh khoản cao. Tuy
nhiên, nếu tình hình thị trường ảm đạm như hai năm qua thì hiệu quả
kinh doanh qua nghiệp vụ repo của nhà đầu tư cũng giảm sút, khả năng có
tiền để mua lại cổ phiếu của mình sẽ khó thực hiện được, điều này đã tác
động đến hoạt động của chính CTCK. Tình trạng mất thanh khoản của thị
trường đã làm ảnh hưởng tới việc xử lý các hợp đồng repo.
Bên cạnh đó, việc các nhà đầu tư sử dụng nguồn vốn
vay được từ repo chứng khoán để rồi lại tiếp tục mua cổ phiếu để “lướt
sóng” khiến giá thị trường cổ phiếu bị đẩy lên, dẫn đến việc tăng giá ảo
chứ không phải giá cổ phiếu tăng do sự tăng trưởng thực sự của doanh
nghiệp. Dưới góc độ này, chính nghiệp vụ repo đã góp phần làm tăng ảo
giá cổ phiếu6.
Ngoài ra, repo là một hoạt động rất nhạy cảm và rủi
ro của nó không chỉ phụ thuộc vào “sức khoẻ” của các doanh nghiệp trong
nước, khả năng tài chính của nhà đầu tư hay trình độ quản lý của cơ quan
có thẩm quyền, mà nó bị tác động rất lớn từ tình hình kinh tế thế giới.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua đã khiến nhiều công ty rơi
vào tình trạng thua lỗ khiến giá cổ phiếu của nhiều doanh nghiệp giảm
mạnh, từ đó, nhiều hợp đồng repo không tất toán được, gây rủi ro không
chỉ cho nhà đầu tư mà còn cho bản thân các CTCK.
Tuy có những điểm hạn chế nêu trên, vẫn cần khẳng
định, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, hợp đồng repo là loại hợp
đồng đem lại cho các bên những lợi ích nhất định. Chính vì lẽ đó mà
trong thời gian qua, bên cạnh hình thức repo chứng khoán, thị trường bắt
đầu nổi lên hình thức repo trong lĩnh vực đầu tư bất động sản.
Hợp đồng repo bất động sản
10. Dưới danh nghĩa hợp đồng “hứa
mua hứa bán”, nhiều công ty kinh doanh bất động sản đã liên kết với một
hoặc nhiều ngân hàng thực hiện dịch vụ repo bất động sản. Dịch vụ repo
bất động sản thường được chào cho những khách hàng là cá nhân hay doanh
nghiệp trước đây thường vay vốn ngân hàng để mua bất động sản và phải
trả lãi vay ở mức khá cao.
Với hợp đồng repo bất động sản, khách hàng sau khi
bán bất động sản cho công ty để lấy tiền trả nợ trước hạn cho ngân hàng,
có thể vay lại với mức lãi suất ưu đãi hơn để rồi trở lại mua bất động
sản mà mình đã bán cho công ty. Về phía mình, công ty mua bất động sản
của khách hàng đồng thời sẵn sàng bán lại bất động sản này cho khách
hàng theo giá đã mua cộng với khoản phí 1% giá trị tài sản và một mức
lãi suất nhất định. Tính tất cả các khoản chi phí và lãi phải trả cho
công ty, cho ngân hàng, khách hàng vẫn được vay một khoản tiền với lãi
suất thấp hơn nhiều so với lãi suất trong hợp đồng vay thông thường.
Trong trường hợp người repo bất động sản không giữ lời “hứa mua lại” của
mình như thoả thuận, thì công ty bất động sản sẽ mua đứt bất động sản
này. Dưới góc độ tài chính, repo bất động sản được coi như một công cụ
lưu chuyển dòng vốn linh hoạt, cho phép nhà đầu tư có thêm một “kênh”
khác để tiếp cận vốn bên cạnh kênh truyền thống là ngân hàng.
11. Về lợi ích của hợp đồng repo, có
lẽ không có nhiều ý kiến trái chiều. Tuy nhiên, do chưa có một khung
pháp lý đủ để điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa các bên trong loại hợp
đồng này nên những rủi ro của nó cũng là vấn đề đáng quan ngại.
Dưới khía cạnh kỹ thuật, để đảm bảo an toàn cho hợp
đồng repo, nghĩa là bảo đảm rằng người bán sẽ phải giữ lời hứa trở lại
mua tài sản, khi định giá để ký hợp đồng, công ty bất động sản thường
định giá hứa mua khá thấp. Đây chính là điểm ưu việt của hợp đồng repo –
trong trường hợp người bán có đủ tiền để quay lại mua lại tài sản. Tuy
nhiên, chính nó cũng lại là sự rủi ro trong trường hợp người bán không
có đủ điều kiện để mua lại khi hợp đồng repo đáo hạn. Định giá mua thấp
cũng có nghĩa là người bán được vay tiền ít. Và nếu việc repo tài sản để
vay tiền lại không đủ để cải thiện năng lực tài chính, không có tiền để
quay lại mua tài sản, tài sản của nhà đầu tư – khi hết thời hạn repo –
sẽ thuộc quyền sở hữu của công ty bất động sản. Nghĩa là, trong trường
hợp này, nhà đầu tư đã phải bán tài sản với giá rẻ hơn nhiều so với giá
thị trường.
Với những đặc điểm của hợp đồng repo chứng khoán và
repo bất động sản như đã phân tích, có thể nhận thấy đây chính là một
dạng đặc thù, một “nhánh phái sinh” của hợp đồng chuộc lại tài sản mà
pháp luật nhiều nước và pháp luật Việt Nam đã có quy định.
II. HỢP ĐỒNG CHUỘC LẠI TÀI SẢN
Lịch sử của hợp đồng chuộc lại tài sản
12. Hợp đồng chuộc lại tài sản là một chế định đã có từ thời trung đại7
trong tập quán thương mại của nhiều nước châu Âu. Trong Bộ luật Dân sự
Pháp, các điều luật quy định về hợp đồng chuộc lại phần lớn đều chịu ảnh
hưởng từ các quy định của cổ luật và tập quán thương mại của Pháp. Một
số điều khoản trong số đó, kể từ lần đầu tiên được pháp điển hoá trong
Bộ luật Dân sự Napoléon 1804, đến nay vẫn không hề thay đổi8. Pháp luật dân sự của hầu hết các nước theo hệ thống pháp luật lục địa đều có quy định về hợp đồng chuộc lại.
Từ khi mới xuất hiện, hợp đồng chuộc lại – hay còn
được gọi là hợp đồng mua bán với điều khoản chuộc lại – được sử dụng như
một sự trao đổi tài sản giữa các ngân hàng với những thương nhân trong
lĩnh vực thương mại, và khởi thuỷ, nó chỉ được áp dụng đối với các loại
tài sản thông thường mà chủ yếu là bất động sản. Đến đầu những năm 90
của thế kỷ XX, bán với điều khoản chuộc lại đã không còn bó hẹp trong
phạm vi các tài sản thông thường nữa, mà đã biến thiên và phát triển
thành một công cụ tài chính và được coi như một phương thức tiếp cận vốn
linh hoạt của các nhà đầu tư. Hiện nay, bán chuộc lại – với sản phẩm
phái sinh của nó mang tên repo – đã trở nên thông dụng ở hầu hết các
nước, đến mức tất cả các chủ thể kinh doanh, kể cả các cá nhân, đều sử
dụng phương thức này.
Bản chất pháp lý của hợp đồng chuộc lại tài sản
13. Trong pháp luật Pháp, hợp đồng
chuộc lại tài sản được coi như một loại hợp đồng mua bán có điều kiện và
điều kiện đó là người bán được bảo lưu quyền lấy lại tài sản của mình
trong một thời hạn nhất định sau khi đã trả cho người mua giá tài sản và
các chi phí phát sinh9. Điều đó cũng có nghĩa là, hợp đồng
mua bán giữa người bán và người mua, khi có điều khoản chuộc lại, là một
hợp đồng mà bất cứ lúc nào – trong thời hạn hợp đồng – người bán cũng
đều có quyền huỷ bỏ bằng việc chuộc lại tài sản của mình. Và vì vậy,
trong hợp đồng này, quyền sở hữu của người mua chỉ có tính chất tạm
thời, bởi tư cách sở hữu ấy luôn bị đặt trong tình trạng có thể bị mất
bất cứ lúc nào (trong phạm vi thời hạn chuộc) theo ý chí của người bán.
Thậm chí, tư cách sở hữu ấy còn bị coi như chưa bao giờ được công nhận,
nếu sự kiện chuộc lại xảy ra. Pháp luật của nhiều nước đã quy định rất
minh thị về hệ quả này10.
14. Một điểm cần lưu ý là trong pháp
luật Pháp cũng như pháp luật của nhiều nước khác, mục tiêu ban đầu của
sự ra đời chế định này không phải nhằm tạo nên một công cụ tiếp cận vốn
trên thị trường tài chính (như hiện nay) mà nó được coi như một biện
pháp nhằm giúp những người thiếu vốn trong ngắn hạn có tiền để sử dụng
khi cánh cửa tiếp cận vốn của họ ở ngân hàng đã bị đóng chặt. Nói cách
khác, nó được coi như một trong những biện pháp cuối cùng để “cứu” chủ
sở hữu tài sản để phục hồi lại sản xuất kinh doanh, thoát khỏi tình
trạng phá sản.
15. Chính từ góc nhìn này mà pháp
luật các nước đã nhìn nhận việc bảo lưu quyền lấy lại tài sản như một
“quyền được chuộc” chứ không phải như một “nghĩa vụ phải chuộc” của
người bán11. Cũng chính từ cách tiếp cận này mà trong pháp
luật các nước, điều kiện để huỷ bỏ nghĩa vụ hợp đồng giữa hai bên trong
hợp đồng chuộc lại không nằm trong tay người mua mà nằm trong tay người
bán. Điều đó có nghĩa là, chỉ trong trường hợp ý chí của người bán không
muốn chuộc lại (bao hàm cả nghĩa muốn nhưng không thể chuộc lại), thì
tài sản ấy mới trở thành sở hữu thực sự của người mua12.
16. Quan điểm nghiêng về việc bảo vệ
người bán của nhà làm luật trong chế định chuộc lại tài sản rất rõ ràng
và nhất quán, thể hiện ở một số quy định sau đây:
- Mặc dù trong hợp đồng chuộc lại có sự chuyển giao
quyền sở hữu cho người mua, nhưng, khi sự kiện chuộc lại xảy ra, thì
người bán vẫn được coi như chưa bao giờ bị ngắt quãng quyền sở hữu đối
với tài sản của họ. Ngược lại, nếu sự kiện chuộc lại xảy ra, thì người
mua bị coi như chưa bao giờ là chủ sở hữu tài sản13.
- Ngay cả trong trường hợp nếu người mua tài sản, với
tư cách chủ sở hữu tạm thời, bán tài sản đó cho một người khác, thì
người bán đầu tiên vẫn có quyền chuộc lại vật từ người mua thứ hai,“ngay
cả khi quyền chuộc lại đó không được ghi trong hợp đồng thứ hai”14.
- Quyền chuộc lại tài sản không chỉ được dành cho
chính bản thân người bán mà còn được dành cho cả người thừa kế và chủ nợ
của người bán15.
17. Mặc dù mang những tên gọi khác
nhau, hợp đồng repo chính là “phiên bản” thoát thai (nhưng có sự biến
thiên và phát triển) từ hợp đồng chuộc lại tài sản. Không khó để nhận
thấy các đặc thù của hợp đồng repo cũng chính là những đặc điểm thuộc về
bản chất của hợp đồng chuộc lại tài sản, đó là: cả hai loại hợp đồng
đều được bán với “lời hứa sẽ chuộc lại”, cả hai loại hợp đồng đều có
việc chuyển giao nhưng vẫn bảo lưu quyền sở hữu của người bán, và điều
khoản quan trọng bắt buộc phải có của cả hai loại hợp đồng là mức giá
chuộc lại phải xác định trước ngay trong hợp đồng. Ngoài ra, trong cả
hai loại hợp đồng, thời hạn chuộc lại luôn là một điều khoản cơ bản và
quan trọng khi hai bên giao kết với nhau16. Thậm chí, nếu
thiếu điều khoản về thời hạn, hợp đồng này sẽ không còn tính chất của
một hợp đồng repo hay hợp đồng chuộc lại tài sản nữa.
18. Bên cạnh quan điểm nghiêng hơn
về việc bảo vệ quyền lợi của người bán, nhà làm luật cũng có một số quy
định bảo vệ quyền lợi của người mua, như: với tư cách là chủ sở hữu tài
sản trong thời hạn hợp đồng, người mua có đủ tất cả các quyền đối với
tài sản đó như quyền bán, cho thuê, thế chấp tài sản17, quyền
hưởng hoa lợi phát sinh từ tài sản. Một số giao dịch của người mua với
người thứ ba trong thời hạn hợp đồng vẫn được bảo vệ, ví dụ, quyền cho
thuê tài sản18, nhưng với điều kiện việc cho thuê đó không làm tổn hại đến lợi ích của người bán19.
Ý nghĩa thực tiễn của hợp đồng chuộc lại tài sản
19. Trong thực tiễn của các nước,
bán với điều khoản chuộc lại được sử dụng đối với những khách hàng sắp
lâm vào tình trạng phá sản hoặc khi họ gặp khó khăn đối với việc tiếp
cận các khoản cho vay của ngân hàng.
Chế định bán với điều khoản chuộc lại hiện nay, một
mặt, được nhìn nhận như một phương thức thông dụng để tái cấu trúc lại
những khoản nợ của những công ty lâm vào tình trạng khó khăn về mặt tài
chính, nó cho phép chủ thể lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính
tránh được việc thanh lý hợp đồng vay đã ký với các ngân hàng bằng cách
bán tạm thời bất động sản của mình. Chủ sở hữu bán tài sản để lấy tiền
phục hồi sản xuất kinh doanh nhưng bảo lưu khả năng lấy lại tài sản nếu
sau đó, vấn đề tài chính của họ đã được cải thiện. Thông thường, số tiền
chủ sở hữu tài sản có được khi bán với phương thức chuộc lại lớn hơn
nhiều so với việc họ cầm cố hoặc thế chấp chính tài sản đó tại ngân
hàng.
Mặt khác, trên thị trường tài chính, chế
định này đã biến thiên và phát triển hơn nhiều so với mục tiêu ban đầu
của nó để trở thành một công cụ vay hữu hiệu cho phép chủ sở hữu tài sản
có được một khoản tiền trong ngắn hạn với lãi suất hấp dẫn mà vẫn không
phải từ bỏ vĩnh viễn quyền sở hữu của mình đối với tài sản.
Đối tượng của hợp đồng chuộc lại tài sản
20. Trong pháp luật các nước, đối tượng của hợp đồng chuộc lại có thể là động sản hoặc bất động sản, hoặc cả hai.
Điều khoản về giá trong hợp đồng chuộc lại
21. Điều khoản về giá bán tài sản
ban đầu là một trong những điều khoản cơ bản luôn cần phải được thoả
thuận ngay trong hợp đồng chuộc lại tài sản. Chính điều khoản về giá bán
ban đầu này sẽ là cơ sở để khi hợp đồng đáo hạn hai bên tính toán giá
chuộc lại tài sản. Công thức để tính giá chuộc lại cũng cần được thoả
thuận ngay trong hợp đồng. Vì hợp đồng mua bán với điều khoản chuộc lại
không phải là một hợp đồng mua bán thông thường, nên giá bán tài sản ban
đầu và giá chuộc lại tài sản không được xác định trên cơ sở giá thị
trường. Pháp luật các nước quy định một công thức có tính nguyên tắc:
giá chuộc lại tài sản sẽ bằng giá bán ban đầu cộng với một khoản phí tổn
về việc mua bán, chi phí sửa chữa cần thiết và cả chi phí để làm cho
tài sản tăng thêm giá trị20. Bên bán ban đầu chỉ có thể được lấy lại tài sản sau khi đã thanh toán hết các khoản này cho bên mua tài sản.
Điều kiện liên quan đến hình thức hợp đồng
22. Để được hưởng quyền chuộc lại
tài sản, bên bán phải đưa điều khoản về việc chuộc lại ngay trong hợp
đồng bán tài sản. Điều này có nghĩa là sau khi hợp đồng bán (với điều
khoản chuộc lại) đã được ký kết, hai bên không thể thoả thuận nữa về
việc chuộc lại tài sản. Nói cách khác, mặc dù họ không bị cấm thoả thuận
việc này nhưng nếu họ thoả thuận điều này “bên ngoài” hợp đồng mua bán
đã giao kết, thì đó không phải là chế định mua bán có điều khoản chuộc
lại, mà nó đã trở thành một thoả thuận về việc mua lại tài sản (nó được
coi như một hợp đồng “hứa bán” tồn tại độc lập với hợp đồng mua bán đã
ký ban đầu).
23. Đối với hợp đồng chuộc lại là
bất động sản, pháp luật hầu hết các nước đều bắt buộc hợp đồng chuộc lại
phải được đăng ký. Quy định này để công khai thông tin về việc chuộc
lại tài sản nhằm bảo vệ lợi ích của người thứ ba khi họ mua tài sản,
trong đó có bảo lưu quyền chuộc lại của người bán ban đầu.
Hiệu lực của hợp đồng chuộc lại tài sản
24. Người mua được hưởng tất cả
quyền lợi của người chủ sở hữu như tư cách của người bán tài sản đã có.
Pháp luật của hầu hết các nước đều cho phép người mua có quyền định đoạt
tài sản qua hình thức tặng cho, để lại thừa kế, bán hoặc cho thuê, thế
chấp v.v.. Quyền chủ sở hữu của người mua cho phép họ được hưởng hoa lợi
phát sinh từ tài sản. Họ có quyền thu hoạch những hoa lợi tự nhiên và
cả lợi ích về mặt dân sự do tài sản đó mang lại, mà không phải trả cho
người bán ngay cả trong trường hợp người này sau đó chuộc lại tài sản.
Những bất cập trong quy định về hợp đồng chuộc lại của Bộ luật Dân sự 2005
25. Hợp đồng chuộc lại tài sản được
quy định tại một điều duy nhất, Điều 462, trong BLDS 2005 của Việt Nam
nhưng quy định của nó còn quá sơ sài, không đủ để điều chỉnh những quan
hệ mua bán có điều kiện chuộc lại trong thực tiễn. Tuy vậy, Điều 462
BLDS 2005 cũng đã thể hiện được các khía cạnh bản chất nhất của một hợp
đồng chuộc lại, đó là: công nhận người bán có quyền lấy lại tài sản, đưa
ra một thời hạn cho người bán chuộc lại (tối đa là 01 năm đối với động
sản, 05 năm đối với bất động sản) và có quy định về giá chuộc lại tài
sản, về việc chịu rủi ro đối với tài sản.
26. Giống như pháp luật các nước,
các nhà làm luật Việt Nam cũng nghiêng hơn về việc bảo vệ quyền lợi
người bán với quy định: trong thời hạn hợp đồng, bên mua phải chịu rủi
ro đối với tài sản21. Tuy nhiên, có vẻ như khi soạn thảo điều
luật này, các nhà làm luật đã quên mất hoặc có quan điểm chưa rõ ràng
khi, một mặt, không công nhận quyền sở hữu của người mua trong thời hạn
hợp đồng bằng một quy định cấm rất cứng nhắc phủ nhận hoàn toàn sự thoả
thuận của các bên “trong thời hạn chuộc lại, bên mua không được bán,
trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản”.
Mặt khác, các nhà làm luật còn đưa ra một công thức
tính giá chuộc lại hoàn toàn không phản ánh đúng bản chất của một hợp
đồng chuộc lại, đó là “giá chuộc lại là giá thị trường tại thời điểm và
địa điểm chuộc lại”. Có vẻ như ở đây đã có sự lẫn lộn về bản chất và đặc
trưng của một hợp đồng mua bán với điều khoản chuộc lại với một hợp
đồng mua bán thông thường. Lưu ý rằng, trong số không ít đạo luật mà
chúng tôi khảo sát, không một đạo luật nào có công thức tính giá chuộc
lại tài sản dựa theo giá thị trường. Bởi nếu tính giá theo phương thức
này, cả hai bên đều không tìm thấy lợi ích hoặc tính ưu việt của hợp
đồng chuộc lại so với một hợp đồng mua bán thông thường, chính vì vậy,
hợp đồng chuộc lại không còn ý nghĩa.
27. Một bất cập khác nữa của chế
định hợp đồng chuộc lại tài sản hiện nay đó là vấn đề sở hữu và các hệ
quả của hợp đồng chuộc lại chưa được làm rõ trong Điều 462. Trên thực
tế, với quy định bên mua phải chịu rủi ro đối với tài sản, có vẻ như nhà
làm luật muốn công nhận quyền sở hữu tài sản cho bên mua. Tuy nhiên,
với việc cấm bên mua không được thực hiện hầu hết các giao dịch đối với
tài sản trong thời hạn hợp đồng (không được bán, cho thuê, thế chấp…),
các nhà làm luật đã tự mâu thuẫn với chính quy định nói trên và biến bên
mua thành một chủ thể chỉ có quyền “giữ” tài sản thay cho bên bán để
chờ hợp đồng đáo hạn.
28. Bên cạnh đó, nếu như pháp luật
các nước nhìn nhận quyền chuộc lại tài sản vừa như một quyền đối nhân
nhưng cũng có tính chất của một quyền đối vật (nếu người bán ban đầu
chết, người thừa kế của họ sẽ nối tiếp được hưởng quyền này), thì trong
pháp luật Việt Nam, vấn đề này hoàn toàn chưa được đề cập. Vì hợp đồng
chuộc lại có thời hạn tương đối lâu (đối với bất động sản), nên nếu
trong trường hợp bên bán hoặc bên mua chết, thì những người thừa kế của
các bên sẽ có quyền, nghĩa vụ gì khi xử lý những điều khoản chuộc lại
này? Ngoài ra, trong thời hạn hợp đồng, hoa lợi, lợi tức phát sinh cả từ
trước và sau khi tài sản được bán, bên bán hay bên mua sẽ được hưởng?
Đây cũng là những khoảng trống cần được lấp đầy trong chế định hợp đồng
chuộc lại tài sản của pháp luật Việt Nam.
29. Vấn đề công khai thông tin của
tài sản được bán với điều kiện chuộc lại cũng chưa được quy định trong
pháp luật Việt Nam, vì vậy, dẫn đến nhiều bất cập trong thực tế khiến
quyền lợi hợp pháp của người tham gia giao dịch bị ảnh hưởng.
III. SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG CHUỘC LẠI TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005
30. Trên cơ sở những phân tích trên,
chúng tôi cho rằng, từ sự đòi hỏi khách quan của thị trường trong lĩnh
vực đầu tư chứng khoán và bất động sản, cần thiết phải nghiên cứu để sửa
đổi, bổ sung và hoàn thiện chế định về hợp đồng chuộc lại tài sản trong
BLDS 2005 vì những lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đây là một loại hợp đồng có tính
linh hoạt rất cao, đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư trong nền kinh tế
thị trường nên nó có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Quy định tại Điều 462
BLDS 2005 hiện nay mặc dù đã phần nào phản ánh được bản chất của hợp
đồng chuộc lại tài sản, nhưng nội dung của Điều 462 còn quá sơ sài,
không đủ để điều chỉnh một quan hệ pháp luật sinh động và có tính chất
đặc thù như quan hệ mua bán tài sản có điều kiện chuộc lại.
Thứ hai, hợp đồng chuộc lại tài sản là hợp
đồng “gốc” trên cơ sở đó phái sinh một nhánh hợp đồng rất phổ biến hiện
nay là hợp đồng repo (cả trong lĩnh vực chứng khoán và bất động sản).
Trong bối cảnh khuôn khổ pháp lý cho hợp đồng repo trên thị trường tài
chính chưa được định hình, việc quy định trong đạo luật “gốc” là BLDS
những khía cạnh pháp lý cơ bản (có tính chất phổ biến) của hợp đồng
chuộc lại tài sản làm cơ sở để hình thành nên một khung pháp lý đặc thù
cho các quy định của hợp đồng repo trong lĩnh vực tài chính, là cần
thiết.
Thứ ba, thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân
tối cao thời gian qua cho thấy, trên thực tế đã phát sinh nhiều tranh
chấp liên quan đến hợp đồng chuộc lại trong lĩnh vực bất động sản (dưới
tên gọi “hợp đồng cố đất”). Nhưng do thiếu vắng những quy định cụ thể và
chưa có sự nhận thức rõ ràng, nhất quán trong quy định pháp luật về vấn
đề này, việc xét xử của các toà án gặp nhiều khó khăn, dẫn đến nhiều
bản án bị kháng nghị giám đốc thẩm22. Vì vậy, việc bổ sung,
sửa đổi, hoàn thiện chế định này không chỉ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng mà còn tạo điều kiện cho
việc áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm quyền.
31. Trong quá trình bổ sung, sửa
đổi, hoàn thiện chế định này, một số khía cạnh pháp lý cơ bản sau đây
cần được nhận thức rõ ràng và nhất quán:
- Hợp đồng chuộc lại tài sản, từ khởi thuỷ của nó cho
đến hiện nay, là một chế định được tạo ra để trước hết bảo vệ quyền sở
hữu đối với tài sản của bên bán khi họ lâm vào tình trạng khó khăn về
tài chính. Vì vậy, việc pháp luật nghiêng hơn về việc bảo vệ quyền lợi
bên bán trong chế định này là logic và hợp quy luật (đối với việc bảo vệ
quyền lợi bên mua, pháp luật dân sự còn nhiều quy định khác). Khi hoàn
thiện chế định hợp đồng chuộc lại tài sản, pháp luật Việt Nam cũng nên
xuất phát từ cách tiếp cận này.
- Cần làm rõ hệ quả pháp lý của hợp đồng chuộc lại
tài sản, trong đó đặc biệt lưu ý hệ quả của việc chuyển dịch quyền sở
hữu đối với tài sản. Trong vấn đề này, việc công nhận quyền sở hữu cho
bên mua trong thời hạn hợp đồng là hợp lý, thể hiện đúng bản chất của
chế định mua bán với điều kiện chuộc lại. Chính vì vậy, cần nghiên cứu
để bỏ quy định cấm không cho bên mua được thực hiện các giao dịch bán,
cho thuê, thế chấp tài sản trong thời hạn hợp đồng tại Điều 462 khoản 2
BLDS 2005.
- Giá chuộc lại tài sản trong hợp đồng cũng cần được
quy định theo hướng dựa trên cơ sở giá bán ban đầu, có tính đến các chi
phí mua bán và chi phí sửa chữa, nâng cấp tài sản, không nên quy định
công thức tính giá theo thị trường như quy định tại Điều 462 hiện nay,
vì việc tính giá chuộc tài sản theo giá thị trường sẽ làm triệt tiêu lợi
ích của cả hai bên trong hợp đồng chuộc lại, khiến hình thức này không
còn ý nghĩa thực tế.
- Các quy định về điều kiện chủ thể của hợp đồng
chuộc lại (quy định về quyền chuộc lại của người thừa kế, của chủ nợ của
bên bán, bên mua…) và điều kiện về mặt hình thức (việc đăng ký) cũng
cần được quy định minh thị trong điều luật để bảo vệ quyền lợi của các
bên liên quan.
- Các quy định liên quan đến hợp đồng repo chứng
khoán tuy không thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của BLDS nhưng trong
quá trình bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện chế định này trong BLDS 2005 cũng
cần nghiên cứu, xem xét hợp đồng repo chứng khoán một cách hợp lý để có
góc nhìn toàn diện, từ đó hình thành nên một khung pháp lý cơ bản làm
cơ sở cho việc xây dựng những quy định đặc thù phái sinh từ chế định này
trong các đạo luật chuyên ngành.
Chú thích:
(1) Tên tiếng Anh: Repurchase Agreement, hoặc tên
đầy đủ là Sale and Reppurchase Agreeme; Tên tiếng Pháp, khi vay mượn từ
tiếng Anh cũng là Le Repo, hoặc thuần Pháp hơn là Accord de Rachat.
(2) Ở TTCK Việt Nam hiện nay, người sử dịch vụ này phần lớn là những người ít có nghiệp vụ chuyên môn về tài chính.
(3) Công thức tính giá trong hợp đồng repo: Giá
mua lại = giá bán lần 1* (1+ lãi suất repo/365* số ngày thực sự sở hữu
chứng khoán).
(4) Xem: Vũ Thùy Chi, Một số vấn đề cơ bản về hợp
đồng repo, Nguồn: http://www.vnba.org.vn/index.php? option=com
_content&task=view&id=579&Itemid=65
(5) Nguyễn Thị Mỹ Dung, Đại học Ngân hàng TPHCM,
Nghiệp vụ repo trên TTCK Việt Nam – Đôi điều bàn luận, Tạp chí Ngân
hàng, số 14/2010.
(6) Tham khảo: Nguyễn Thị Mỹ Dung, Bài đã dẫn.
(7)Theo Historique de la vente à réméré ?; http://www.web-libre.org/breves/Vente-remere,18538.html.
(8) Xem: Jean-Louis Falcoz, Définition complète de la vente en réméré;
Nguồn: http://www.venteenremere.com/d%C3%A9finition-du-r%C3%A9m%C3%A9r%C3%A9/
(9)Thérèse Rousseau-Houle, Précis du droit de la
vente et du louage; Presses Université Laval, 1986, 471 pages (Chapitre
3: Espèces particulières de ventes, p. 219 et s.).
(10)Ví dụ, Điều 492 Bộ luật Dân sự và thương mại
Thái Lan quy định: “Nếu tài sản được chuộc lại trong thời hạn ấn định …,
thì quyền sở hữu tài sản coi như chưa bao giờ được trao cho người mua”.
Bộ luật Dân sự Sài gòn 1972 cũng quy định: “Trong trường hợp người bán
chuộc lại thì việc điển mại bị tiêu trừ, và sự chuyển dịch quyền sở hữu
coi như không bao giờ có” (Điều 1071).
(11) Trong Bộ luật Dân sự Pháp, hợp đồng này mang
tiêu đề “Quyền chuộc lại vật – De la faculté de rachat”, được quy định
trong các Điều từ 1659 – 1673. Trong Bộ luật Dân sự và thương mại Thái
Lan, hợp đồng này cũng có tên gọi “Mua bán với quyền chuộc lại” và được
quy định tại các Điều từ 491 – 502.
(12) Điều 1662 Bộ luật Dân sự Pháp: “Nếu hết thời
hạn quy định mà bên bán không chuộc lại vật, thì bên mua chính thức trở
thành chủ sở hữu tài sản”.
(13) Điều 966 Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ: “Khi chuộc
lại trong thời hạn đã định, thì việc bán trước bị tiêu, việc chuyển di
quyền sở hữu thuộc về việc bán ấy cũng bị tiêu. Người bán coi như thuỷ
chung vẫn là sở hữu chủ, và người mua thì coi như không từng có quyền sở
hữu bao giờ”. Điều 1071 BLDS Sài Gòn: “Trong trường hợp người bán chuộc
lại thì điển mại bị tiêu trừ, và sự chuyển dịch tư hữu coi như không
bao giờ có”.
(14) Điều 1664 BLDS Pháp, Điều 963 BLDS Bắc Kỳ, Điều 581 BLDS Nhật Bản.
(15) Điều 961 BLDS Bắc Kỳ.
(16 )Pháp luật các nước quy định thời hạn chuộc
lại vật rất khác nhau, ví dụ, thời hạn để bên bán phải chuộc lại vật
theo pháp luật Pháp tối đa là 5 năm (Điều 1660 BLDS); theo pháp luật
Nhật Bản là 10 năm, nếu trong hợp đồng không ấn định thời hạn thì thời
hạn chuộc theo pháp luật tối đa là 5 năm (Điều 580 BLDS); Thái Lan quy
định thời hạn 10 năm đối với bất động sản và 3 năm đối với động sản
(Điều 494 BLDS).
(17) Điều 1665 BLDS Pháp, Điều 965 BLDS Bắc Kỳ, Điều 1070 BLDS Sài Gòn.
(18) Điều 966 BLDS Bắc Kỳ: “ …những khế ước cho
thuê do người mua đã ký nhận, không có sự gian lậu gì, thì vẫn cứ phải
thi hành”.
(19) Điều 502 BLDS&TM Thái Lan.
(20) Điều 967 BLDS Bắc Kỳ, Điều 1673 BLDS Pháp.
(21) Điều 462 khoản 2 BLDS 2005.
(22 )Tham khảo: Sỹ Nam, Những vướng mắc trong quá
trình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản có điều kiện chuộc
lại trong BLDS 2005, Tham luận tại Hội thảo tổng kết thi hành BLDS, Bộ
Tư pháp, ngày 29/9/2010.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP - TS. NGUYỄN THỊ THU VÂN & TS. TRẦN THỊ THU HÀ – Khoa Tài chính, kế toán, Đại học Hòa Bình
Trích dẫn từ:
http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/kinh-te-dan-su/hop-111ong-repo-chung-khoan-va-viec-sua-111oi-che-111inh-hop-111ong-chuoc-lai-tai-san-trong-bo-luat-dan-su-2005