Hướng dẫn, kê khai, quyết toán thuế thu nhập cá nhân
Công
văn 450 hướng dẫn nội dung kê khai cụ thể theo tờ khai mới được sửa đổi
bổ sung theo Thông tư số 20, các tờ khai không có sửa đổi bổ sung tại
Thông tư số 20 thì theo hướng dẫn tại công văn số 778/TCT-TNCN ngày
9/3/2009 của Tổng cục Thuế. Cùng ngày 8/2/2010, Tổng cục Thuế cũng ban
hành Công văn số 451/TCT-TNCN hướng dẫn quyết toán thuế TNCN năm 2009,
công văn số 451 này có một số điểm cần lưu ý như sau:
Đối tượng phải quyết toán thuế TNCN
- Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập
- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh có
số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ, tạm nộp, có yêu cầu hoàn
thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau.
* Kê khai quyết toán thuế của tổ chức trả thu nhập
Đơn vị
chi trả thu nhập chỉ phải kê khai quyết toán thuế đối với khoản thu
nhập không thuộc diện được miễn thuế, thu nhập được miễn thuế không phải
kê khai.
Kê khai quyết toán thu nhập từ tiền lương, tiền công
Đơn vị chi trả thu nhập không phải kê khai quyết toán đối với thu nhập được miễn thuế trong 6 tháng đầu năm 2009.
Tiền
lương, tiền công được miễn thuế TNCN căn cứ vào Bảng thanh toán tiền
lương, tiền công chi trả từ tháng 1/2009 đến hết tháng 6/2009. Công văn
số 451 này cũng chi ví dụ: “Công ty A hạch toán 100 triệu chi phí tiền
lương vào chi phí kinh doanh tháng 12/2008 nhưng chi trả cho người lao
động theo bảng lương của tháng 1/2009 thì khoản tiền lương này được xác
định là tháng lương đầu tiên của năm 2009 được miễn thuế. Tháng 6/2009,
Công ty A hạch toán 100 triệu chi phí tiền lương vào chi phí kinh doanh
nhưng thực tế khoản tiền lương này được chi trả cho người lao động theo
bảng lươntg của tháng 7/2009 thì khoản tiền lương này không thuộc diện
được miễn thuế TNCN vì tính theo bảng lương từ tháng 1 đến hết tháng
6/2009 ndl được miễn thuế TNCN đủ 6 tháng.”
Hướng
dẫn này và ví dụ này của Công văn số 451 đã không phù hợp với Thông tư
số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009. Theo khoản 2 Điều 2 Thông tư số 160
thì thu nhập từ tiền lương, tiền công được miễn thuế là tiền lương, tiền
công mà đơn vị sử dụng lao động phải thanh toán trong 6 tháng đầu năm
không phân biệt thời điểm chi trả và phải chi trả không quá ngày
31/12/2009. Cũng theo khoản 2 này, tiền lương, tiền công năm 2008 được
chi trả trong 6 tháng đầu năm 2009 thì được miễn thuế. Như vậy, Tổng cục
Thuế cần có hướng dẫn thêm về vấn đề này để phù hợp với Thông tư số
160.
Trường
hợp trả lương theo kết quả công việc, hàng tháng chỉ tạm chi, kết thúc
công việc hoặc cuối năm mới quyết toán thì thu nhập được miễn thuế 6
tháng đầu năm sẽ theo số quyết toán.
Vì lý do khách quan người lao động nhận lương 6 tháng đầu năm 2009 vào 6 tháng cuối năm 2009 thì vẫn được miễn thuế TNCN.
Tiền
lương, tiền công của năm 2008 trở về trước nhưng chi trả trong 6 tháng
đầu năm 2009 thì được miễn thuế, chi trả trong 6 tháng cuối năm 2009 thì
không được miễn thuế.
Các
khoản tiền thưởng tháng trong 6 tháng đầu năm 2009, tiền thưởng quí I,
quí II/2009 chi trong năm 2009 thì không phải kê khai quyết toán; các
khoản này chi sau ngày 31/12/2009 thì không được miễn thuế mà tính vào
thu nhập năm 2010.
Tiền
thưởng cả năm 2009 chi một lần thì nếu người lao động làm việc đủ 12
tháng trong năm thì ½ số tiền thưởng sẽ được miễn thuế; nếu làm việc
không đủ 12 tháng thì khoản tiền thưởng sẽ được phân chia tương ứng với
số tháng làm việc để miễn thuế. Ví dụ: Ông A làm việc tại công ty X
trong 8 tháng từ 1/5/2009 đến 3112/2009, cuối năm ông được thưởng 6
triệu đồng. Trong 6 tháng đầu năm ông A làm việc được 2 tháng, tương
đương ¼ thời gian làm việc trong năm 2009. Số tiền thưởng được miễn thuế
là: ¼ x 6 triệu đồng = 1,5 triệu đồng.
Tiền
thưởng năm 2009 chi vào quí I/2010 thì không phải kê khai quyết toán năm
2010 đối với phần thưởng được miễn thuế, phần không được miễn phải khấu
trừ thuế và kê khai quyết toán năm 2010.
Tiền
thưởng của năm 2008 trở về trước nếu chi trong 6 tháng đầu năm 2009 thì
được miễn thuế, chi trong 6 tháng cuối năm 2009 thì không được miễn
thuế.
Các khoản lợi ích khác nếu chi trong 6 tháng đầu năm 2009 thì không phải kê khai quyết toán.
Người
được bố trí phương tiện đưa đón thì tính vào thu nhập căn cứ vào thời
gian sử dụng phương tiện, chi phí nhiên liệu trong 6 tháng cuối năm
2009.
Người ở
nơi làm việc trong 6 tháng cuối năm 2009 thì tính vào thu nhập căn cứ
vào chi phí khấu hao tính theo tỉ lệ diện tích sử dụng. Mức thu nhập
tính vào thu nhập chi chịu thuế không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu
thuế từ tiền lương, tiền công (chưa bao gồm thu nhập được hưởng từ việc ở
lại nơi làm việc).
Đối
với doanh nghiệp, mức khoán chi (như văn phòng phẩm, điện thoại, trang
phục, ăn ca…) theo qui định của thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN);
trường hợp qui định của thuế TNDN không có hướng dẫn cụ thể về mức khoán
chi thì mức khoán chi thực hiện theo quyết định của Hội đồng quản trị
hoặc giám đốc hoặc hội đồng thành viện. Mức khoán chi chi cao hơn mức
qui định thì phần khoán chi cao hơn phải tính vào thu nhập chịu thuế.
Thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chứng khoán, từ bản quyền, nhượng quyền thương mại:
- Nếu
các khoản thu nhập này của năm 2009 và được chi trước ngày 1/7/2010 thì
được miễn thuế; chi sau ngày 20/6/2010 thì phải chịu thuế.
- Các
khoản thu nhập này có nguồn gốc cuả năm 2010 và những năm tiếp theo
nhưng được ứng trước trong năm 2009 thì phải tính thuế năm 2009 đối với
phần chi ứng trước.
- Các khoản thu nhập này của các năm từ 2008 trở về trước được chi trong năm 2009 thì được miễn thuế.
Thu nhập từ trúng thưởng
Thu nhập này không được miễn thuế TNCN
Lập tờ khai quyết toán thuế cần lưu ý:
- Các
bảng kê chi tiết kèm theo Tờ khai quyết toán phản ánh tất cả các cá nhân
nhận thu nhập không phân biệt đến mức khấu trừ thuế TNCN hay chưa;
- Việc
kê khai các chỉ tiêu trong tờ khai, chỉ kê khai theo số tổng hợp tương
ứng với thu nhập thuộc diện nộp thuế của năm 2009. Đối với các khoản thu
nhập được miễn thuế 6 tháng đầu năm 2009 thì trên tờ khai thu nhập ghi
kì tính thuế từ ngày 1/7/2009 đến ngày 31/12/2009.
Phương thức nộp hồ sơ quyết toán theo một trong các cách sau:
- Nộp hồ sơ trực tiếp cho cơ quan thuế;
- Truyền các dữ liệu về quyết toán thuế về cơ quan thuế qua internet;
- Gửi hồ sơ quyết toán thuế qua đường bưu điện.
Nhận lương NET, thuế TNCN được tính riêng và do cơ quan chi trả thu nhập nộp thay:
Nếu cơ
quan chi trả thu nhập không hoàn trả tiền thuế được miễn cho người lao
động thì cũng không đuợc tính khoản thuế được miễn này vào chi phí khi
tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Cấp chứng từ khấu trừ thuế
Cơ
quan chi trả phải cấp chứng từ khấu trừ cho các cá nhân thuộc diện phải
quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế hoặc có yêu cầu hoàn thuế
hoặc bù trừ số thuế nộp thừa sang kỳ sau. Các trường hợp khác không phải
cấp chứng từ khấu trừ.
* Kê khai quyết toán đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh
Các trường hợp phải kê khai quyết toán thuế:
- Cá nhân có số thuế phải nộp trong 6 tháng cuối năm 2009 lớn hơn số thuế đã khấu trừ hoặc tạm nộp.
- Có yêu cầu được hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau.
Hồ sơ quyết toán thuế
Kỳ tính thuế trong các tờ khai và bảng kê ghi rõ kỳ tính thuế là từ ngày 01/7/2009 đến 31/12/2009.
Đối
với cá nhân kinh doanh chỉ kê khai doanh thu, thu nhập, các khoản giảm
trừ,... tương ứng với kỳ tính thuế từ ngày 01/7/2009 đến 31/12/2009.Khi
quyết toán thuế cá nhân mới nộp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc thì vẫn
được tính giảm trừ.
Các khoản giảm trừ được tính
Các
khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, ... : đã đóng một lần cho
cả năm thì kê khai giảm trừ bằng 50% tổng số tiền đã đóng; đã đóng theo
tháng thì kê khai giảm trừ theo số thực đóng của 6 tháng cuối năm 2009.
Giảm
trừ gia cảnh được tính theo thực tế giảm trừ gia cảnh của 6 tháng cuối
năm 2009Giảm trừ đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học: theo số chi
thực tế 6 tháng cuối năm 2009.
Xác định số thuế phải nộp
Lấy
tổng thu nhập tính thuế của 6 tháng cuối năm chia cho 6 để xác định thu
nhập tính thuế bình quân tháng, xác định số thuế TNCN phải nộp của
tháng, lấy số thuế TNCN phải nộp của tháng nhân với 6 để xác định được
số thuế phải nộp của cả 6 tháng cuối năm.
Đối
với cá nhân vừa có thu nhập thuộc diện được giảm 50% số thuế phải nộp do
làm việc tại khu kinh tế, vừa có thu nhập phải nộp thuế thì:
|
Số thuế TNCN được giảm 50%
|
=
|
50%
|
x
|
Tổng số thuế phải nộp (chưa được giảm thuế)
|
x
|
Thu nhập phát sinh trong khu kinh tế được giảm thuế
|
|
Tổng thu nhập của 6 tháng cuối năm
|
Xác định thu nhập chịu thuế đối với một số trường hợp cụ thể:
●
Người vừa làm việc tại Việt Nam vừa có làm việc tại nước ngoài, khi
nghỉ hưu được công ty mẹ ở nước ngoài trả trợ cấp hưu trí thì khoản trợ
cấp này là chịu thuế TNCN nhưng chỉ tính cho phần thu nhập tương ứng với
thời gian công tác tại Việt Nam
|
Thu nhập chịu thuế TNCN
|
=
|
Khoản trợ cấp hưu trí được hưởng
|
x
|
Thời gian công tác tại Việt Nam
|
|
Tổng thời gian công tác ở Việt Nam và nước ngoài được hưởng trợ cấp
|
● Người
nước ngoài làm việc ở Việt Nam và ở nước ngoài có thu nhập toàn cầu
không tách riêng được phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam thì tổng thu
nhập phát sinh tại Việt Nam được xác định theo một trong hai cách sau:
|
Tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam
|
=
|
Số ngày làm việc
tại Việt Nam
|
x
|
Thu nhập từ tiền lương, tiền công toàn cầu (trước thuế)
|
+
|
Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam
|
|
Tổng số ngày làm việc trong năm
(theo Bộ luật Lao động)
|
|
Tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam
|
=
|
Số ngày có mặt ở Việt Nam
|
x
|
Thu nhập từ tiền lương, tiền công toàn cầu (trước thuế)
|
+
|
Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam
|
|
365 ngày
|
Quyết toán thuế TNCN thông qua đơn vị chi trả thu nhập
Theo Thông tư số 02/2010/TT-BTC thì cá
nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ một đơn vị chi trả
duy nhất có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế phải khấu trừ được quyết
toán qua đơn vị chi trả thu nhập. Nay công văn này bổ sung thêm trường
hợp này nếu có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã khấu trừ vẫn được
quyết toán qua đơn vị chi trả thu nhập.