ICT hay IT? Vấn đề nhận thức
Một triết gia đã từng khẳng định: “Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại”. Liên quan đến ICT, chỉ xin được bổ sung thêm một chút như sau: “ Tôi tư duy như thế nào nghĩa là tôi tồn tại như thế ấy”.
Nhận thức là thứ không thấy và không sờ được. Tuy nhiên, thiếu nó, những thứ
thấy được và sờ được cứ rối tinh, rối mù lên. Chúng ta đều biết, nhận thức là
sản phẩm quan trọng nhất của tư duy. Mà tư duy lại chính là cuộc sống của con
người.
4 nội dung của nhận thức
Ở nước ta, công nghệ thông tin đang thực sự là một thứ mốt thời thượng. Sự
nghiệp "tin học hóa" được triển khai rầm rộ không thua kém gì phong
trào bình dân học vụ trước đây. Tuy nhiên, phong trào bình dân học vụ có vẻ
thiết thực hơn: nó nhắm vào những nhu cầu có thực và những mục tiêu được xác
định rõ ràng. Với "phong trào công nghệ thông tin", những điều ở cấp
"bình dân học vụ” như vậy không phải bao giờ cũng được làm rõ. Xã hội ta
đang đối mặt với các công nghệ thông tin và truyền thông (Information &
Communication Technologies = ICT), giống như Ali Baba đứng trước kho báu. Chỉ
có điều, Ali Baba thì có câu thần chú “Vừng ơi, hãy mở ra!", còn xã hội ta
hình như vẫn loay hoay trước cánh cửa im ỉm đóng.
Tuy nhiên, câu thần chú để mở kho báu ICT lại không thể nghe lén từ một lão
phù thủy nào đó, nó nằm ngay trong nhận thức (vision) của chúng ta. Vậy thì,
nội dung của nhận thức về ICT bao gồm những vấn đề gì?
Trước hết, chúng ta chỉ quen nói tới công nghệ thông tin (lnformation
Technology = IT) hoặc tin học trong lúc đó thế giới lại chủ yếu nói về các công
nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Thông tin không gắn với truyền thông thì
chẳng khác gì hàng hoá không gắn với việc phân phối trên thị trường. Vậy thì,
thế giới tỏ ra có lý hơn: chữ ICT không phải chỉ IT ít là thứ có thể tạo ra
động lực cho phát triển. Và, đó xin được coi là nội dung khởi đầu của nhận
thức.
Hai là, ICT là để thông tin và truyền thông, chứ không phải để làm điều
ngược lại. Nếu chúng ta muốn xây dựng một xã hội khép kín và cát cứ thông tin,
thì chớ nên làm bạn với ICT! ICT chắc chắn sẽ phản bội chúng ta, hoặc trong
trường hợp ít xấu hơn, sẽ làm lãng phí tiền bạc của chúng ta. Đây xin được coi
là nội dung quan trọng thứ hai của nhận thức (thứ hai là theo thứ tự được kể ra
đây, chứ không phải theo mức độ quan trọng của vấn đề).
Ba là, ICT có thể tạo ra động lực cho sư phát triển vì các tính năng ưu việt
của chúng. Các tính năng này tồn tại khách quan. Chúng ta chỉ có thể tận dụng
các tính năng này phục vụ cho các mục tiêu phát triển, chứ không thể bắt chúng
phải thay đổi theo ý muốn chủ quan của mình. Đây là nội dung quan trọng thứ ba
của nhân thức.
Bốn là, nếu các tính năng của ICT là không thể thay đổi, thì cách tổ chức
công việc của chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi được. Và "Trời không chịu
đất, thì đất phải chịu trời". Muốn tận dụng tối đa các tính năng ưu việt
của ICT, chúng ta cần phải thay đổi cách thức tổ chức, điều hành công việc của
mình cho phù hợp. Đây là nội dung quan trọng thứ tư của nhận thức.
8 tính năng ưu việt của ICT
ICT có khả năng lan toả rộng khắp và đa năng. Có thể áp dụng ICT cho rất
nhiều hoạt động của con người từ nhu cầu cá nhân, đến việc kinh doanh và công
việc của Nhà nước.
ICT là nhân tố cơ bản để xây dựng các mạng và cho phép những người kết mạng
hưởng lợi ngày càng tăng khi việc sử dụng mạng ngày càng được mở rộng. ICT thúc
đẩy việc phổ biến thông tin và tri thức bằng cách tách nội dung ra khỏi vị trí
địa lý của chúng. Dòng chảy của thông tin vượt qua mọi sự ngăn cách địa lý, cho
phép những cộng đồng dân cư ở vùng sâu, vùng xa hội nhập với mạng toàn cầu và
làm cho thông tin, tri thức, văn hoá trở nên tiếp cận được về lý thuyết đối với
mọi cá nhân.
Bản chất "số"(digital) và "thực tế ảo” (virtual) của nhiều
sản phẩm và dịch vu ICT cho phép có được mức chi phí bằng 0 hoặc rất nhỏ bé.
Việc nhân bản nội dung sẽ gần như là miễn phí bất kể dung lượng lớn bao nhiêu;
chi phí phân phối và truyền thông cũng gần như bằng không. Kết quả là ICT có
thể cắt giảm đến tối thiểu chi phí giao dịch.
Khả năng lưu trữ, gọi ra, sắp xếp, lọc, phân phối và chia sẻ thông tin liên
tục của ICT có thể dẫn tới những lợi ích lớn trong hoạt động quản lý, cũng như
trong việc sản xuất, phân phối và chiếm lĩnh thị trường. ICT có thể sắp xếp các
công đoạn của quy trình công việc của sản xuất và cung ứng và làm cho quy trình
ban hành quyết định, quy trình kinh doanh và giao dịch nhanh chóng và hiệu quả
hơn.
Do tính hiệu quả được nâng cao và chi phí được giảm thiểu, ICT là động lực
thúc đẩy sự sáng tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, cũng như các kênh cung ứng mới
cho các ngành công nghiệp truyền thống, cũng như các loại hình kinh doanh sáng
tạo, các ngành công nghiệp mới.
ICT hỗ trợ việc cắt giảm các khâu trung gian, chúng cho phép người dân tiếp
cận trực tiếp được với các cơ quan chức năng khách hàng nhận được sản phẩm và
dịch vụ trực tiếp từ nhà cung ứng gốc. Đây không chỉ là nhân tố quan trọng để
nâng cao hiệu quả kinh doanh, mà còn tạo ra cái gọi là "thị trường cho mỗi
khách hàng", "chính quyền cho mỗi người dân", nghĩa là các tiềm
năng của ICT được khai thác để đáp ứng nhu cầu và sở thích của các công dân,
khách hàng trên cơ sở từng cá nhân một.
ICT mang tính toàn cầu. Bằng cách tạo ra và mở rộng các mạng, ICT có thể
vượt qua mọi sự ngăn cách về văn hoá và địa lý tạo cơ hội cho mọi cá nhân và
cộng đồng, bất luận họ sống ở nơi đâu trên trái đất, trở thành một phần hữu cơ
của mạng kinh tế toàn cầu. Đây đồng thời là một thách thức đối với hệ thống
chính sách, pháp luật và cấu trúc quan hệ giữa các quốc gia hiện nay.
Các tính năng này của ICT đối với chúng ta chẳng khác gì nguồn lợi vô tận
trong lòng đại dương. Hứa hẹn rất nhiều nhưng chỉ với những ai biết cách khai
thác và chịu trả giá cho việc xây dựng nguồn lực để khai thác. Trường hợp ngược
lại, tai họa có thể khó lường.
3 cách tiếp cận ICT trong việc hoạch định chính sách phát triển
Một là, phát triển ICT nhằm mục đích xuất khẩu (như mục tiêu
xuất khẩu 500 triệu USD phần mềm của nước ta chẳng hạn). Cách tiếp cận này có
thể mang lại những lợi ích kinh tế đáng kể, như sự tăng trưởng và thu hút đầu
tư nước ngoài. Tuy nhiên, những thành tựu như vậy không đương nhiên dẫn tới sự
phát triển chung cho cả xã hội. Với các trung tâm công nghệ cao và các loại
phần mềm, đường cày của những người nông dân chưa hẳn sẽ bớt nhọc nhằn hơn. Ví
dụ về việc phát triển ICT theo định hướng xuất khẩu của Costa Rica và
Đài Loan đã phần nào cho thấy điều này.
Hai là, phát triển năng lực sản xuất các sản phẩm ICT trong
nước. Cách làm này có thể đáp ứng nhu cầu nội địa, củng cố các mối quan hệ kinh
tế trong nước. Tuy nhiên, không sớm thì muộn, nó sẽ hạn chế khả năng tiếp nhận
công nghệ mới và làm giảm ưu thế cạnh tranh của đất nước trong nền kinh tế toàn
cầu. Trong ICT không thể có vinh quang cho cả đời người. Sản phẩm mới liên tục
xuất hiện trên thế giới, và nền sản xuất trong nước, trong đa số các trường
hợp, không đuổi theo kịp. Ví dụ về việc sản xuất các sản phẩm ICT trong nước là
trường hợp của Braxin, Ấn Độ, Hàn Quốc có thể cho ta nhiều bài học hữu ích.
Ba là, sử dụng ICT như động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, xã hội. Cách tiếp cận này lại có thể chia được ra thành hai loại:
- Sử dụng ICT để tái định vị
nền kinh tế quốc dân nhằm bảo đảm ưu thế cạnh tranh trong nền kinh tế toàn
cầu. Ví dụ như Malaysia,
Tobago.
- Sử dụng ICT để theo đuổi các
mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Ví dụ như Nam
Phi, Estonia.
Cách tiếp cận cuối cùng có vẻ phù hợp nhất đối với đất nước ta. Tuy nhiên,
đây là cách khó nhất. Vì ràng mọi chuyện không chỉ nằm ở ICT, mà ở khả nâng sử
dụng chúng như "đôi đũa thần" để tạo nên sự biến đổi kỳ diệu trên mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo cách tiếp cận này, có 5 loại công việc cần
làm:
- Xây dựng cơ sở hạ tầng ICT.
- Phát triển nhân lực.
- Xây dựng hệ thống chính sách
phù hợp.
- Tạo động lực kinh doanh.
- Bảo đảm nội dung thông tin và
các ứng dụng thiết thực. Khó, nhưng không nằm ngoài tầm tay của chúng ta.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng
Nguồn: Tạp
chí Nhà Quản lý