Khắc phục trở ngại trong xây dựng thương hiệu cho đặc sản địa phương
Những năm gần đây, nhiều đặc sản địa phương được người tiêu dùng biết đến rộng rãi và được yêu thích như: Bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), Bưởi Da Xanh (Bến Tre), Bưởi Năm Roi (Hậu Giang), Vú sữa Lò Rèn - Vĩnh Kim (Tiền Giang), Gạo Tám xoan Hải Hậu (Nam Định), Chè Shan Tuyết (Sơn La), Vải thiều Thanh Hà (Hải Dương) v.v.. Nhiều đặc sản địa phương đã bước đầu khẳng định được chất lượng, danh tiếng và đang từng bước xây dựng được thương hiệu cho mình.
Nhiều
địa phương cũng đang tích cực đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu cho đặc
sản của mình dưới các hình thức xây dựng và phát triển thương hiệu: nhãn hiệu,
nhãn hiệu tâp thể[1], nhãn hiệu chứng nhân, chỉ dẫn địa lý[2]. Các địa phương cũng đang nhận được sự
hỗ trợ tích cực của các đoàn thể, cơ quan quản lý nhà nước và Chính phủ thông
qua các chương trình hỗ trợ phát triển tài sản sở hữu trí tuệ cho các doanh
nghiệp và địa phương[3]. Tuy nhiên, việc xây dựng thương hiệu
cho đặc sản địa phương hiện đang gặp nhiều khó khăn và vướng mắc.
1.
Lợi ích của việc xây dựng thương hiệu
Đặc sản
địa phương cũng là các sản phẩm hàng hóa và do vậy, cũng chịu ảnh hưởng bởi các
quy luật cạnh tranh và cung cầu. Muốn tồn tại và phát triển được thì hàng hóa
đặc sản địa phương cần phải được tạo lập, bảo tồn và nâng cao giá trị cạnh
tranh cũng như giá trị gia tăng. Giá trị cạnh tranh ở đây là đặc tính, chất
lượng của sản phẩm, cam kết của người sản xuất, kinh doanh đối với người tiêu
dùng về uy tín, chất lượng, độ an toàn của sản phẩm, còn giá trị gia tăng là
những dịch vụ và giá trị ngoài giá trị cơ bản mà khách hàng đang được nhận khi
mua sản phẩm, ví dụ như dịch vụ giao hàng tận nơi, tư vấn bán hàng v.v..
Xây
dựng thương hiệu chính là cách để người dân tạo lập, bảo tồn và phát triển được
các giá trị đó, hay nói cách khác đơn giản hơn là giúp cho sản phẩm đặc sản địa
phương có sức cạnh tranh và có chỗ đứng trên thị trường. Đồng thời, người dân
phải được nâng cao kiến thức về nông nghiệp nông thôn, về quy trình canh tác,
chọn giống, sản xuất, bảo quản, tiếp thị sản phẩm, quản lý bán hàng.., học cách
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng, tiến hành các công việc đăng
ký quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập
thể, chỉ dẫn địa lý để tránh bị xâm phạm… Đây cũng là cơ sở để bảo vệ và phát
triển sản phẩm riêng, “đặc sản” của mình.
Một ví
dụ về việc xây dựng thương hiệu tốt là trường hợp vú sữa Lò Rèn - Vĩnh Kim. Sau
khi sản phẩm này đuợc Hợp tác xã (HTX) Vú sữa Lò Rèn - Vĩnh Kim đăng ký nhãn
hiệu tập thể, áp dụng quy trình trồng, chăm bón và thu hoạch theo tiêu chuẩn
GlobalGAP, tiến hành các công việc tiếp thị sản phẩm thì sản phẩm vú sữa Lò Rèn
- Vĩnh Kim đã bán được mức giá 30.000-40.000 đồng/trái trong khi hàng “xồ”,
hàng “cời” chỉ bán được từ 70.000-100.000 đồng/chục gồm 14 trái, hàng nhứt, nhì
giá chỉ khoảng 50.000-55.000 đồng/kg, còn các hàng “lỡ”, hàng “đạn”, nhà vườn
chở đi các chợ cũng chỉ bán được 10.000 đồng/chục. Sản phẩm vú sữa Lò Rèn -
Vĩnh Kim được đưa vào bán tại nhiều siêu thị và được xuất khẩu ra một số thị
trường Mỹ, Anh, Đức, Hà Lan, Đan Mạch. Như vậy có thể kết luận rằng, khi sản
phẩm đã có uy tín và thương hiệu thì giá trị sản phẩm sẽ tăng lên rất nhiều,
giúp cho bà con nông dân được tăng thu nhập, tin tưởng vào việc nuôi trồng sản
phẩm đặc sản đó.
2.
Những vướng mắc và đề xuất
Thời
gian qua, tại nhiều địa phương trong cả nước, người dân đã tiến hành khảo sát
tiềm năng, thế mạnh những sản phẩm địa phương có giá trị, có thể coi là “đặc
sản địa phương” để tập trung làm thương hiệu, đồng thời cũng đã tiến hành công
việc đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, nhãn hiệu tập thể,
nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý trong nước và tại một số nước trên thế
giới. Đây là tiền đề cho việc xây dựng thương hiệu của các hàng hóa đặc sản địa
phương.
Tuy
nhiên, việc triển khai công việc đăng ký nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý này mất khá
nhiều thời gian. Cần lưu ý là các đặc sản địa phương tiến hành việc đăng ký chỉ
dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu theo các chương trình hỗ trợ của Nhà
nước thường phức tạp, tốn nhiều chi phí, thời gian và đôi khi gây khó khăn cho
người dân. Chẳng hạn như việc xây dựng thương hiệu là nhãn hiệu tập thể “Bánh
chưng Bờ Đậu” thì Ủy ban nhân dân xã Sơn Cẩm và xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên phải tiến
hành rất nhiều công việc[4] từ tổ chức hội thảo, điều tra,
khảo sát, phân tích, đánh giá, thiết kế logo, soạn thảo quy chế.... trong khi
để tiến hành thủ tục đăng ký nhãn hiệu chứng nhận thì chỉ cần những tài liệu:
tờ khai, quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu tập thể; danh sách các thành viên
tham gia nhãn hiệu tập thể, quyết định về việc ban hành quy chế quản lý và sử
dụng nhãn hiệu tập thể; mẫu nhãn hiệu[5]. Do đó có thể thấy nhiều công việc như
điều tra, khảo sát, đánh giá, phân tích mẫu sản phẩm... là chưa cần thiết, và
nguồn kinh phí chi cho các công này nên được sử dụng vào việc đảm bảo và nâng
cao chất lượng sản phẩm.
Khó khăn thứ hai là do các đặc sản
địa phương tại Việt Nam chỉ được trồng và sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, nguồn giống
cây trồng, vật nuôi thiếu sự kiểm soát và định hướng, quy trình sản xuất còn
dựa chủ yếu vào kinh nghiệm, tập quán; công nghệ thu hoạch, chế biến, bảo quản
sau thu hoạch còn thủ công thô sơ; ứng dụng khoa học trong sản xuất và chế biến
nông sản chưa nhiều dẫn đến chất lượng thiếu đồng nhất, thiếu ổn định. Điều này
sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến uy tín của sản phẩm, dẫn đến thương hiệu đặc
sản của địa phương khó bền vững.
Do đó, phải chuyển dịch từ nông
sản sang hàng hóa nông sản, các nhà sản xuất và nông dân cần chủ động tạo dựng
mối liên kết trong sản xuất, hình thành các tổ chức liên kết, tổ chức tập thể
những người sản xuất. Thông qua các tổ chức liên kết này, việc triển khai công
tác chọn giống, áp dụng quy trình nuôi trồng, thu hoạch, bảo quản, quy trình
quản lý, quy trình kỹ thuật và việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
đồng nhất, hiệu quả và đảm bảo sản phẩm được đồng đều và chất lượng. Đồng thời,
thông qua các tổ chức tập thể này thì việc nâng cao hiểu biết và nhận thức về
tầm quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu cho đặc sản địa phương mới trở
nên có ý nghĩa và hiệu quả, giúp người dân chủ động và tích cực tham gia vào
công tác xây dựng thương hiệu.
Khó khăn thứ ba mà người dân đang
gặp phải là tìm "đầu ra” cho sản phẩm. Hiện nay, nhiều sản phẩm đặc sản đã
được đầu tư bài bản, từ việc chọn giống, canh tác, thu hoạch đến việc đăng ký
quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên
kết, chỉ dẫn địa lý, xúc tiến thương mại nhưng vẫn khó tìm được đầu ra cho sản
phẩm. Do đó, để giải quyết ổn thỏa bài toán đầu ra cho người dân, cần phải liên
kết chặt chẽ giữa người dân (sản xuất) với doanh nghiệp thương mại/thương lái,
chính quyền địa phương và các tổ chức. Có như vậy, việc triển khai tiêu thụ đặc
sản địa phương mới ổn định, giúp người nông dân an tâm sản xuất.
Khó khăn, vướng mắc thứ tư hiện
nay là công tác truyền thông quảng bá sản phẩm còn chưa được đầu tư nhiều. Do
đó, chính quyền địa phương cùng các đoàn thể cần trợ giúp người dân tổ chức các
sự kiện về nông nghiệp, về đặc sản địa phương như Festival, hội nghị, hội thảo,
sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình nông nghiệp, hỗ trợ truyền
thông, marketing cho các đặc sản địa phương. Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam…
cần hỗ trợ, cung cấp thông tin về tình hình thị trường nước ngoài, trong đó có
công tác giới thiệu, tư vấn, hỗ trợ tham gia các chương trình xúc tiến thương
mại, hợp tác và đầu tư quốc tế cho các đặc sản của Việt Nam.
Một khó khăn đáng kể khác nữa là
kiến thức về pháp luật, về xây dựng và quản trị thương hiệu tại các địa phương
còn hết sức hạn chế, dẫn tới việc thực hiện các công việc thường kéo dài, chồng
chéo, nhiều công việc tỏ ra không thiết thực và hiệu quả. Do đó rất cần có các
Công ty tư vấn để hỗ trợ và tư vấn các địa phương trong việc xây dựng thương
hiệu cho đặc sản địa phương.
3. Triển vọng
Trong thời gian tới, Thủ tướng
Chính phủ sẽ ban hành Quyết định về việc phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát
triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2011-2015 trong đó có nội dung về việc hỗ trợ
tổ chức và triển khai các hoạt động nhằm khai thác và nâng cao giá trị tài sản
trí tuệ, gồm có: tổ chức, triển khai các hoạt động, chương trình quảng bá, giới
thiệu sản phẩm, dịch vụ được bảo hộ sở hữu trí tuệ nhằm khai thác và nâng cao
giá trị tài sản trí tuệ; ưu tiên hỗ trợ khai thác và phát triển giá trị chỉ dẫn
địa lý của cộng đồng, địa phương và các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu; hỗ trợ
nghiên cứu, áp dụng các biện pháp, quy trình quản lý sản phẩm nhằm tạo sự ổn
định và nâng cao giá trị sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ
nghiên cứu, ứng dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật, các kết quả nghiên cứu khoa học,
công nghệ mới để quản lý, nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm
được bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đây là cơ hội rất lớn để hỗ trợ các địa phương tiếp
tục công tác xây dựng thương hiệu cho đặc sản tại địa phương mình.
Công việc xây dựng thương hiệu là
công việc đòi hỏi quyết tâm bền bỉ và sự đầu tư lâu dài. Nhà nước, các bộ ngành
và các tổ chức xã hội cần tạo điều kiện trợ giúp hơn nữa cho người dân để việc
xây dựng thương hiệu cho đặc sản địa phương thật sự hiệu quả và có ý nghĩa, từ
đó góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân.
[3]Cụ thể: 1 - chỉ dẫn địa
lý gồm có: nước mắm Phú Quốc, chè Shan tuyết Mộc Châu, cà phê Buôn Ma Thuột,
bưởi quả Đoan Hùng, thanh long Bình Thuận, hoa hồi Lạng Sơn, vải thiều Thanh
Hà, nước mắm Phan Thiết, gạp tám xoan Hải Hậu, cam quả Vinh, chè Tân Cương; 2-
nhãn hiệu tập thể gồm có: Gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), Tương nếp Cự Đà (Hà Nội),
Lụa Hà Đông (Hà Nội), Cam sành Hà Giang, Bánh đậu xanh Hải Dương, Cam sành Hàm
Yên (Tuyên Quang), Gạo Bao Thai Định Hóa (Thái Nguyên), Gạo Bao Thai Chợ Đồn
(Bắc Kạn), Rượu Làng Vân (Bắc Giang), Rượu nếp Nậm Cầm (Lào Cai), Rau an toàn
(Phạm Kha, Hải Dương), Bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), Mây tre Tăng Tiến (Bắc
Giang), Chè Thái Nguyên, Thanh trà Huế, Hồ tiêu Tiệu Phước (Quảng Nam),
Thủy sản An Giang, Kẹo dừa Bến Tre, Bưởi Biên Hòa (Đồng Nai), Chôm chôm nhãn
Cái Mơn (Bến Tre), Măng cụt Cái Mơn (Bến Tre), Nhãn hạt tiêu Cái Mơn (Bến
Tre), Sầu riêng Cái Mơn (Bến Tre), Mắm Châu Đốc (An Giang), Nếp bè Chợ Gạo
(Tiền Giang), Thanh Long Chợ Gạo (Tiền Giang), Hồ Tiêu Chư Sê (Gia Lai), Sơ ri
Gò Công (Tiền Giang), Xoài Cát Hòa Lộc (Tiền Giang), Vú sữa Lò Rèn – Vĩnh Kim
(Tiền Giang), Bưởi da xanh Mỹ Thạch An (Bến Tre), Sầu riêng Ngũ Hiệp (Tiền
Giang), Vú sữa Vĩnh Kim (Tiền Giang); 3- nhãn hiệu, gồm có: Miến dong Bình Lư
(Lai Châu), Gốm sứ Đông Triều (Quảng Ninh), Rau Gia Xuyên (Hải Dương), Nhãn
lồng Hưng Yên, Tranh đá quý Lục Yên (Yên Bái), Chè Suối Giàng (Yên Bái), Gạo
Yên Minh (Hà Giang), Nếp cẩm Yên Phú (Nam Định), v.v..
Nguồn: http://www.nclp.org.vn/ban-doc-viet/khac-phuc-tro-ngai-trong-xay-dung-thuong-hieu-cho-111ac-san-111ia-phuong
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------