Khảo sát việc tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Việt Nam gia nhập WTO năm 2006 đã mở ra nhiều cơ hội mới cho việc hội nhập vào kinh tế quốc tế, đồng thời cũng đem đến một số những thách thức nhất định trong quản lý kinh tế; trong đó có việc định giá chuyển nhượng giữa các bên liên kết trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Việc
khảo sát 50 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, và phỏng
vấn một số chuyên gia định giá chuyển nhượng về thực trạng thực thi
Thông tư 117/2005/TT-BTC cho thấy rằng các doanh nghiệp, nhìn chung, đã
thực hiện việc kê khai các giao dịch liên kết với cơ quan thuế theo quy
định. Tuy nhiên, đa số doanh nghiệp còn chưa chủ động trong việc chuẩn
bị trước hồ sơ chứng minh giá thị trường của giao dịch liên kết, một số
khác vẫn trong trạng thái “chờ và rút kinh nghiệm”.
1. Phần mở đầu
Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng
cao, hoạt động kinh doanh của các công ty đa quốc gia cũng ngày càng mở
rộng, các giao dịch xuyên biên giới có giá trị lớn giữa các công ty
thành viên diễn ra thường xuyên. Việc hoạch định thuế và tuân thủ theo
các quy định hiện hành tùy thuộc rất lớn vào mức độ chính xác của việc
định giá các “giao dịch được kiểm soát” này. Để đánh giá và quản trị các
rủi ro về thuế, các công ty phải xác định giá chuyển nhượng (“transfer
price”) trong năm dựa trên những chính sách rõ ràng và thống nhất với
những quy định hiện hành về định giá chuyển nhượng. Tuy nhiên, trên thực
tế, việc xác lập và thực thi một chính sách định giá chuyển nhượng thỏa
mãn cả hai mục tiêu thuế và kinh doanh là một điều hoàn toàn không dễ
dàng.
Ngày 19/12/2005, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư
117/2005/TT-BTC (“Thông tư”) hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị
trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết. Đối
tượng áp dụng là các cơ sở kinh doanh hoạt động tại Việt Nam có thực
hiện giao dịch với bên liên kết. Thông tư sử dụng bốn tiêu chuẩn phân
tích để phân tích so sánh, chấp nhận năm phương pháp để định giá thị
trường và nêu ra một số yêu cầu vềlưu trữ hồ sơ. Các quy định trong
Thông tư, nhìn chung, tương đồng với các hướng dẫn của OECD về định giá
chuyển nhượng.
Nhằm vào việc có một cái nhìn khái quát và khách quan
về việc tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng nêu trong Thông
tư, các tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế 50 doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, phỏng vấn một số chuyên gia
trong lãnh vực định giá chuyển nhượng, kết hợp với sử dụng các tư liệu
thứ cấp, sau đó sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tiến hành phân
tích việc tuân thủ các quy định vềđịnh giá chuyển nhượng của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
2. Một số lý luận cơ bản về định giá chuyển nhượng
2.1 Các khái niệm cơ bản về giá chuyển nhượng
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (“Organisation
of Economic Co-operation and Development- OECD”) hướng dẫn về việc xác
định giá chuyển nhượng: “Giá chuyển nhượng là giá áp dụng cho mục
đích ghi sổ, dùng để định giá giao dịch giữa các công ty thành viên,
được thống nhất quản lý với mức giá ảo cao hay thấp nhằm tác động vào
các khoản phải trả cho thu nhập hoặc chuyển vốn giữa các công ty thành
viên này”.
Trong vài thập niên gần đây, nhiều quốc gia cũng đã
xác lập nhiều quy định nhằm kiểm soát hoạt động định giá chuyển nhượng.
Hầu hết các quốc gia đều đặt ra “nguyên tắc giá thị trường” (“arm’s
length principle”) cho việc định giá chuyển nhượng. Nói một cách đơn
giản, nguyên tắc giá thị trường là nguyên tắc xác định giá chuyển nhượng
tuân thủ theo điều kiện khách quan của thị trường cạnh tranh, như thể
các giao dịch này được thực hiện giữa các đơn vị độc lập. Các quy định
về định giá chuyển nhượng trên thế giới đều hướng đến việc kiểm soát giá
giao dịch của các doanh nghiệp có quan hệ liên kết với nhau. Về nguyên
tắc chung, hai công ty có quan hệ liên kết với nhau khi một công ty có
thể kiểm soát hay có ảnh hưởng trọng yếu lên những quyết định kinh
doanh, và việc điều hành hoạt động của công ty kia hoặc cả hai công ty
đều dưới quyền kiểm soát của một công ty khác. Thông thường, hai công ty
được coi là có quan hệ liên kết với nhau khi công ty này nắm giữ trực
tiếp hay gián tiếp tối thiểu 20% quyền biểu quyết của công ty kia.
Trong một số trường hợp, doanh nghiệp gặp khó khăn
trong việc định giá chuyển nhượng do không thống nhất được với cơ quan
thuế về giá chuyển nhượng phù hợp. Vì vậy, cơ quan thuế và doanh nghiệp
sẽ thỏa thuận với nhau nhằm giải quyết những bất đồng nêu trên. Sự thỏa
thuận đó tạm dịch là “thỏa thuận xác định giá trước” (“Advance Pricing
Arrangements”). Theo định nghĩa của OECD về Hướng dẫn định giá chuyển
nhượng, thỏa thuận xác định giá trước là một thỏa thuận giữa bên nộp
thuế, gồm một hay một số doanh nghiệp liên kết, với một hay một số cơ
quan thuế nhằm xác định trước một loạt những tiêu chuẩn như phương pháp
định giá, các giả định kinh tế, các dự báo của các giao dịch về định giá
chuyển nhượng trong một khoảng thời gian cố định.
2.2. Cơ chế kiểm soát việc định giá chuyển nhượng trong hoạt động đầu tư của Bộ Tài chính
Cơ chế kiểm soát việc định giá chuyển nhượng trong
hoạt động đầu tư của Bộ Tài chính được thể hiện trong Thông tư số
117/2005/TT-BTC (“Thông tư”) ban hành ngày 19 tháng 12 năm 2005 và có
hiệu lực thi hành từ ngày 26 tháng 1 năm 2006, Thông tư số 37/QD-BTC ban
hành ngày 4 tháng 1 năm 2006, Thông tư 115/2005/TT-BTC (16/12/2005), và
Thông tư 119/2003/TT-BTC (12/12/2003).
Đối tượng áp dụng của Thông tư là các tổ chức, cá
nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (sau đây được gọi chung là
các cơ sở kinh doanh) thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh
doanh tại Việt Nam có giao dịch kinh doanh với các bên có quan hệ liên
kết có nghĩa vụ kê khai, xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp
tại Việt Nam.
Phạm vi áp dụng của Thông tư là các giao dịch mua,
bán, trao đổi, thuê, cho thuê, chuyển giao hoặc chuyển nhượng hàng hóa,
dịch vụ trong quá trình kinh doanh (được gọi chung là giao dịch kinh
doanh) giữa các bên có quan hệ liên kết. Bên có quan hệ liên kết được
định nghĩa trong Thông tư được áp dụng luật 20% quyền sở hữu, nghĩa là
một cơ sở kinh doanh nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn cổ
phần hoặc tổng tài sản của cơ sở kinh doanh kia.
Yêu cầu chung của các văn bản này là các giao dịch
liên kết phải được so sánh với giá thị trường. Việc này thực hiện thông
qua so sánh giá, hoặc gián tiếp thông qua so sánh lợi nhuận. Doanh
nghiệp có trách nhiệm chứng minh các giao dịch liên kết của mình được
thực hiện theo giá thị trường. Để đáp ứng yêu cầu này, doanh nghiệp phải
lập lưu trữ hồ sơ xác định giá tại thời điểm giao dịch. Hồ sơ này khác
với hồ sơ tạo lập trong giao dịch thông thường, được sử dụng nhằm xác
định giá của giao dịch như hóa đơn, hợp đồng,… Trường hợp doanh nghiệp
không cung cấp hồ sơ xác định giá, cơ quan thuế có quyền ấn định giá và
việc này có thể gây ra những hậu quả xấu ngoài dự kiến, liên quan đến
nghĩa vụ thuế và lợi nhuận của doanh nghiệp.
3.
Khảo sát tình hình tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ năm
2006 đến giữa năm 2008
3.1. Khảo sát qua bảng câu hỏi
Để tìm hiểu thực trạng tuân thủ các quy định trên của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, các
tác giả đã thực hiện một khảo sát các doanh nghiệp thông qua bảng câu
hỏi và bảng phỏng vấn các chuyên gia tư vấn về giá chuyển nhượng.
§ Phạm vi và quy mô của mẫu khảo sát
Bảng câu hỏi khảo sát được thực hiện trên 50
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, tỉnh Đồng Nai, và Bình Dương. Quốc gia
đầu tư của các doanh nghiệp trong mẫu bao gồm một số nước Châu Á như Đài
Loan, Singapore, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, …,
Châu Âu gồm Đức, Anh, Pháp, Châu Mỹ có Hoa Kỳ và một số cùng ưu đãi
thuế quan như các quần đảo British Virgin, Cayman, và Samoa. Lĩnh vực
đầu tư của mẫu khảo sát bao gồm cả hàng tiêu dùng, điện tử, thực phẩm và
thức uống, hàng công nghiệp, ôtô xe máy, dịch vụ và đầu tư – kinh doanh
bất động sản. Phạm vi khảo sát là hoạt động tuân thủ các quy định về
định giá chuyển nhượng từ năm 2006 đến giữa năm 2008.
§ Kết quả khảo sát:
Bảng 1: Mức độ can thiệp của Ban Giám đốc vào việc tuân thủ Thông tư
Tham gia vào quá trình hoạch định và triển khai các bước tuân thủ
|
Mức độ
|
Số lượng
|
Tỷ trọng so với mẫu
50 DN
|
|
Chỉ nắm những nội dung tóm tắt của Thông tư
|
32
|
64%
|
|
Trực tiếp tìm hiểu hay tham gia các buổi hội thảo của cơ quan Thuế/công ty tư vấn
|
18
|
36%
|
|
Tham gia vào quá trình hoạch định và triển khai các bước tuân thủ
|
8
|
16%
|
|
Kiểm tra định kỳ việc tuân thủ
|
1
|
2%
|
|
Tổng cộng
|
59*
|
|
*: Doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều nội dung trong câu hỏi này
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát
Bảng 1 cho thấy, mặc dù Thông tư về giá chuyển nhượng
là một trong những nội dung quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến nghĩa vụ
thuế và các khoản phạt thuế của doanh nghiệp lẫn của cả tập đoàn, nhưng
có đến 64% doanh nghiệp được khảo sát cho biết Ban Giám đốc chỉ nắm
những nội dung chính của Thông tư do người dưới quyền báo cáo lại, 36%
Ban Giám đốc trực tiếp tìm hiểu hoặc tham gia các buổi hội thảo của cơ
quan Thuế hay công ty tư vấn.
Mẫu khảo sát cũng cho thấy chỉ có 16% Ban Giám đốc
thực sự tham gia vào quá trình hoạch định và triển khai các bước để tuân
thủ luật, và 2% doanh nghiệp được khảo sát có Ban Giám đốc trực tiếp
kiểm tra quá trình tuân thủ.
Bảng 2: Đơn vị đảm trách về giá chuyển nhượng tại Việt Nam
|
Đơn vị đảm trách
|
Số lượng
|
Tỷ trọng
|
|
Lập phòng/bổ nhiệm chuyên gia định giá chuyển nhượng
|
1
|
2%
|
|
Phòng kế toán/tài chính kiêm nhiệm
|
45
|
90%
|
|
Phòng kế toán/tài chính kiêm nhiệm và sử dụng một số dịch vụ hỗ trợ của các công ty tư vấn
|
4
|
8%
|
|
Tổng cộng
|
50
|
100%
|
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát
Theo bảng 2, trong hai năm đầu thực hiện các quy định
của Thông tư, xét về cơ cấu tổ chức, 90% doanh nghiệp trong mẫu khảo
sát cử phòng kế toán/tài chính kiêm nhiệm việc tuân thủ các quy định về
giá chuyển nêu trong Thông tư. Vì không có phòng ban chuyên trách, hạn
chế về kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn, các phòng kế toán/tài chính
này chỉ mới dừng lại ở việc kê khai theo quy định các giao dịch với bên
liên kết.
Để khắc phục tình trạng trên, có 8% doanh nghiệp được
khảo sát đã thuê dịch vụ của các công ty tư vấn để hỗ trợ quá trình
thực hiện. Chỉ có một doanh nghiệp có chuyên gia giá chuyển nhượng nội
bộ được điều từ công ty mẹ sang; tuy nhiên, cần xem xét đến mức độ am
hiểu địa phương của chuyên gia nước ngoài.
Bảng 3: Thời điểm doanh nghiệp quan tâm đến giá chuyển nhượng trong vòng đời dự án
|
Giai đoạn
|
Số lượng
|
Tỷ trọng
|
|
Giai đoạn đưa ra ý tưởng về dự án
|
10
|
20%
|
|
Giai đoạn hoạch định dự án
|
16
|
32%
|
|
Giai đoạn thực hiện dự án
|
18
|
36%
|
|
Giai đoạn hoàn tất dự án
|
6
|
12%
|
|
Tổng cộng
|
50
|
100%
|
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát
Xét về thời điểm doanh nghiệp bắt đầu quan tâm đến
vấn đề giá chuyển nhượng, cũng như hồ sơ liên quan, bảng 3 cho thấy,
phần lớn doanh nghiệp tập trung vào giai đoạn hoạch định và thực hiện dự
án (chiếm 68% doanh nghiệp trong mẫu). Chỉ có 20% doanh nghiệp được
khảo sát quan tâm đến vấn đề giá chuyển nhượng ngay từ khi mới đưa ra ý
tưởng về dự án. Việc tính toán giá chuyển nhượng càng sớm sẽ giúp doanh
nghiệp hoạch định và tuân thủ tốt hơn các quy định của luật.
Bảng 4: Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về các nội dung của Thông tư
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát
Theo bảng 4, phần lớn doanh nghiệp cho rằng họ thông
hiểu Thông tư ở mức trên trung bình; chỉ có phương pháp xác định giá thị
trường và những yêu cầu về lập và lưu trữ hồ sơ xác định giá thị trường
thì nhiều doanh nghiệp còn gặp lúng túng. Cho đến nay, do nguồn dữ liệu
được cơ quan thuế chấp nhận làm cơ sở so sánh giá còn rất hạn chế,
doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc chứng minh các giao dịch thực
hiện theo giá thị trường. Thêm vào đó, số lượng hồ sơ cần thiết lưu trữ
cho mỗi giao dịch cũng là một vấn đề được nhiều doanh nghiệp quan tâm,
vì đa phần các hồ sơ liên quan đều được công ty mẹ hay tập đoàn lưu trữ ở
nước ngoài.
Bảng 5: Những công việc mà doanh nghiệp đã thực hiện để tuân thủ theo thông tư
|
Công việc đã thực hiện
|
Số lượng
|
Tỷ trọng
|
|
Kê khai và nộp mẫu 01-2006 cho cơ quan thuế về giao dịch với bên liên kết thực hiện trong năm theo quy định
|
50
|
100%
|
|
Tìm hiểu thông tin về các quy định định giá chuyển nhượng và so sánh với các quy định tương tự tại các quốc gia của bên liên kết
|
4
|
8%
|
|
Đánh giá các rủi ro có thể có của các giao dịch với bên liên kết.
|
2
|
4%
|
|
Thực hiện các phân tích về chức năng của doanh nghiệp và các vấn đề liên quan đến thuế
|
4
|
8%
|
|
Nghiên cứu, soát xét lại quy trình định giá chuyển nhượng của doanh nghiệp.
|
3
|
6%
|
|
Xem xét lại toàn bộ giao dịch liên kết và xác định lại các quan hệ liên kết theo luật định
|
4
|
8%
|
|
Xây dựng chính sách định giá rõ ràng cho mỗi giao dịch và kiểm tra
tính nhất quán giữa việc định giá trên cơ sở thuế và cơ sở hoạt động
kinh doanh.
|
2
|
4%
|
|
Lựa chọn phương pháp định giá chuyển nhượng phù hợp
|
3
|
6%
|
|
Chuẩn bị và lưu trữ hồ sơ định giá chuyển nhượng của từng giao dịch với bên liên kết
|
5
|
10%
|
|
Lập và lưu trữ thỏa thuận tổng quát với bên liên kết để xác định vai trò, trách nhiệm mỗi bên và cơ sở định giá chuyển nhượng
|
10
|
20%
|
|
Bổ nhiệm chuyên viên kiểm tra quá trình xây dựng và thực hiện những chính sách trên để kịp thời giải quyết khó khăn và bất cập
|
1
|
2%
|
|
Kiểm tra định kỳ hoạt động chuyển giá
|
1
|
2%
|
|
Tổng cộng
|
89*
|
|
*: Doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều nội dung trong câu hỏi này
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát
Kết quả ở bảng 5 cho thấy, mặc dù toàn bộ doanh
nghiệp trong mẫu khảo sát đều đã kê khai các giao dịch liên kết trong
năm theo quy định, tuy nhiên, lại có rất ít doanh nghiệp (ít hơn 10%)
thực hiện những bước cần thiết để có một kê khai xác đáng như phân tích
chức năng doanh nghiệp, lựa chọn phương pháp xác định giá thị trường phù
hợp, soát xét lại quy trình định giá và lưu trữ hồ sơ liên quan, v.v…
Việc làm này có thể dẫn đến những rủi ro phạt thuế sau này khi cơ quan
thuế thực sự kiểm tra mức độ tuân thủ của doanh nghiệp về giá chuyển
nhượng, đặc biệt đối với những trường hợp chưa có chuẩn bị về hồ sơ xác
định giá thị trường cũng như hồ sơ về hợp đồng với bên liên kết.
Bên cạnh đó, chỉ có một doanh nghiệp trong mẫu khảo
sát (tức 2%) có bổ nhiệm chuyên gia định giá chuyển nhượng để đề xuất,
xây dựng và thực hiện các chính sách tuân thủ. Cũng chỉ duy nhất một
doanh nghiệp có soát xét, kiểm tra định kỳ việc tuân thủ các quy định về
định giá chuyển nhượng, nhằm kịp thời xác định và khắc phục những hạn
chế/khó khăn khi thực hiện. Đây là con số quá khiêm tốn, trong khi quy
định về định giá chuyển nhượng đã chính thức có hiệu lực thi hành trong
hai năm và rủi ro sai sót về xác định giá chuyển nhượng là khá cao.
Bảng 6: Thời điểm và cách thức chuẩn bị hồ sơ xác định giá thị trường
|
Thời điểm và cách thức chuẩn bị
|
Số lượng
|
Tỷ trọng
|
|
Chuẩn bị cùng lúc trên phạm vi toàn cầu cho toàn tập đoàn
|
3
|
6%
|
|
Chuẩn bị riêng lẻ theo từng quốc gia và điều chỉnh theo luật địa phương
|
2
|
4%
|
|
Chỉ chuẩn bị khi cần thiết, riêng lẻ theo từng quốc gia
|
16
|
32%
|
|
Không chuẩn bị trước
|
29
|
58%
|
|
Tổng cộng
|
50
|
100%
|
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát
Nếu xét về thời điểm và cách thức chuẩn bị hồ sơ xác
định giá thị trường, bảng 6 cho thấy 58% doanh nghiệp trong mẫu khảo sát
không chuẩn bị trước hồ sơ xác định giá thị trường. Điều này một phần
là do cho tới nay, cơ quan thuế chưa có hướng dẫn chi tiết về cách thức
xác định giá thị trường cũng như các nguồn dữ liệu dùng so sánh còn rất
hạn chế.
32% doanh nghiệp trong mẫu khảo sát cho rằng họ sẽ
chuẩn bị hồ sơ định giá khi cần thiết và chuẩn bị riêng lẻ cho thị
trường Việt Nam. Tuy nhiên, vào thời điểm khảo sát, doanh nghiệp vẫn
chưa chuẩn bị bất kỳ hồ sơ gì liên quan đến các giao dịch liên kết và
cho rằng công ty mẹ sẽ hỗ trợ khi cần thiết. Cách làm này thực sự rủi ro
vì doanh nghiệp chỉ có 30 ngày để chuẩn bị thông tin khi được cơ quan
thuế yêu cầu, mà theo kinh nghiệm của các chuyên gia tư vấn thì 30 ngày
sẽ không đủ nếu doanh nghiệp cần tìm kiếm dữ liệu ở những nguồn khác
nhau, đặc biệt đối với những giao dịch diễn ra từ nhiều năm về trước.
Tuy nhiên, trong mẫu khảo sát cũng có 6% doanh nghiệp
chuẩn bị hồ sơ cùng lúc trên phạm vi toàn cầu cho cả tập đoàn. Đây là
một cách làm hiệu quả, nhất quán và giúp giảm chi phí, thời gian nhưng
vấn đề quan trọng là doanh nghiệp cần tìm hiểu những khác biệt trong các
quy định về định giá chuyển nhượng trên phạm vi quốc tế và Việt Nam để
có những điều chỉnh thích hợp.
Bên cạnh đó, có 4%, tức 2 trong số 50 doanh nghiệp
trong mẫu cho biết họ đã chuẩn bị hồ sơ riêng lẻ tại Việt Nam và cũng đã
có những điều chỉnh về giá cho phù hợp với những quy định hiện hành.
Đây là hai doanh nghiệp lớn và hoạt động tại nhiều nước trên thế giới
nên đã có kinh nghiệm về xác định giá chuyển nhượng một cách hợp lý. Để
đảm bảo mức độ tuân thủ, hai doanh nghiệp này đã thuê dịch vụ tư vấn để
hỗ trợ trong buổi đầu áp dụng các quy định trên.
Bảng 7: Đánh giá về chính sách định giá chuyển nhượng
|
Thời điểm và cách thức chuẩn bị
|
Số lượng
|
Tỷ trọng
|
|
Chuẩn bị cùng lúc trên phạm vi toàn cầu cho toàn tập đoàn
|
3
|
6%
|
|
Chuẩn bị riêng lẻ theo từng quốc gia và điều chỉnh theo luật địa phương
|
2
|
4%
|
|
Chỉ chuẩn bị khi cần thiết, riêng lẻ theo từng quốc gia
|
16
|
32%
|
|
Không chuẩn bị trước
|
29
|
58%
|
|
Tổng cộng
|
50
|
100%
|
*: Doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều nội dung trong câu hỏi này.
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát
Theo kết quả khảo sát trình bày ở bảng 7, tất cả các
giao dịch trong mẫu đều có thỏa thuận bằng văn bản. Tuy nhiên, đa số văn
bản được lập khá sơ sài, chủ yếu tập trung vào quy cách hàng hóa/bản
chất của dịch vụ, giá, số lượng, và thời gian giao hàng. Theo các chuyên
gia về định giá chuyển nhượng, điều khoản quyền và trách nhiệm là căn
cứ để phân tích chức năng của mỗi bên trong giao dịch liên kết, từ đó
xác định giá thị trường hợp lý của giao dịch.
Chỉ có 1 doanh nghiệp (2%) trong mẫu có chính sách rõ
ràng nhằm tính toán giá giao dịch liên kết, trong khi đây được xem là
một trong những tài liệu quan trọng trong hồ sơ xác định giá thị trường.
Chỉ có 12% trong mẫu khảo sát tổ chức soát xét lại quá trình định giá
chuyển nhượng và ghi nhận những khác biệt về cơ sở tính thuế và cơ sở
định giá trong kinh doanh, từ đó ghi nhận những khác biệt cần điều chỉnh
vào sổ sách kế toán.
Điều đáng chú ý là có đến 58% doanh nghiệp trong mẫu
khảo sát cho biết giá chuyển nhượng do công ty mẹ quy định. Đa số doanh
nghiệp chỉ áp dụng mức giá trên và hoàn toàn không biết đến cơ sở định
giá cũng như những hồ sơ liên quan. Hạn chế này dễ dẫn đến hậu quả là giá được định tuân theo những quy định về định giá chuyển nhượng nơi công ty mẹ đặt trụ sở và không phù hợp với luật Việt Nam.
3.2 Khảo sát bằng phỏng vấn chuyên gia
§ Phạm vi và quy mô phỏng vấn
Phỏng vấn được thực hiện với một số trưởng phòng cao
cấp, trưởng nhóm chuyên trách về dịch vụ tư vấn định giá chuyển nhượng
và một số trưởng phòng, trưởng nhóm kiểm toán của một trong những công
ty kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam có cung cấp dịch vụ tư vấn về định
giá chuyển nhượng. Phạm vi khảo sát là hoạt động thực thi các quy định
về định giá chuyển nhượng từ năm 2006 đến giữa năm 2008, căn cứ trên số
hợp đồng. Số liệu phần trăm trong các bảng 8, 9, 10 là trung bình cộng
của ý kiến các chuyên gia.
§ Nhận định về mức độ tuân thủ theo Thông tư của các doanh nghiệp
Việc kê khai các giao dịch liên kết là cơ sở để cơ
quan thuế đánh giá rủi ro về định giá chuyển nhượng không hợp lý của
doanh nghiệp. Do đó, việc kê khai đầy đủ, xác đáng có thể giảm bớt rủi
ro nghi vấn từ phía cơ quan thuế. Các công ty đa quốc gia thường tiến
hành phân tích xác định giá thị trường toàn cầu, và áp dụng cho các
doanh nghiệp thành viên. Tuy nhiên, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam cần lưu ý rằng những việc này không thay thế công
việc tuân thủ về xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết tại
Việt Nam.
Các kiểm toán viên cho biết có chưa đến 10% doanh
nghiệp thực sự chú trọng việc tuân thủ các quy định của Thông tư bằng
cách lập hồ sơ giá thị trường, đánh giá rủi ro giá chuyển nhượng, thực
hiện phân tích chức năng doanh nghiệp, cũng như nghiên cứu, soát xét lại
quy trình xác định giá chuyển nhượng. Đa số doanh nghiệp thuê dịch vụ
của các công ty tư vấn để thực hiện những công việc trên.
Bảng 8: Một số dịch vụ chính mà công ty tư vấn đã cung cấp 2006 – 2008
|
Dịch vụ
|
Tỷ trọng
|
|
Lập hồ sơ xác định giá thị trường của các giao dịch liên kết
|
35%
|
|
Đánh giá rủi ro liên quan đến hoạt động định giá chuyển nhượng của doanh nghiệp
|
28%
|
|
Nghiên cứu/soát xét lại quy trình định giá chuyển nhượng
|
15%
|
|
Kê khai mẫu 01-2006 cho cơ quan thuế về các giao dịch với bên liên kết trong năm
|
11%
|
|
Tư vấn các quy định về định giá chuyển nhượng tại Việt Nam và các vấn đề liên quan
|
3%
|
|
Phân tích chức năng và tư vấn các vấn đề thuế liên quan
|
2%
|
|
Tư vấn các quy định về bên liên kết
|
2%
|
|
Quản lý thuế toàn cầu
|
2%
|
|
Tìm hiểu thông tin chung
|
2%
|
|
Tổng cộng
|
100%
|
Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu của các chuyên gia được phỏng vấn
Bảng 8 cho thấy, hơn một phần ba trong số các doanh
nghiệp tìm đến chuyên gia tư vấn để thuê dịch vụ lập hồ sơ xác định giá
thị trường, đây là một hồ sơ quan trọng và là bằng chứng của giao dịch
theo giá thị trường. Do Thông tư mới có hiệu lực thi hành, các hướng dẫn
thực hiện của cơ quan thuế chưa rõ ràng, vì vậy, dù đã có kinh nghiệm
về giá chuyển nhượng ở những thị trường khác, nhiều doanh nghiệp vẫn tỏ
ra thận trọng và tìm đến sự hỗ trợ của các chuyên gia.
Bên cạnh đó, việc đánh giá rủi ro liên quan đến giá
chuyển nhượng cũng được chú trọng và chiếm 28% trong tổng số các “đơn
đặt hàng”. Theo các chuyên gia, đánh giá rủi ro cũng là một việc quan
trọng giúp doanh nghiệp xác định mức độ rủi ro mà doanh nghiệp có thể
chấp nhận, từ đó xây dựng chiến lược hồ sơ định giá thị trường hiệu quả.
Bảng 9: Quốc gia đầu tư của các dự án có thuê tư vấn về định giá chuyển nhượng
|
Quốc gia
|
Tỷ trọng
|
|
Hoa Kỳ
|
44%
|
|
Nhật
|
33%
|
|
Đài Loan
|
7%
|
|
Đức
|
4%
|
|
Hàn Quốc
|
4%
|
|
Thụy Sĩ
|
4%
|
|
Việt Nam
|
4%
|
|
Tổng cộng
|
100%
|
|
Quốc gia
|
Tỷ trọng
|
|
Hoa Kỳ
|
44%
|
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phỏng vấn
Mức độ tuân thủ Thông tư về xác định giá chuyển
nhượng tại Việt Nam của doanh nghiệp còn tùy thuộc vào kinh nghiệm tuân
thủ những quy định tương tự của tập đoàn. Những doanh nghiệp xuất xứ từ
những quốc gia mà các quy định về xác định giá chuyển nhượng đã đi vào
khuôn khổ có xu hướng chú trọng nhiều hơn đến việc tuân thủ các quy định
mới tại Việt Nam. Cụ thể, trong số các doanh nghiệp thuê dịch vụ của
chuyên gia, có đến 44% đến từ Mỹ, quốc gia xây dựng và phát triển những
quy định về định giá chuyển nhượng sớm nhất trên thế giới, mặc dù đầu tư
từ Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988-2007 chỉ đứng thứ 8; tiếp đó là Nhật
Bản (33%) (bảng 9).
Bảng 10: Tỷ trọng theo ngành đầu tư của các dự án có thuê chuyên gia tư vấn
|
Quốc gia
|
Tỷ trọng
|
|
Hoa Kỳ
|
44%
|
|
Nhật
|
33%
|
|
Đài Loan
|
7%
|
|
Đức
|
4%
|
|
Hàn Quốc
|
4%
|
|
Thụy Sĩ
|
4%
|
|
Việt Nam
|
4%
|
|
Tổng cộng
|
100%
|
|
Quốc gia
|
Tỷ trọng
|
|
Hoa Kỳ
|
44%
|
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phỏng vấn
Ở những quốc gia mà các quy định về giá chuyển nhượng
đã được thực thi trong một thời gian dài, cơ quan thuế có xu hướng tập
trung kiểm soát những giao dịch phức tạp và các giao dịch vô hình. Tuy
nhiên, theo các chuyên gia, Việt Nam sẽ tập trung kiểm tra trước tiên
những giao dịch hữu hình như giá chuyển nhượng tài sản cố định, nguyên
vật liệu và thành phẩm ở giai đoạn đầu áp dụng các quy định này (Bảng
10). Tuy nhiên, ta cũng có thể thấy các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ
thực sự chưa quan tâm nhiều đến những quy định trên, dù tồn tại rủi ro
về định giá chuyển nhượng trong ngành này dưới dạng các hợp đồng tư vấn,
giám sát, hay quản lý, v.v…
4. Kết luận và kiến nghị
4.1. Kiến nghị
Qua kết quả khảo sát, các tác giả đưa ra một số kiến nghị sau:
- Doanh nghiệp cần nhận thức đúng đắn tầm quan trọng
của việc tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng là tiền đề để
xây dựng một chính sách định giá hiệu quả
- Doanh nghiệp cần xác định, tìm hiểu sự khác biệt
giữa việc định giá theo cơ sở thuế với việc định giá cho mục đích quản
lý hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Cơ quan thực thi cũng như doanh nghiệp cần nắm rõ
những khác biệt giữa các quy định về định giá chuyển nhượng của Việt Nam
với một số quy định hiện hành trên thế giới, và có giải pháp giải quyết
các khác biệt
- Cơ quan thực thi cũng như doanh nghiệp cần hiểu
thấu đáo các mối quan hệ liên kết trong tập đoàn theo quy định hiện
hành, và xác định rõ cách thức ghi nhận và định giá của các giao dịch
liên kết
- Doanh nghiệp cần xác lập chính sách định giá cho
mỗi giao dịch và kiểm tra tính nhất quán giữa mục đích thuế và mục đích
kinh doanh
- Doanh nghiệp cần lập và lưu trữ hồ sơ về hợp đồng với bên liên kết một cách linh hoạt
4.2. Kết luận
Định giá chuyển nhượng là một hoạt động phổ biến
trong các tập đoàn đa quốc gia, là một công cụ để các tập đoàn đa quốc
gia tính toán lợi nhuận, kiểm soát vốn ở từng quốc gia, tối thiểu hóa
thuế phải nộp cho Nhà nước và giảm thiểu rủi ro trong đầu tư. Thực chất,
hoạt động định giá chuyển nhượng là một “con sóng ngầm” trong các dự án
có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam, có tác động mạnh
mẽ đến nguồn thu ngân sách của nước nhận đầu tư, ảnh hưởng trực tiếp đến
môi trường cạnh tranh.
Thông tư 117/2005/TT-BTC ban hành vào cuối năm 2005,
và có hiệu lực thi hành từ ngày 26 tháng 1 năm 2006 thể hiện nỗ lực của
Bộ Tài chính trong việc kiểm soát hoạt động định giá chuyển nhượng,
chống thất thu thuế. Trong giai đoạn đầu áp dụng, các quy định này còn
một số tồn tại gây khó khăn cho doanh nghiệp lẫn cơ quan thuế trong quá
trình tuân thủ và kiểm soát. Việc thực thi chỉ dừng ở mức đối phó, kê
khai những giao dịch với bên liên kết, và rất ít doanh nghiệp chuẩn bị
một hồ sơ toàn diện chứng minh giá thị trường của giao dịch.
Để giảm thiểu rủi ro về giá chuyển nhượng, cả các cơ
quan thực thi thông tư và các doanh nghiệp cần nhận thức đúng đắn tầm
quan trọng của việc định giá chuyển nhượng phù hợp, tìm hiểu những khác
biệt về luật giữa các nước và cơ sở tính thuế với cơ sở hoạt động kinh
doanh. Thêm vào đó, việc xác định chiến lược hồ sơ giá thị trường hợp
lý, và có kiểm tra định kỳ quá trình thực thi, và giải quyết kịp thời
những khó khăn gặp phải là những giải pháp doanh nghiệp cần thực hiện
trong giai đoạn hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quyết định 37/QĐ-BTC (4/1/2006)
2. Thông tư 115/2005/TT-BTC (16/12/2005)
3. Thông tư 117/2005/TT-BTC (19/12/2005)
4. Thông tư 119/2003/TT-BTC (12/12/2003)
5. OECD, Transfer Pricing Guidelines for Multinational enterprises and Tax administrations, 1999
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 225, THÁNG 7 NĂM 2009 - TS. HÀ NAM KHÁNH GIAO & PGS.TS. BÙI LÊ HÀ