'Không bị kết tội nếu bắt cướp lại vô tình gây án mạng'
Chào Chi Mai,
Vì không có đủ điều kiện để xác minh đầy đủ nội dung
thông tin do bạn cung cấp, chúng tôi giả định rằng: những thông tin của
bạn nêu là hoàn toàn xác thực; người bạn của bạn đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự và có năng lực hành vi đầy đủ theo quy định của pháp
luật; hành vi đạp ngã xe đối tượng vừa cướp giật tài sản và đang chạy
trốn của người bạn của bạn ở trong điều kiện không thể lựa chọn biện
pháp nào khác để ngăn chặn việc trốn chạy của nạn nhân và hành vi đó
cũng là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân trong trường hợp bạn
nêu.
Hậu quả chết người trong trường hợp bạn nêu trên là
rất lớn, thể hiện tổn thất tính mạng con người và mất mát rất nhiều cho
gia đình nạn nhân, nhưng xét trong phạm vi thông tin bạn nêu cũng như
giả định chúng tôi đặt ra, chúng tôi nhận thấy rằng hành vi của người
bạn của bạn chưa phải là dấu hiệu cấu thành tội phạm (các tội xâm phạm
đến tính mạng con người được quy định từ Điều 93 đến Điều 102) theo quy
định tại BLHS.
Cụ thể, chúng tôi đối chiếu dấu hiệu của hành vi nói
trên đối với các hành vi khác trong các điều luật có nội dung liên quan
đến hành vi giết người/làm chết người khác để có thể nhìn nhận rõ hơn
vấn đề dưới góc độ pháp lý:
Thứ nhất, hành vi chạy theo và đạp ngã xe một người
vừa cướp giật tài sản, đang chạy thoát để lấy lại tài sản cho người bị
hại thể hiện tinh thần ngăn chặn việc trốn chạy của đối tượng, giúp
người bị hại lấy lại tài sản bị cướp. Đây không phải là hành vi nhằm
tước đoạt tính mạng của người khác, ý thức của người thực hiện hành vi
chỉ muốn ngăn chặn việc trốn chạy của một đối tượng vừa thực hiện hành
vi cướp giật tại sản để lấy lại tài sản cho người bị hại. Ở đây không
tồn tại ý thức cố ý tước đoạt tính mạng của nạn nhân, mà trong ý thức
của người thực hiện hành vi chỉ thể hiện hành động có tính nghĩa hiệp,
ngăn chặn sự chạy trốn và mong muốn giành lại tài sản bị cướp giật cho
người bị hại. Do đó, không đủ dấu hiệu cấu thành “tội giết người” theo
Điều 93 BLHS.
Thứ hai, việc đạp ngã xe mô tô (hoặc xe gắn máy) của
người khác ngã xuống đường trong lúc người đó phóng xe với tốc độ
nhanh, lại không đội mũ bảo hiểm, đường có giải phân cách (con lươn)…
thể hiện khả năng rất cao có thể dẫn đến chết người. Người bạn của bạn
ý thức điều này nhưng lại đứng trước hoàn cảnh không thể lựa chọn biện
pháp khác nên buộc phải đạp ngã xe của đối tượng vừa có hành vi cướp
giật tài sản để ngăn chặn việc chạy thoát. Như vậy, người bạn của bạn ý
thức được hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội,
nhưng buộc phải lựa chọn việc thực hiện hành vi đó nhằm mục đích đấu
tranh chống lại hành vi xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người khác.
Hơn nữa, không đủ căn cứ để chứng minh người bạn của bạn “cho rằng hậu
quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được” theo quy định tại
khoản 1, Điều 10 BLHS nên không thể xác định hành vi của người bạn này
được thực hiện một cách vô ý. Từ đó, không đủ dấu hiệu cấu thành “tội
vô ý làm chết người” theo Điều 98 BLHS.
Thứ ba, hành vi cướp giật tài sản của nạn nhân đã
hoàn thành, do đó việc đuổi theo đạp ngã xe của nạn nhân trong trường
hợp này không mang tính chất “phòng vệ”. Bởi vì, hành vi có tính phòng
vệ chỉ đặt ra khi nạn nhân trong trường hợp này đang có hành vi vi phạm
pháp luật, nghĩa là hành vi cướp giật đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc.
Do vậy, không thể xác định đây là hành vi “vượt quá giới hạn phòng vệ
chính đáng” theo Điều 15 BLHS, thế nên không đủ dấu hiệu cấu thành tội
phạm về “tội giết người do vựơt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo
Điều 96 BLHS.
Thứ tư, người bạn của bạn trong trường hợp này không
thuộc chủ thể thực hiện nhiệm vụ công theo nghề nghiệp, do công tác
như: công an, bộ đội biên phòng, kiểm lâm, hải quan, bảo vệ cơ quan…
Đồng thời, người bạn của bạn thực hiện hành vi đuổi bắt cướp không phải
trên cơ sở nhiệm vụ được giao, cũng không phải trong trường hợp đang
cùng với người có nhiệm vụ cùng thực hiện một nhiệm vụ công (Ví dụ:
người này tự nguyện cùng với công an đuổi bắt cướp, hoặc được công an
đề nghị giúp đỡ việc bắt cướp…).
Hiện nay, việc người dân tự ý tham gia đấu tranh
chống những hành vi xâm phạm đến lợi ích của nhà nước hoặc lợi ích hợp
pháp của công dân như đuổi bắt trộm, cướp, phòng chống tham nhũng… chưa
được quy định là hành vi thực hiện nhiệm vụ công. Như vậy, hành vi của
người bạn của bạn không được coi là hành vi thuộc trường hợp đang thi
hành công vụ. Thế nên, không phải là dấu hiệu cấu thành “tội làm chết
người trong khi thi hành công vụ” theo Điều 97 BLHS.
Thứ năm, khoản 1, Điều 95 quy định “Người nào giết
người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp
luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân
thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Tuy nhiên,
trường hợp này hành vi cướp giật tài sản của nạn nhân được thực hiện
đối với một người phụ nữ qua đường, không phải cướp giật tài sản của
người bạn của bạn hoặc người thân thích của người bạn này, do đó hành
vi này không phải là dấu hiệu cấu thành “tội giết người trong trạng
thái tinh thần bị kích động mạnh” theo Điều Điều 95 BLHS.
Thứ sáu, theo mô tả hành vi mà người bạn của bạn thực
hiện trong trường hợp này, rõ ràng biểu hiện về mặt hành vi cũng như
hậu quả do hành vi đó gây ra không đủ dấu hiệu cấu thành các tội danh
xâm phạm tính mạng con người được quy định ở các điều luật khác trong
BLHS bao gồm: “tội giết con mới đẻ” (Điều 94), “tội vô ý làm chết người
do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính” (Điều 99), “tội
bức tử” (Điều 100), “tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát” (Điều
101), “tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến
tính mạng” (Điều 102).
Theo quy định tại khoản 1, Điều 8, “khái niệm tội
phạm” của BLHS thì “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong Bộ luật hình sự …”.
Như vậy, với hành vi cụ thể này, đối chiếu với các
điều luật liên quan đến các tội danh xâm phạm tính mạng con người mà
chúng tôi trình bày ở trên, không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong BLHS, do đó hành vi này không được coi là tội phạm
và không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về nghĩa vụ bồi thường, bạn của bạn có thể phải bồi
thường thiệt hại tùy thuộc vào mức độ lỗi, mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi với hậu quả, mức độ thiệt hại, tổn thất trên thực tế cho gia
đình nạn nhân theo quy định của pháp luật dân sự.
Luật sư Nguyễn Thiều Dương - Công ty luật Đại Việt
Theo Vnexpress.net