Không nên đặt giá bán trần
Đặt giá trần để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) là một mục tiêu tốt. Nhưng biện pháp này vừa không thích hợp để đạt mục tiêu, vừa gây nhiều hậu quả tiêu cực, không thể thực hiện được một cách nghiêm túc, vừa là một biện pháp kém hiệu quả nhất.
Doanh thu, lợi nhuận của các công ty sản xuất kinh doanh sữa (cty sữa) không
ngừng tăng chứng tỏ NTD có khả năng và sẵn sàng trả giá cao để mua sữa. Bảo vệ
quyền lợi NTD ở đây, do đó, không phải là hạ giá sữa để ai cũng có thể mua sữa,
mà là sao cho họ mua được sữa có chất lượng tương xứng với đồng tiền bỏ ra. Bản
thân việc giá sữa cao không phải là vấn đề , giá cao qúa đáng so với chất lượng
sữa mới là vấn nạn cần giải quyết.
Đặt giá trần, trong khi không có cơ chế khuyến khích, biện pháp kiểm soát
tương quan chất lượng-giá cả như hiện nay, khiến các cty sữa giảm chất lượng mặt
hàng đang có chất lượng cao hơn để bảo đảm mức lợi nhuận. Sữa thực sự có chất
lượng tốt sẽ dần biến mất trên thị trường, NTD chỉ còn được lựa chọn giữa các
loại sữa chất lượng tầm tầm. Sữa có giá thấp phục vụ NTD có thu nhập thấp, sẽ
ăn theo, nâng giá cho sát với giá trần. Sự khác biệt giá cho một loại sữa của
một cty nhằm đáp ứng sự khác biệt theo vùng, phù hợp sức mua của từng phân nhóm
người mua không còn nữa. Hậu quả là nhóm NTD tại phân khúc thị trường đang được
hưởng giá thấp cho cùng một loại sữa sẽ phải trả tiền nhiều hơn. NTD có thu
nhập cao, có nhu cầu và khả năng trả tiền nhiều hơn để sử dụng sữa có chất
lượng đặc biệt hơn bình thường sẽ không tìm thấy loại sữa đó. Không ai dại dột
cạnh tranh bằng chất lượng khi giá bán bị khống chế. Rốt cuộc, dù NTD có thể
mua sữa với giá thấp hơn, nhưng với chất lượng thấp hơn và khả năng lựa chọn
sữa chất lượng tốt giảm, họ vẫn phải trả giá cao hơn cho nhu cầu sử dụng sữa.
Giá trần tác động trực tiếp, hạn chế mạnh mẽ quyền tự do và chủ động kinh
doanh của doanh nghiệp, mà trước hết là đến quyền xây dựng chiến lược giá
cả-một công cụ điều khiển hoạt động kinh doanh quan trọng nhất. Để tận dụng tối
ưu từng phân khúc thị trường, các công ty sữa có chính sách giá khác nhau cho
một sản phẩm để phù hợp với vùng lãnh thổ, với nhu cầu của từng phân nhóm NTD
(yếu tố xã hội của giá) và theo chiến lược thúc đẩy tiêu thụ từng phân khúc thị
trường. Chẳng hạn loại sữa A có giá bán trung bình là 100 ngàn, được bán ở miền
tây với giá 70 ngàn; cung cấp cho bệnh viện với giá 60 ngàn, bán ở tp. HCM với
giá 150 ngàn…và nếu A là loại sữa mới hoặc sắp hết sản xuất thì giá còn giảm
nhiều nữa. Với việc áp giá trần, điều đó sẽ không còn nữa. Một chi phí quan
trọng làm nên giá thành sản phẩm, nhưng ở ta rất khó xác minh và vì vậy sẽ không
được đưa vào cách tính giá trần là chi phí nghiên cứu-phát triển sản phẩm
(R&D). Khi áp giá trần, những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng đặc biệt-
nghĩa là có chi phí R&D cao- sẽ không được đưa vào thị trường. Các công ty
sữa cũng hạn chế chi phí R&D phát triển sản phẩm mới.
Giá trị thương hiệu là một yếu tố quan trọng làm nên giá bán, cũng sẽ không
được tính vào giá trần, vì ta chưa quen xác định giá trị này. Áp giá trần mà
không công nhận giá trị thương hiệu chính là cào bằng, tạo điều kiện cạnh tranh
không công bằng giữa các công ty có uy tín với các công ty không đàng hoàng.
Không được chủ động xây dựng chiến lược giá cả linh hoạt, không thể cạnh
tranh hiệu quả bằng R&D, bằng thương hiệu, các công ty sữa lại có hàng loạt
khả năng đối phó với giá trần. Những yếu tố được công nhận trong cách tính giá
trần, nhưng khó xác định chính xác sẽ được khai thác triệt để, như : khai tăng
giá nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu từ công ty mẹ hoặc trung gian
nước ngoài; khai tăng giá các phụ phí …Họ sẽ giảm giá thành bằng cách nhập
nguyên liệu chất lượng thấp hơn; hạ thấp tiêu chuẩn an sinh xã hội, an toàn lao
động đang áp dụng cho công nhân; cắt giảm chỗ làm, do chi phí cho lao động
trong nước dễ bị xác định hơn là nhập khẩu nguyên liệu. Ngoài ra, việc chạy cửa
để có được mức giá trần cao hơn sẽ trở thành truyện thường ngày ở các công ty
sữa. Có lẽ cũng như giá xăng, giá trần sữa sẽ tăng nhanh, giảm chậm theo đơn
xin của doanh nghiệp với lý do giá thị trường quốc tế tăng.
Nếu việc áp giá trần kéo dài và các biện pháp đối phó của công ty sữa không
đủ để giữ mức lợi nhuận cần thiết, họ sẽ chuyển qua nhập sữa thành phẩm từ cơ
sở sản xuất ở nước khác của công ty mẹ, hoặc qua nhiều trung gian.
Thu mua sữa tươi nguyên liệu do doanh nghiệp trong nước sản xuất là một việc
rất dễ kiểm tra, xác minh giá thành, chi phí. Công ty sữa sẽ có xu hướng hạn
chế việc thu mua này. Trước mắt, áp giá trần sẽ không khuyến khích sản xuất sữa
nguyên liệu trong nước. Khi các công ty sữa chuyển mạnh sang nhập khẩu sữa
thành phẩm thì ngành chăn nuôi bò sữa của ta cũng bị khai tử cùng làn sóng sa
thải công nhân tại các công ty sữa.
Áp giá trần gây ra những khó khăn trở ngại không nhỏ đến các công ty sữa
nước ngoài hoạt động tại Việt Nam,
trước tiên nó ảnh hưởng mạnh đến quyền lợi phía Việt Nam. Công nhân làm việc tại các
công ty này sẽ bị cắt giảm phúc lợi, hạ thấp tiêu chuẩn bảo hộ lao động- hiện
rất cao so với công nhân các công ty Việt nam- mà họ đang được hưởng theo qui
định của nước ngoài. Khi công ty sữa nước ngoài khai tăng giá nguyên liệu nhập
và chuyển mạnh sang nhập khẩu sữa thành phẩm thì họ cũng sa thải nhiều công
nhân hơn. Nếu áp giá trần thấp hơn hiện nay cho một sản phẩm vừa tiêu thụ trong
nước, vừa xuất khẩu, thì cũng phải công nhận mức giá xuất khẩu thấp hơn cho sản
phẩm đó. Hậu quả là các khoản thuế thu được từ xuất khẩu sẽ giảm. Ngoài ra, các
cty sữa nước ngoài sẽ kiểm tra khả năng khởi kiện chính phủ ta. Ít nhất cũng có
hai khả năng hiện thực: a) khởi kiện chúng ta không tuân thủ nguyên tắc đối sử
bình đẳng của WTO và b) Khởi kiện trước các cơ quan bảo vệ đầu tư quốc tế.
Có hai nhóm giá chính làm nên giá bán của một sản phẩm: nhóm giá thành sản
xuất (a) như giá nguyên liệu, chi phí lao động, quản lý phí, chi phí bao bì,
vận chuyển; và nhóm giá phi sản xuất (b) như: mức cầu của thị trường, sự ổn
định và tiềm năng của thị trường, sức mua của NTD, thương hiệu nhà sản xuất và
khả năng chấp nhận của NTD, khả năng xây dựng giá bán linh hoạt, …Nếu các yếu
tố của nhóm (a) có thể xác định tương đối chính xác bởi cùng một phương pháp
khách quan, thì các yếu tố thuộc nhóm (b) phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào kinh
nghiệm và phương pháp khác nhau theo chủ quan của từng doanh nghiệp. Chính vì
vậy người ta chỉ áp dụng giá trần cho một ngoại lệ đặc biệt: cho các công ty
độc quyền nhà nước.
Cách tính giá trần như đề xuất chỉ có thể xem xét các yếu tố thuộc nhóm (a)
là sự áp đặt không có cơ sở khoa học, loại bỏ các yếu tố quan trọng của thị
trường , của NTD, của quan hệ cung cầu tác động lên chính sách giá của doanh
nghiệp và vì vậy là phi kinh tế thị trường, đi ngược lại cam kết tự do hóa thị
trường. Quyền quyết định mức giá trần của chính phủ cũng đồng nghĩa với việc ấn
định mức lợi nhuận của doanh nghiệp. Nó vi phạm nghiêm trọng quyền tự do kinh
doanh, không khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường, nâng cao
đời sống công nhân. Ngay cả khi duy ý chí để theo đuổi, thì việc áp dụng giá
trần cũng rất khó thực hiện về mặt kỹ thuật và làm nẩy sinh vô số bất hợp lý,
không công bằng, như nhiều ý kiến đã chỉ rõ. Sẽ làm thế nào khi giá nhập khẩu
cùng một loại nguyên liệu của công ty trong nước thấp hơn của một công ty nước
ngoài nhập từ công ty mẹ? Công nhận giá nhập của công ty trong nước sẽ bị công
ty nước ngoài khiếu nại đối xử không bình đẳng. Không đưa giá trị thương hiệu
vào giá trần, không công nhận chi phí quảng cáo, chi phí xây dựng mạng lưới
phân phối cao hơn của cty sữa nước ngoài, chính phủ cũng có thể bị khởi kiện vì
đối xử không bình đẳng giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước. Công ty sữa nước
ngoài còn có thể khởi kiện chính phủ ta trước Trung tâm Quốc tế giải quyết
tranh chấp về đầu tư (ICSID: International Centre for the Settlement of
Investment Disputes) hoặc cơ quan bảo đảm đầu tư đa phương (MIGA: Multilateral
Investment Guarantee Agency) do chính phủ đã không giữ đúng cam kết hấp dẫn
đầu tư. Và họ sẽ thắng, bởi sẽ không ai dám đầu tư vào một nước luôn để ngỏ khả
năng chính quyền áp giá trần đối với các sản phẩm bình thường. Sữa tuy quan
trọng, nhưng không thuộc vào những hàng hóa thiết yếu cho đời sống để trong
tình trạng khẩn cấp, nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của người dân, chính phủ
được quyền không chế giá cả. Áp giá trần cho sữa sẽ được quốc tế nhìn nhận như
một tiền lệ cho phép chính phủ mở rộng việc khống chế giá với các sản phẩm khác
và bằng cách đó bảo hộ doanh nghiệp trong nước.
Chỉ khi doanh nghiệp thực sự cạnh tranh thu hút NTD bằng hàng hóa chất lượng
cao, giá rẻ thì tương quan giá cả-chất lượng mới hợp lý. Để được vậy nên:
a) Bổ sung qui định buộc doanh nghiệp khi công bố chất lượng, ghi thông tin
trên sản phẩm, bao bì phải đúng sự thật, rõ ràng, đầy đủ, không gây ngộ nhận,
để NTD dễ dàng nhận biết và có thể so sánh, kiểm tra được. Thắt chặt hơn nữa
tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), đặc biệt là với nguyên liệu sữa
nhập khẩu.
b) Một sản phẩm được công bố chất lượng đúng qui định vẫn có thể được bán
với giá cao hơn nhiều so với một sản phẩm khác có cùng chất lượng, nếu nó
„được“ NTD ngộ nhận có những tính chất đặc biệt tốt hơn. Vì vậy cần bổ sung cấm
cạnh tranh gây ngộ nhận vào luật Cạnh tranh (LCT). Chất lượng như nhau, không
bị ngộ nhận, giá lại rất cao nhưng sản phẩm X của công ty sữa A sẽ tiêu thụ
được nhiều hơn, khi công ty này lợi dụng lòng trắc ẩn của NTD bằng cách quảng
cáo: mua một hộp sữa X sẽ trích 2 ngàn cho quĩ vì trẻ em nghèo. NTD mua sữa X
với giá cao không phải do chất lượng của nó. Nên bổ sung điều cấm cạnh tranh
không lành mạnh (CTKLM) bằng cách lợi dụng lòng trắc ẩn, lợi dụng thói hư tật
xấu của con người. NTD sẽ có ý thức lựa chọn sữa tốt với giá phù hợp khi họ
được tạo điều kiện để so sánh sản phẩm cùng loại của các công ty. Vì vậy cần
hủy bỏ điều cấm quảng cáo so sánh trong LCT hiện tại. (như các nước tiên tiến
đang làm). Cũng nên bổ sung vào LCT điều khoản cấm hành vi chiếm lợi thế cạnh
tranh bằng cách vi phạm luật. Khi đó, doanh nghiệp vi phạm qui định công bố
chất lượng, tiêu chuẩn VSATTP…sẽ ngay lập tức bị trừng phạt theo LCT với mức
phạt cao hơn phạt hành chính rất nhiều.
c) Qui định chặt chẽ, cụ thể hơn nữa trách nhiệm chủ động điều tra của cơ
quan hành chính, không chờ phải có khiếu nại của NTD; cho phép công bố kịp thời
tên các doanh nghiệp vi phạm qui định công bố chất lượng, vi phạm tiêu chuẩn
VSATTP.
d) Cải tiến phương pháp làm việc, thủ tục thụ lý, điều tra vụ việc và nâng
cao năng lực làm việc của cục QLCT, sao cho cơ quan này thực sự là người tích
cực, chủ động tiến hành điều tra hành vi liên kết „làm giá“ của các công ty
sữa, sẵn sàng tiếp nhận xử lý khiếu nại cạnh tranh không lành mạnh. Hiện tại,
cục QLCT lấy lý do không thấy cấu thành hành vi CTKLM để không thụ lý và trả
lại đơn khiếu nại. Trong khi, xác định có hay không có hành vi CTKLM là nội
dung điều tra, kết luận sau khi thụ lý hồ sơ khiếu nại. Thực tiễn hoạt động này
đã làm nản lòng doanh nghiệp và là một trong những nguyên nhân khiến LCT không
đi vào cuộc sống.
e) NTD có ý thức là yếu tố quyết định cơ chế kiểm soát giá cả theo qui luật
cung-cầu. Để xây dựng NTD có ý thức, cần trao cho họ khả năng thông báo ngay
đến cơ quan công quyền các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, trao cho
Hiệp hội bảo vệ NTD quyền khởi kiện như một pháp nhân. Nhà nước cũng cần cho
phép, hỗ trợ thành lập các tổ chức tư nhân độc lập kinh doanh dịch vụ kiểm tra,
thẩm định chất lượng hàng tiêu dùng một cách thường xuyên.
SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN SỐ RA NGÀY 1 THÁNG 10 NĂM 2009 (Cám
ơn chị Hải Vân và tác giả) - GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)