Không thể chiếm đất nếu có trong tay sổ đỏ
Theo quy định tại khoản 20 Điều 4 Luật đất đai: Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi
tắt là sổ đỏ) là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản
khác gắn liền với đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người có
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn
liền với đất.
Như vậy, khi gia đình anh được cấp sổ đỏ có nghĩa là
Nhà nước đã công nhận quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu của gia đình
anh đối với diện tích đất hoặc nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Theo quy định tại các Điều 168, 169 của Bộ luật Dân sự
(BLDS) thì quyền sở hữu của cá nhân được pháp luật công nhận và bảo vệ;
không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu
đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ
người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại
tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp
luật.
Đối với bất động sản thì việc chuyển quyền sở hữu có
hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác. BLDS cũng quy định việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu
chung phả được sự đồng thuận của tất cả các đồng sở hữu, một người
không có quyền mang tài sản chung đi cầm cố, thế chấp hoặc chuyển
nhượng.
Ngoài ra, khoản 1 Điều 130 Luật đất đai cũng quy định
thủ tục đăng ký thế chấp, quyền sử dụng đất khá chặt chẽ. Hồ sơ đăng ký
thế chấp quyền sử dụng đất gồm Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất (sổ đỏ).
Hồ sơ này được nộp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất; trường hợp bên thế chấp là hộ gia đình, cá nhân tại nông thôn thì
nộp tại UBND xã nơi có đất để chuyển cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công
chứng; trường hợp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình,
cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng hoặc chứng
thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất.
Từ những căn cứ pháp lý nêu trên, việc người anh trai
của anh đã lấy sổ đỏ của gia đình đi cầm cố, thế chấp để vay tiền cá độ
bóng đá mà không được sự đồng ý của những người trong gia đình là không
hợp pháp. Vì vậy nên người nhận cầm cố, thế chấp cũng không thể làm đầy
đủ các thủ tục theo quy của pháp luật về đất đai.
Do đó, giao dịch giữa anh trai anh và người đang cầm
giữ sổ đỏ của gia đình anh là bất hợp pháp. Vì thế, người đang cầm giữ
sổ đỏ của gia đình anh cũng không thể đứng ra bán đất hoặc chiếm đoạt
mảnh đất của gia đình anh được.
2. Điều 24 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009
của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất (sổ đỏ) thì chỉ cấp lại sổ đỏ trong
trường hợp bị mất.
Pháp luật hiện hành không có quy định về việc cấp lại
sổ đỏ khi sổ đỏ bị đem cầm cố, thế chấp. Vì vậy, gia đình anh không thể
đăng ký cớ mất để làm lại sổ đỏ khác.
Thạc sĩ Phạm Thanh Bình-Công ty Luật Hồng Hà
Theo: www.vnexpress.net