Kỹ năng của Luật sư trong vụ án lao động - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Quan hệ lao động là một trong những dạng quan hệ phức tạp và có tầm ảnh hường lớn đối với lực lượng sản xuất và cả nền kinh tế xã hội. Một sự kiện lao động đơn lẻ ảnh hưởng trực tiếp tới cá nhân hoặc một nhóm người lao động và người sử dụng lao động song cũng có thể để tác động xấu đối với lực lượng lao động nói chung, từ đó ảnh hưởng tới nền sản xuất trong nước cũng như ảnh hưởng tới việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
MỤC LỤC
PHẦN
I: ĐỀ DẪN VỀ KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN LAO ĐỘNG.. 4
PHẦN II: Khái
quát chung các đẶc thù cỦa vỤ án lao đỘng Ảnh hưỞng tỚi kỸ năng cỦA luẬt sư.. 5
I . CÁC ĐẶC
ĐIỂM CỦA VỤ ÁN LAO ĐỘNG ẢNH HƯỞNG TỚI KỸ NĂNG HÀNH NGHỀ CỦA LUẬT SƯ 5
II. cÁC LOẠI
VỤ ÁN LAO ĐỘNG THƯỜNG GẶP. 6
PHẦN III: KỸ
NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LAO ĐỘNG.. 8
I . KỸ NĂNG
CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN LAO ĐỌNG.. 9
II . KỸ NĂNG
CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN LAO ĐỌNG 13
1. Thu thập và xác minh chứng cứ chứng
minh cho các luận điểm.. 13
2. Thu thập và xác minh chứng cứ để
giải quyết hậu quả pháp lý. 14
3. Kỹ năng của luật sư trong việc hòa
giải trước phiên tòa. 14
III. kỸ
NĂNG CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TOÀ VỤ ÁN LAO ĐỘNG.. 14
IV. kỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC THI
HÀNH ÁN LAO ĐỘNG.. 15
V. kỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TOÀ
PHÚC THẨM VỤ ÁN LAO ĐỘNG.. 15
VI. KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN
TÁI THẨM, GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN LAO ĐỘNG 15
PHẦN IV: KẾT LUẬN.. 17
Quan hệ lao động
là một trong những dạng quan hệ phức tạp và có tầm ảnh hường lớn đối với lực lượng
sản xuất và cả nền kinh tế xã hội. Một sự kiện lao động đơn lẻ ảnh hưởng trực
tiếp tới cá nhân hoặc một nhóm người lao động và người sử dụng lao động song
cũng có thể để tác động xấu đối với lực lượng lao động nói chung, từ đó ảnh hưởng
tới nền sản xuất trong nước cũng như ảnh hưởng tới việc thu hút đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam. Xác định được tầm quan
trọng của các quan hệ lao động cũng như sự ảnh hưởng của nó, cơ quan lập pháp,
cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xét xử cũng như các cơ quan, tổ chức có liên
quan khác cần hết sức chú trọng tới yêu cầu về mặt pháp lý cũng như hiệu quả xã
hội đạt được trong việc giải quyết các vụ án lao động. Việc giải quyết tốt một
vụ án lao động theo hướng có tình, có lý, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ
biến pháp luật thông qua công tác pháp luật thực tiễn luôn là mục tiêu của nhà
nước ta.
Trong việc giải
quyết các vụ án lao động, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
hay sắp tới là Bộ luật tố tụng dân sự đều thể hiện rõ quyền được có luật sư của
các đương sự. Người luật sư tham gia trong vụ án có thể với tư cách là người đại
diện hoặc là người bảo vệ quyền lợi cho các đương sự. Tuy tham gia với tư cách
là đại diện/người bảo vệ quyền lợi cho một trong các bên đương sự trong vụ án,
khó tránh khỏi sự thiên lệch về quan điểm song thực sự, sự tham gia của luật sư
cũng góp phần không nhỏ vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án và làm
sáng tỏ những vấn đề pháp lý cần giải quyết. Như vậy, việc người luật sư bảo vệ
cho một bên đương sự trong vụ án là một điều cần thiết khách quan và có thể nói
rằng nhu cầu mời luật sư tham gia vào các vụ án là ngày càng tăng.
Do tính chất đặc
thù của công việc, người luật sư tham gia giải quyết các vụ án lao động cần có
những kỹ năng nhất định... Đối với những vụ án lao động, ngoài những kỹ năng
chung, người luật sư cần nắm được những điều đặc thù trong việc giải quyết các
vụ án lao động cũng như hậu quả pháp lý của việc giải quyết đó. Việc nghiên cứu
các vấn đề lý luận và thực tiễn về kỹ năng của luật sư trong việc giải quyết
các vụ án lao động do vậy là rất cần thiết đối với những người làm nghề luật sư
nói chung và những luật sư chọn hướng đi chủ yếu liên quan đến giải quyết các
vụ án lao động nói riêng.
- Trong vụ án lao động, việc giải quyết nó chịu ảnh hưởng
rất lớn bởi nguyên tắc bảo vệ người lao động. Trong mỗi điều luật về tố
tụng đều thể hiện những quan điểm về sự bình đẳng trước pháp luật của các
bên trong vụ án lao động. Tuy nhiên, có vẻ như những nghĩa vụ của người
lao động theo từng điều luật nội dung cụ thể trong trường hợp phát sinh
các tranh chấp lao động được quy định thuận lợi hơn nhiều so với người sử
dụng lao động.
- Việc giải quyết các vụ án lao động liên quan trực
tiếp đến các chính sách xã hội (xem thêm tại điểm 7 dưới đây).
- Mục đích giải
quyết tranh chấp lao động nói chung và vụ án lao động nói riêng khác biệt
so với các loại vụ án khác.
Không chỉ là quyền
lợi và nghĩa vụ trực tiếp của các bên được giải quyết trong vụ án mà chính là hậu quả sau cùng trong việc giải
quyết vụ án lao động là điều cần tính đến. Có thể người lao động thắng trong vụ
án và đòi được quyền lợi song mục tiêu cao nhất của giải quyết vụ án lao động
chính là các bên còn có thể quan hệ tiếp tục với nhau. Trong mối quan hệ này,
người lao động đứng ở vị trí yếu thế hơn nhiều so với người sử dụng lao động và
do vậy mà giải quyết được tranh chấp lao động trong sự thỏa thuận mang tính hợp
tác cao giữa các bên luôn là điều mà hai bên cần hướng tới và cũng tác động lớn
tới kỹ năng của luật sư trong giải quyết vụ án lao động. Có thể nói đây là đặc điểm
lớn nhất trong giải quyết vụ án lao động ảnh hưởng tạo nên đặc thù kỹ năng của
luật sư so với các vụ án mang tính dân
sự khác.
- Các tranh chấp trong quan hệ lao động có thể liên
quan nhiều tới yếu tố mang tính kỹ thuật như tai nạn lao động, bí mật công
nghệ sản xuất, bí mật kinh doanh và do đó đòi hỏi người luật sư không chỉ
biết về luật pháp, về kỹ năng nghề nghiệp nói chung mà còn phải nắm được
các vấn đề kỹ thuật cũng như các quy định pháp luật liên quan.
- Giải quyết các vụ án lao động có tính đặc thù về mặt
tố tụng. Tuy được giải quyết theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh
chấp lao động và sắp tới là Bộ luật tố tụng dân sự song trong những trường
hợp cụ thể về cùng một vấn đề liên quan đến thủ tục tố tụng, nếu Bộ luật
lao động có quy định thì ưu tiên áp dụng Bộ luật lao động.
- Các tranh chấp lao động phải thông qua thủ tục hòa
giải tại Cơ sở trước khi khởi kiện trước tòa án (tuy nhiên có một số loại
vụ việc không cần qua hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết được
quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh
chấp lao động).
Theo quy định tại điều
158 Bộ luật lao động, việc giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành theo
các nguyên tắc sau:
-
Thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp giữa hai
bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp.
-
Thông qua trọng tài hoà giải trên cơ sở tôn
trọng quyền và lợi ích chung của xã hội và tuân thủ theo luật pháp.
-
Giải quyết công khai, khách quan, kịp thời, nhanh
chóng và đúng pháp luật.
Trong quá trình giải
quyết tranh chấp, có sự tham gia của đại diện công đoàn, đại diện người sử dụng
lao động.
- Về mục tiêu giải quyết tranh chấp lao động
Các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật lấy mục tiêu là
giải quyết ổn thoả mọi tranh chấp giữa người hoặc tập thể lao động với người sử
dụng lao động. Mục tiêu này là quan trọng vì:
-
Giải quyết ổn thoả tranh chấp lao động góp phần
duy trì sự ổn định quan hệ lao động và hoạt động sản xuất xã hội.
-
Giải quyết ổn thoả tranh chấp lao động góp phần
bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người lao động cũng như người sử
dụng lao động, đồng thời góp phần bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội.
-
Giải quyết ổn thoả tranh chấp lao động góp phần
hoàn thiện cơ chế nhà nước về lao động và hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động
Tất cả các đặc thù
này cần được tính đến trong hoạt động của luật sư đối với việc giải quyết các
vụ án lao động.
Căn cứ
vào Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996), Tòa án có thẩm
quyền giải quyết các vụ án lao động sau:
1. Các
tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động về
quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về
thực hiện hợp đồng lao động, và trong quá trình học nghề mà hội đồng hoà giải
cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan lao động cấp huyện) hoà giải
không thành, trừ các tranh chấp lao động cá nhân sau đây không nhất thiết phải
qua hoà giải tại cơ sở:
a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động
theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động;
b) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho
người sử dụng lao động.
2- Các
tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động về
quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện
lao động khác; về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể; về quyền thành lập,
gia nhập, hoạt động công đoàn đã được Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Hội đồng trọng tài lao động cấp
tỉnh) giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý
với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động.
Tuy nhiên, trong thực tiễn công tác của ngành tòa án, các vụ án lao động
thường gặp bao gồm:
- Đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Kỷ
luật lao động sa thải
- Tranh
chấp khác: Bồi thường thiệt hại, tiền lương, bảo hiểm xã hội.
Việc xác định
những loại vụ việc chủ yếu thường gặp cũng giúp luật sư tập trung xác định rõ
những kỹ năng cần thiết, chủ yếu trong giải quyết các vụ án lao động. Tuy
nhiên, các loại vụ án lao động khác cũng không thể nằm ngoài phạm vi nghiên
cứu, củng cố kỹ năng của luật sư.
Trong
việc giải quyết vụ án lao động, kỹ năng của luật sư dựa vào các tiêu chí khác
nhau có thể được chia theo những dạng khác nhau:
Nếu
phân loại theo nội dung các mối quan hệ trong giải quyết vụ án, có thể chia ra
kỹ năng trong quan hệ với khách hàng, kỹ năng trong quan hệ với đương sự phía
bên kia, kỹ năng trong quan hệ với những người tham gia khác trong vụ án, kỹ năng
quan hệ với những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.
Nếu
phân loại theo loại hành vi cụ thể, có thể chia ra thành kỹ năng trong việc
nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng soạn thảo đơn khởi kiện, kỹ năng trong việc đưa ra
chứng cứ, kỹ năng xét hỏi, kỹ năng tranh luận, kỹ năng thực hiện kháng cáo...
Nếu
phân loại theo chủ thể được bảo vệ, có thể chia thành kỹ năng của luật sư trong
việc bảo vệ người lao động và kỹ năng của luật sư trong việc bảo vệ người sử
dụng lao động.
Nếu
phân loại theo vai trò của luật sư trong vụ án có thể chia ra kỹ năng của luật
sư khi là người đại diện của đương sự và kỹ năng của luật sư khi là người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Tuy
nhiên, trong thực tế, các kỹ năng trên được thực hiện và thể hiện đan xen trong
những giai đoạn nhất định của việc giải quyết vụ án, nó liên quan mật thiết với
quá trình giải quyết vụ án theo những trình tự luật định nên có thể xem xét kỹ
năng của luật sư theo từng giai đoạn tố tụng cụ thể. Đây cũng là cách phân loại
phổ biến đối với các kỹ năng của luật sư trong các vụ án nói chung. Theo đó, kỹ
năng của luật sư có thể xem xét theo từng giai đoạn tố tụng cụ thể như sau:
-
Kỹ năng của luật sư trong quá trình khởi kiện vụ
án lao động
-
Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử
-
Kỹ năng của luật sư tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
-
Kỹ năng của luật sư tại phiên tòa xét xử phúc
thẩm
-
Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn giám đốc
thẩm, tái thẩm
-
Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn thi hành án
vụ án lao động;
Quá trình khởi kiện vụ án lao động được xem xét ở đây bao
gồm việc tư vấn ban đầu, nghiên cứu hồ sơ trước khi khởi kiện cho tới khi khởi
kiện vụ án lao động và tòa án thụ lý vụ án.
Trong
thực tế, có thể nhận thấy được hai trạng thái của luật sư khi bước vào giai đoạn
này là chủ động nghiên cứu hồ sơ và định hướng hoạt động ngay từ đầu khi người đến
nhờ bảo vệ chưa khởi kiện và thứ hai là bị động khi người nhờ bảo vệ đã khởi
kiện vụ án hoặc phía bên kia đã khởi kiện vụ án. Trong cả hai trường hợp, người
luật sư cần nghiên cứu kỹ vấn đề rồi mới có thể quyết định được những việc cần
làm liên quan.
Trong
trường hợp người có quyền lợi yêu cầu được bảo vệ đến với luật sư khi họ cần đến
ý kiến tư vấn có nên hay không nên khởi kiện, cách thức để khởi kiện, người
luật sư cần tìm hiểu sự việc của khách hàng để có lời tư vấn hợp lý. Thông thường,
khi khách hàng tìm đến luật sư, họ thường đặt niềm tin trông chờ luật sư giúp đỡ,
giải quyết cho họ những vướng mắc mà họ đang phải đương đầu. Sự việc được họ kể
lại thường không đầy đủ, thậm chí có sự suy diễn và nhận thức chủ quan của họ.
Bởi vậy, người luật sư không thể chỉ đánh giá sự việc qua lời kể của khách hàng
mà phải hết sức bình tĩnh lắng nghe, thận trọng và khéo léo đặt câu hỏi cho
khách hàng của mình nhằm gợi ý cho họ trình bày sự việc một cách mạch lạc và
trung thực. Qua đó, luật sư nắm bắt được thực chất của sự việc rồi từ đó có lời
tư vấn đúng đắn cho khách hàng.
Lời
khuyên của luật sư phải trung thực, ngay thẳng, phản ánh một cách trung thực ý
kiến của luật sư về nội dung đích thực của vấn đề và giải pháp có thể có được để
giải quyết vấn đề nhất là đối với các tranh chấp lao động, việc lựa chọn giải
pháp không nhất thiết và thực sự không nên giải quyết theo thủ tục tố tụng khi
chưa thực sự cần thiết. Đánh giá đúng đắn mức độ sự việc và khả năng giải quyết
nó sẽ giúp luật sư đưa ra những lời tư vấn cũng như tìm kiếm phương cách giải
quyết tối ưu.
Trong
hoạt động nghề nghiệp của luật sư nói chung cũng như trong việc giải quyết vụ
án lao động nói riêng, tiêu chí đầu tiên là nhìn vào những hiệu quả thực tế mà
luật sư mang lại cho khách hàng nên trong những trường hợp có cơ sở hợp lý, người
luật sư có thể khuyến khích khách hàng thỏa hiệp hay chấp nhận đề nghị của đối
phương nhằm mang lại cho khách hàng những lợi ích thiết thực, tránh cho họ bị
lôi kéo vào vòng kiện tụng phiền toái mà hậu quả bất lợi họ lại phải gánh chịu.
Trong giải quyết các vụ án lao động, ngay từ đầu tiếp nhận vụ việc, luật sư cần
cân nhắc thật kỹ để đưa tới một cách giải quyết có hiệu quả nhất (tùy thuộc yêu
cầu của khách hàng) song mục tiêu hướng tới cao nhất là có thể duy trì được mối
quan hệ lao động đã tồn tại sau khi kết thúc việc giải quyết theo thủ tục tố
tụng (nếu bảo vệ cho người lao động - trừ trường hợp người lao động không yêu
cầu việc quay lại làm việc).
Trong
quá trình này, người luật sư cũng không thể vì mục tiêu lợi nhuận mà chiều theo
tất cả các yêu cầu của khách hàng, giải quyết chúng ngay cả khi biết trước kết
quả chắc chắn đạt được hoàn toàn ngược lại. Nếu vậy, đạo đức nghề nghiệp của
luật sư cần phải xem lại. Trong những trường hợp như vậy, người luật sư cần
giải thích cho khách hàng hiểu rằng, đâu là quyền, đâu là nghĩa vụ của họ trong
các tình huống tranh chấp để từ đó khuyên họ điều chỉnh các yêu cầu cho hợp lý
và tránh gây căng thẳng, lãng phí tiền của, công sức vô ích.
Khi
xác định nhận bảo vệ cho đương sự trong vụ việc, luật sư cần thực hiện các thao
tác nghề nghiệp cần thiết cho việc giải quyết vụ án sao cho thuận lợi nhất. Kỹ
năng của luật sư cũng được sắp xếp một cách tuần tự.
Người
luật sư cần xác định nội dung tranh chấp, hay chính xác hơn là quan hệ tranh
chấp. Quan hệ tranh chấp này có phải là tranh chấp lao động mà Tòa án có thẩm
quyền giải quyết hay không. Người luật sư cần xem xét về các phương án giải
quyết đối với vụ việc, xác định về kết quả có thể đạt được và hiệu quả của từng
phương án. Nếu không nhất thiết phải ra tòa mà bằng con đường hòa giải, thương
lượng có thể giải quyết được thì giúp đỡ khách hàng trong việc hòa giải, thương
lượng.
Khi
xác định được rằng vụ việc nhất quyết phải giải quyết thông qua con đường tố
tụng và khách hàng có yêu cầu thì luật sư cần thực hiện các thao tác nghiệp vụ
liên quan đến việc giải quyết vụ án lao động.
Đầu tiên, luật sư cần xem xét
về điều kiện khởi vụ án lao động. Về điều kiện khởi kiện, trước hết, là xem xét
về tư cách của người khởi kiện. Tại Điều 1 (khoản 1) Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các tranh chấp lao động, những người có thể khởi kiện vụ án lao động bao
gồm “Người lao động, tập thể lao
động, người sử dụng lao động theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi
kiện vụ án lao động để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Trong trường hợp cần bảo vệ quyền và ích hợp pháp của tập thể lao động
thì công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện”. Tuy nhiên, Bộ
luật tố tụng dân sự sắp có hiệu lực lại không đề cập một cách rõ ràng tới phạm
vi những người được khởi kiện như nêu trong pháp lệnh. Một vấn đề đáng được
quan tâm khi xác định chủ thể có quyền khởi kiện trong trường hợp người lao động chết do tai
nạn lao động và có người thừa kế. Vậy, khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến
chế độ đối với người thừa kế có thể được giải quyết tại tòa lao động hay không
chính là câu hỏi chưa được giải quyết triệt để. Trong trường hợp này, tùy quan
điểm của mỗi người song có lẽ việc giải quyết theo luật dân sự về việc đòi
quyền tài sản tạo thành trên cơ sở một quan hệ lao động là hợp lý.
Vấn đề thứ hai trong xác định điều
kiện khởi kiện chính là thẩm quyền của tòa án giải quyết vụ án. Việc xác định
thẩm quyền này phải căn cứ vào Điều 11, 12, 13, 14 Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các tranh chấp lao động và sắp tới là Điều 31, 33, 34, 35, 36 của Bộ luật tố
tụng dân sự. Về cơ bản, Bộ luật tố tụng dân sự đã mở rộng thêm phạm vi giải
quyết các vụ án của Tòa án mà không cần bắt buộc có thủ tục hòa giải trước khi
khởi kiện.
Tiếp đó, luật sư cần xem xét về
thời hiệu khởi kiện đối với vụ việc. Theo quy định tại Điều 167 của Bộ luật lao
động, thời hiệu khởi kiện vụ án lao động được xác định như sau:
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, kể từ
ngày mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm được quy
định như sau:
1- Một năm đối với các tranh chấp lao động
quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 166;
(Điểm a, b và c Khoản 2 Điều 166: Tòa án nhân dân giải quyết những
tranh chấp lao động cá nhân sau đây mà không nhất thiết phải qua hòa giải tại
cơ sở:
a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động
theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ
cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Tranh chấp giữa người giúp việc gia
đình với người sử dụng lao động;)
.....
2- Một năm đối với tranh chấp quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 166;
(Điểm d
Khoản 2 Điều 166: Tòa án nhân dân giải quyết những tranh chấp lao động cá nhân
sau đây mà không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở:
.....
d) Tranh
chấp về bảo hiểm xã hội quy định tải điểm b khoản 2 Điều 151 Bộ luật này;)
3- Ba năm đối với tranh tranh chấp
quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 166;
(Điểm đ
Khoản 2 Điều 166: Tòa án nhân dân giải quyết những tranh chấp lao động cá nhân
sau đây mà không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở:
.....
đ)
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất
khẩu lao động)
4- Sáu tháng đối với các loại tranh
chấp lao động khác.
Tiếp theo, luật sư cần phải chú ý tới điều kiện hòa giải trước khi
khởi kiện vụ án lao động tại tòa án.Tòa án chỉ thụ lý giải quyết nếu việc hòa
giải đối với các tranh chấp không thành trừ trường hợp thuộc điều 166 Bộ luật
lao động. Hơn nữa, việc hòa giải trước khi khởi kiện vụ án lao động tại tòa án
cũng cần thực hiện theo thủ tục nhất định và do những cá nhân/tổ chức nhất định
có thẩm quyền tiến hành mới được xem xét.
Sau khi thực hiện các kiểm tra cần thiết liên quan đến điều kiện
khởi kiện, luật sư tiến hành chuẩn bị hồ sơ khởi kiện. Hồ sơ khởi kiện thông
thường bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu liên quan đính kèm (hợp đồng lao
động, các giấy tờ, tài liệu chứng cứ về sự việc tranh chấp, các căn cứ mà đương
sự dựa vào để đưa ra yêu cầu...). Tùy theo yêu cầu của khách hàng và vị trí của
khách hàng trong quan hệ lao động (người lao động, người sử dụng lao động) mà
trong đơn khởi kiện, luật sư đưa ra những căn cứ, lý lẽ, yêu cầu phù hợp. Đơn
khởi kiện cần nêu bật được vấn đề song tránh dài dòng, hạn chế sử dụng từ ngữ
phức tạp và phải sử dụng đúng các khái niệm, thuật ngữ pháp lý. Việc khởi kiện
được hoàn tất sau khi Tòa án thụ lý để giải quyết vụ án. Trong trường hợp này,
luật sư cũng cần chú ý về những diện được miễn án phí quy định tại Khoản 3 Điều
166 Bộ luật lao động (người lao động được miễn án phí trong các hoạt động tố
tụng để đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã
hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, để giải quyết những
vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái
pháp luật) để tư vấn cho khách hàng.
Đối với các vụ việc mà nguyên đơn đã khởi kiện rồi mới đến nhờ luật
sư hoặc luật sư được phía bị đơn mời, việc viết đơn khởi kiện là không cần
thiết. Tuy nhiên, luật sư vẫn cần thực hiện các thao tác nêu trên như xác định
điều kiện khởi kiện, xác định được sự phù hợp giữa căn cứ của đương sự đưa ra
với các vấn đề cần giải quyết và các yêu cầu cần được thực hiện. Ngay cả trong
trường hợp nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện thì việc xem xét có bổ sung hay thay
đổi yêu cầu trong đơn khởi kiện cũng là điều cần thiết.
II . KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
LAO ĐỘNG
Thời gian chuẩn bị xét xử trong mỗi vụ án lao động theo Bộ luật tố
tụng dân sự là 2 tháng kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án. Đây là một khoảng thời
gian tương đối ngắn nên luật sư cần khẩn trương tiến hành các hoạt động cần
thiết để chuẩn bị cho việc bảo vệ đương sự tại phiên tòa. Trong khoảng thời
gian này, luật sư cần tiến hành các kỹ năng như sau:
Theo nguyên tắc chung nhất trong việc giải quyết các vụ án dân sự
cũng như giải quyết các vụ án lao động, việc cung cấp chứng cứ hay việc chứng
minh là nghĩa vụ của đương sự. Trên cơ sở các căn cứ, lý lẽ các bên đưa ra mà
Tòa án mới tiến hành việc xác minh để có cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án. Trong
giải quyết vụ án lao động, trước đương sự là người kém hiểu biết và pháp luật
và cần một sự trợ giúp pháp lý thì việc họ cung cấp chứng cứ không đầy đủ,
không hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của từng loại giấy tờ là điều có thể hiểu
được nhất là trong trường hợp thân chủ là người lao động. Do đó, luật sư cần
xác định lại tổng thể các vấn đề để bổ sung đầy đủ hồ sơ.
Việc xác định chứng cứ phụ thuộc vào loại quan hệ tranh chấp và vị
trí của người được bảo vệ trong vụ án. Ví dụ, trong vụ việc đơn phương chấm dứt
hợp đồn lao động, căn cứ để các bên dựa vào là gì (theo các Điều 17, 31, 38...
Bộ luật lao động), việc chấm dứt có được tiến hành đúng thủ tục, trình tự luật
định hay không... là các vấn đề cần được tập trung vào làm rõ nên các chứng cứ
được thu thập phải phục vụ chủ yếu cho việc giải quyết liên quan. Hay đối với trường
hợp kỷ luật sa thải, người luật sư cần chú ý tới căn cứ, thủ tục, thẩm quyền
được quy định chặt chẽ mà người sử dụng lao động bắt buộc phải tuân theo....
Khi thực hiện công việc này, luật sư cần xác định rõ đối tượng mình
bảo vệ, thân chủ của mình là bên nào và yêu cầu trong vụ án của họ là gì để thu
thập những tài liệu chứng cứ phục vụ cho quan điểm của mình. Các vấn đề cần xác
minh có thể là:
-
Thời
gian làm việc
-
Vấn
đề tiền lương (lương theo hợp đồng, lương thực nhận, phụ cấp...)
-
tiền
thưởng, các chế độ phúc lợi khác...
-
Nội
quy lao động
-
Thỏa
ước lao động tập thể
-
Quá
trình lao động, các quyết định đề bạt, bổ nhiệm....
Việc hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án lao động là thủ
tục bắt buộc thuộc quá trình giải quyết vụ án. Đây chính là cơ hội tốt để các
đương sự có thể cùng bàn bạc giải quyết vấn đề một cách êm thấm mà không cần
tốn thời gian và tiền bạc cho những thủ tục tiếp theo. Về phía người lao động,
việc hòa giải ở giai đoạn này trong trường hợp họ vẫn còn mong muốn và khả năng
quay trở lại làm việc thực sự có ý nghĩa rất lớn. Đối với người lao động, việc
thắng hay thua trong một vụ kiện không chỉ là đòi được các quyền lợi của mình
trong vụ án cụ thể mà là việc thực hiện tiếp theo mối quan hệ lao động như thế
nào. Sẽ thật khó khăn cho người lao động thắng trong vụ kiện đó mà lại quay trở
lại công ty để làm việc theo hợp đồng đã giao kết. Do vậy, trong trường hợp bảo
vệ cho người lao động vẫn muốn quay trở lại làm việc, luật sư cần thật sự khôn
khéo để giải thích, thuyết phục hai bên cùng bàn bạc, nhượng bộ lẫn nhau để có
thể có được một kết quả tốt nhất đối với người lao động. Người luật sư lúc này
không chỉ như một người bảo vệ quyền lợi thiên lệch về một phía mà cần thể hiện
(ít nhất là về mặt hình thức) như một người đứng giữa với cái nhìn công bằng về
vấn đề thì mới có thể thuyết phục thành công.
Trong trường hợp hòa giải không thành, Tòa án sẽ xem xét và quyết
định đưa vụ án ra xét sử sơ thẩm.
III. kỸ
NĂNG CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TOÀ VỤ ÁN LAO ĐỘNG
Có thể nói rằng, kỹ năng của lu��t sư tại phiên tòa sơ thẩm vụ án
lao động không khác gì so với kỹ năng của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm các vụ
án có tính chất dân sự khác. Điều khác biệt lớn nhất chính là luật sư cần trang
bị cho mình những kiến thức lao động nói chung và kiến thức pháp luật lao động
nói riêng để có thể đưa ra những câu hỏi có lợi nhất, trình bày được những luận
điểm bảo vệ có tình, có lý để có thể chứng minh được cho các yêu cầu của khách
hàng. Tại phiên tòa, nếu như cơ hội cho các bên tự thỏa thuận vẫn còn thì luật
sư cần triệt để tận dụng cơ hội nhất là khi luật sư đứng về phía người lao
động.
Việc chú ý theo dõi, bám sát các tình huống tại phiên tòa sẽ giúp các
luật sư có thể điều chỉnh luận cứ bảo vệ cho phù hợp. Không những thế, trong
trường hợp kháng cáo theo thủ tục xét xử phúc thẩm, việc nắm bắt được nội dung
phiên tòa sơ thẩm có một ý nghĩa to lớn. Nó giúp luật sư đánh giá được tính
chính xác, tính có căn cứ của mỗi quyết định mà bản án của tòa tuyên để đánh
giá, so sánh với yêu cầu của khách hàng và luận điểm bảo vệ của mình rồi từ đó
xây dựng được hệ thống luận điểm và yêu cầu khi tham gia trong giai đoạn xét xử
phúc thẩm vụ án.
Một vấn đề nữa luật sư cần chú ý là về thời hạn kháng cáo đối với
bản án, quyết định sơ thẩm vụ án lao động. Về cơ bản, thời hạn kháng cáo này
không khác so với thời hạn kháng cáo tại các vụ án khác – 15 ngày kể từ ngày
tuyên án hoặc từ ngày đương sự nhận được bản án, quyết định của tòa án (nếu
không có mặt tại phiên tòa).
IV. kỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ
TRONG VIỆC THI HÀNH ÁN LAO ĐỘNG
Thông thường, luật sư có thể nhận hoặc không nhận tham gia trong
quá trình thi hành án. Trong quá trình thi hành án, luật sư có thể tư vấn cho
khách hàng về các vấn đề liên quan như xác định về cơ quan có thẩm quyền trong
việc thi hành án, thời hiệu cho việc yêu cầu thi hành án, soạn thảo các loại
giấy tờ cần thiết yêu cầu thi hành án, đề xuất các biện pháp trong thi hành
án....
V. kỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TẠI
PHIÊN TOÀ PHÚC THẨM VỤ ÁN LAO ĐỘNG
Về cơ bản, kỹ năng của luật sư tại phiên tòa phúc thẩm không khác
so với kỹ năng của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm.
VI. KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ
TRONG GIAI ĐOẠN TÁI THẨM, GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN LAO ĐỘNG
Xét về bản chất, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án lao động
không phải là một cấp xét xử đối với vụ án mà chỉ là việc xét lại bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi
phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án hoặc có những tình tiết
mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định
mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định.
Luật sư không được tham gia vào quá trình xét lại đó mà nếu có chỉ
là người phát hiện, người chỉ ra những căn cứ cho việc xét lại bản án và dựa
vào đó, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền xem xét để ra quyết định kháng
nghị hay không.
Vấn đề cần chú ý của luật sư trong những trường hợp như vậy chính
là thời hạn và căn cứ kháng nghị. Bộ luật tố tụng dân sự quy định rất rõ về vấn
đề này tại các Điều 283, 288, 305, 308.
SUNLAW FIRM sưu tầm