Lại một công văn sửa Nghị định
Sau khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư (năm 2005) có hiệu lực, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hết hiệu lực thi hành. Việc thành lập doanh nghiệp có vốn của nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.
Công văn số 1752/BKH-PC hướng dẫn về thủ
tục hành lập doanh nghiệp liên doanh trong trường hợp bên nước ngoài chiếm dưới
49% vốn điều lệ
Về việc thành lập doanh nghiệp của tổ
chức, cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam, khoản 3 điều 9 Nghị định
139/2007/NĐ-CP của Chính phủ “Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật
Doanh nghiệp” quy định: “Tổ chức, cá nhân người nước ngoài lần đầu tiên đầu tư
thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam được thực hiện như sau:
a) Trường hợp doanh nghiệp dự định thành
lập có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hơn 49% vốn điều lệ thì phải có dự án
đầu tư và thực hiện đăng ký đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy
định của pháp luật về đầu tư. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cấp giấy
chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (sau đây gọi
tắt là giấy chứng nhận đầu tư);
b) Trường hợp doanh nghiệp dự định thành
lập có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ thì việc
thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Nghị định
số 88/2006/NĐ-CP ngày 29-8-2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (sau đây
gọi tắt là Nghị định số 88/2006/NĐ-CP). Việc đăng ký đầu tư trong trường hợp
này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước”.
Với quy định trên, nhiều doanh nghiệp có
thành viên góp vốn là nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài chiếm dưới
50% vốn điều lệ đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh
nghiệp.
Tuy nhiên, ngày 18-3-2009, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư có Công văn số 1752/BKH-PC gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương; ban quản lý các khu công nghiệp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
hướng dẫn về thủ tục thành lập doanh nghiệp liên doanh trong trường hợp bên
nước ngoài chiếm dưới 49% vốn điều lệ.
Công văn số 1752/ BKH-PC ghi rõ: khoản 1,
điều 50 Luật Đầu tư quy định “Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt
Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại
cơ quan nhà nước quản lý đầu tư để được cấp giấy chứng nhận đầu tư. Giấy chứng
nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” và tại khoản 3,
điều 56 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22-9-2006 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư quy định: “Trường hợp nhà đầu tư góp
vốn để đầu tư thì phải làm thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu
tư”.
Theo đó, khi có nhà đầu tư nước ngoài góp
vốn với nhà đầu tư Việt Nam thành lập doanh nghiệp liên doanh, trong đó bên nước
ngoài chiếm không quá 49% vốn điều lệ thì đề nghị UBND các tỉnh và các ban quản
lý yêu cầu nhà đầu tư phải có dự án đầu tư và phải làm thủ tục để được cấp giấy
chứng nhận đầu tư.
Tại cuộc tọa đàm về Kết quả rà soát thủ
tục hành chính ưu tiên (giai đoạn 1) do Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính
thuộc Văn phòng Chính phủ tổ chức tại Hà Nội ngày 20-11-2009, nhiều ý kiến của
các luật sư, luật gia, các nhà doanh nghiệp đã đề nghị cần chấm dứt hiệu lực
của Công văn số 1752 nêu trên vì những lý do sau:
Thứ nhất, Công văn số 1752 đã công khai
xóa bỏ hiệu lực của khoản 3(b) điều 9 Nghị định số 139/2007/NĐ-CP. Việc dẫn
chiếu khoản 1 điều 50 Luật Đầu tư và khoản 3, điều 56 Nghị định số 108/NĐ-CP để
áp dụng cho trường hợp này là không đúng. Bởi lẽ, Nghị định 108/NĐ-CP ban hành
ngày 22-9-2006, Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ban hành ngày 5-9-2007. Như vậy,
quy định của văn bản ban
hành trước không thể phủ định hiệu lực của văn bản ban hành sau. Với Công văn
1752, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ giải thích như thế nào về khoản 3(b) Nghị định
số 139/2007/NĐ-CP trong khi chính Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng là cơ quan chủ trì
soạn thảo nghị định này?
Thứ hai, công văn 1752 hướng dẫn về thủ
tục thành lập doanh nghiệp liên doanh. Khái niệm “doanh nghiệp liên doanh”
không tồn tại trong Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2005 mà chỉ tồn tại trong
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã hết hiệu lực. Một văn bản hướng dẫn thủ
tục thành lập một loại hình doanh nghiệp không còn tồn tại nữa sao có thể có
hiệu lực thi hành?
Thứ ba, Nghị định 139/2007/NĐ-CP đang có
hiệu lực thi hành và tạo ra môi trường thông thoáng trong thu hút đầu tư nước ngoài.
Song, công văn số 1752 ban hành và chặn đứng dòng vốn đầu tư của nhà đầu tư
nước ngoài vào việc thành lập và nhận chuyển nhượng vốn của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa. Bởi lẽ, trên thực tế, không phải trường hợp nào việc góp vốn thành
lập doanh nghiệp hay nhận chuyển nhượng vốn để trở thành đồng sở hữu của những
doanh nghiệp đã thành lập cũng gắn liền với dự án đầu tư. Chẳng hạn, một hoặc
một số nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng vốn trong một công ty TNHH đã
thành lập, đang hoạt động và quản lý một khách sạn. Dự án xây dựng khách sạn
này chủ doanh nghiệp Việt Nam
đã lập và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Vậy, nhà đầu tư phải lập dự án
gì?
Thứ tư, công văn dù của bất kỳ cấp nào
cũng không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, sử dụng công văn để sửa Nghị
định của Chính phủ là việc làm trái luật. Hơn nữa, với Công văn 1752, nhà đầu
tư nước ngoài sẽ suy nghĩ gì về tình trạng “tiền hậu bất nhất” của hệ thống
pháp luật Việt Nam?
Để bảo đảm môi trường kinh doanh thông
thoáng, lành mạnh, minh bạch và đúng pháp luật, nhiều ý kiến tại buổi tọa đàm
nói trên đã đề nghị Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư thu hồi Công văn số 1752 nêu trên.
LG.
VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấnVFAM
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------