Lịch sử hình thành chế định trọng tài
Khoa học pháp lý chưa khẳng định được chính xác phương thức trọng tài bắt đầu xuất hiện từ khi nào, nhưng có thể khẳng định đây chính là hình thức tiền thân của việc hình thành các tòa án sau này[1]. Tòa Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia.
1.1. Lịch sử hình thành chế định trọng tài trên thế giới
Khoa học pháp lý chưa khẳng định được chính xác phương thức trọng tài bắt
đầu xuất hiện từ khi nào, nhưng có thể khẳng định đây chính là hình thức tiền
thân của việc hình thành các tòa án sau này[1].
Tòa Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa
giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại
đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp. Quy định sơ khai về
trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất
hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước. Về sau Luật La Mã cho phép
mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những
nước La Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa
Châu Âu.
Trong hệ thống luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải
kể đến Luật Trọng tài 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là
một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa
ra vào năm 1610). Tuy nhiên các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật
common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào
cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán
quyết đó bất lợi cho mình. Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697.
Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang
tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài.
Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm, và được coi là kết thúc thành
công. Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các
đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng tài thay cho kiện
tụng ở tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng phát triển, dẫn tới việc hình thành những
tổ chức trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp
đồng thương mại quốc tế. Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần
đây. Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực
tế; các điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới; trọng
tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật; các doanh
nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt,
công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới. hậm
chí, trọng tài hiện nay còn giải quyết tranh chấp “trực tuyến” (thường được
biết đến với thuật ngữ ODR – online dispute resolution nghĩa là giải quyết
tranh chấp trực tuyến). Trọng tài trực tuyến tiến hành khi có khiếu nại trực
tuyến, thủ tục tố tụng diễn ra trên internet, trọng tài phân xử và ra phán
quyết dựa vào hồ sơ do các bên xuất trình.
Ở tất cả các nước trên thế giới, các tranh chấp
dân sự dù có hay không có yếu tố nước ngoài đều được giải quyết không chỉ bằng
toà án mà bằng cả trọng tài. Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc
lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn xét xử quốc tế, đặc biệt
là trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế. Cuối thế kỷ 19, người ta đã cố gắng
hợp thức hoá tính cách pháp lý cho hình thức trọng tài qua hai Hội nghị Quốc
tế. Đó là hội nghị Hoà bình tổ chức tại La – Hay Hà Lan vào năm 1899 và 1907.
Hai hội nghị này đã đi đến việc soạn thảo quy chế và thủ tục và nỗ lực hướng
dẫn các quốc gia áp dụng triệt để các hiệp ước trọng tài. Cũng như các thuật
ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm “Trọng tài” được đề cập nhiều trong luật
quốc tế. Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu trong Công ước La-Hay năm
1988, theo đó: “Trọng tài là nhằm để giải quyết những bất đồng giữa các bên
thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa chọn trên cơ sở tôn trọng luật
pháp”. Hiệp định La-Hay 1907 qui định: “Trọng tài quốc tế có đối tượng giải
quyết là những tranh chấp giữa các quốc gia qua sự can thiệp của những trọng
tài viên do các quốc gia tranh chấp tự chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng
luật pháp”. Theo giáo sư Ph.Farrchar thuộc trường đại học Pans II thì: “Trọng
tài là một phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên giao cho một cá
nhân (trọng tài viên) thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với
nhau”. Luật sư toà thượng thẩm Paris Didier Skonicki định nghĩa ngắn gọn:
“Trọng tài là toà án tư, do ý chí của đôi bên tranh chấp. Nó cũng xét xử như
toà án nhà nước”.
1.2. Lịch sử hình thành chế định trọng tài tại Việt Nam
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân ở nước
ta luôn luôn là mục tiêu, định hướng phấn đấu của Đảng và Nhà nước ta. Tuy
nhiên, tuỳ thuộc điều kiện, hoàn cảnh và chủ trương của mỗi thời kỳ, cùng với
các thiết chế khác, pháp luật nói chung và pháp luật về trọng tài nói riêng đã
có những bước phát triển mới phục vụ cho mục tiêu này.
Sau khi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền bắc cơ bản hoàn thành,
Đảng ta đã xác định vì hoạt động kinh tế là hoạt động làm nền tảng cho những
hoạt động xã hội khác, đồng thời là một nhiệm vụ tương đối mới mẻ và khó khăn
đối với Nhà nước ta, cho nên trước hết phải đặc biệt chú ý tăng cường hiệu lực
của Nhà nước ta về mặt tổ chức quản lý kinh tế. Theo đó, nguyên tắc tập trung,
chuyên môn hóa, hợp tác hóa… trong các ngành kinh tế được đề cao. Mọi hoạt động
kinh tế trong chế độ ta đều diễn ra theo kế hoạch, mà kế hoạch Nhà nước là công
cụ chủ yếu để quản lý kinh tế. Công tác kế hoạch hoá của Nhà nước kết hợp với
đề cao trách nhiệm và phát huy sáng tạo của các ngành, các địa phương và cơ sở.
Bộ máy quản lý kinh tế cũng được xây dựng trên nguyên tắc kết hợp quản lý theo
ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, bảo đảm hình thành các
ngành kinh tế – kỹ thuật, các tổ chức kinh tế liên hiệp, các vùng kinh tế và
các cơ cấu kinh tế địa phương.
Xét về mặt lịch sử, Trọng tài kinh tế xuất hiện và phát triển cùng với sự
ra đời của chế độ hợp đồng kinh tế. Năm 1960, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị
định số 04/TTg ngày 04/01/1960 để ban hành Điều lệ tạm thời về Hợp đồng kinh
tế. Ngày 14/11/1960, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/TTg về Tổ
chức Trọng tài kinh tế Nhà nước. Theo Nghị định này, ngành Trọng tài kinh tế
được tổ chức ở cấp Trung ương, khu, thành phố, tỉnh và bộ với chức năng
chủ yếu là xử lý các tranh chấp hợp đồng kinh tế. Quy định này nhằm làm rõ hơn
nữa chức năng, nhiệm vụ của các bộ quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật, thể hiện
nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh
thổ, tích cực xây dựng cấp huyện và phân định trách nhiệm giữa huyện và tỉnh,
thành phố.
Tiếp theo, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 54-CP ngày 10/03/1975
về chế độ hợp đồng kinh tế thay Nghị định số 04-TTg, thì ngày 14/04/1975, Chính
phủ đã ra Nghị định số 75-CP để ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Trung
tâm Trọng tài kinh tế. Theo Bản Điều lệ này, Trọng tài kinh tế được thành lập
như một cơ quan nhà nước có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế. Đó là
chức năng giữ vững tính kỷ luật Nhà nước về hợp đồng kinh tế, giải quyết các
tranh chấp về hợp đồng kinh tế và xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế.
Với Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng
Trọng tài kinh tế được thống nhất tên gọi là Trọng tài kinh tế, ngạch Trọng tài
viên được xác lập. Ngày 17/04/1984, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số
62/HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trọng tài
kinh tế bộ, tỉnh, huyện. Trọng tài kinh tế cấp huyện được thành lập theo Nghị
định này. Ngày 10/01/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh về Trọng tài
kinh tế quy định tổ chức, phân cấp thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp
hợp đồng kinh tế. Đặc biệt, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế đã bỏ Trọng tài cấp Bộ,
nguyên tắc các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn Trọng tài đứng ra giải quyết
tranh chấp hợp đồng kinh tế được ghi nhận.
Như vậy, Trọng tài kinh tế là cơ quan thuộc hệ thống cơ quan chấp hành và
điều hành của Nhà nước (Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các cấp), có chức
năng quản lý nhà nước đối với công tác hợp đồng kinh tế. Nét đặc thù của Trọng
tài kinh tế thể hiện ở chỗ, hoạt động giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm hợp
đồng kinh tế cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích trực tiếp điều
hành, tổ chức các quan hệ kinh tế.
Nhìn khái quát từ góc độ lịch sử, ta thấy Trọng tài kinh tế từ chỗ là cơ
quan Nhà nước có chức năng chủ yếu là xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế (Nghị
định số 20/TTg ngày 14/01/1960), đã phát triển thành một cơ quan Nhà nước có
chức năng chủ yếu là quản lý công tác hợp đồng kinh tế (Nghị định số 75/CP ngày
14/04/1975, Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981, Nghị định số 62/HĐBT ngày
17/04/1984, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế ngày 12/01/1990). Quá trình phát triển
đó của Trọng tài kinh tế tương ứng với việc ngày càng mở rộng vai trò của hợp
đồng kinh tế.
Trọng tài kinh tế Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ: giải quyết tranh chấp
hợp đồng kinh tế; kiểm tra, kết luận và xử lý các hợp đồng kinh tế trái pháp
luật; hướng dẫn thực hiện pháp luật hợp đồng kinh tế và Trọng tài kinh tế; bồi
dưỡng nghiệp vụ công tác hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế.
Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, trọng tài kinh tế nhà nước có những
đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Là cơ quan Nhà nước thuộc hệ thống cơ quan chấp, hành chính (Trọng tài
viên là viên chức hưởng lương Nhà nước; trọng tài tồn tại và hoạt động nhờ vào
kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước).
- Các cơ quan Trọng tài kinh tế từ Trung ương đến địa phương tạo thành
một hệ thống có mối quan hệ tổ chức và tố tụng ràng buộc lẫn nhau. Có thời kỳ
Trọng tài kinh tế được thành lập ở 3 cấp là Trung ương, tỉnh, huyện.
- Trọng tài kinh tế nhà nước không chỉ có chức năng giải quyết tranh chấp
kinh tế, mà còn có chức năng quản lý chế độ hợp đồng kinh tế.
- Mặc dù là cơ quan Nhà nước nhưng các quyết định của Trọng tài kinh tế
Nhà nước không được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước như
các bản án và quyết định của Tòa án.
Khi đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế mới thì sự tồn tại của Trọng tài
kinh tế với chức năng là một cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước – sản phẩm
của cơ chế kế hoạch hóa tập trung tỏ ra không còn phù hợp. Sự phát triển đa
dạng các loại hình kinh tế cùng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có
hình thức sở hữu khác nhau dẫn đến sự thay đổi cả về hình thức, tính chất của
tranh chấp và đi liền với nó là nội dung tranh chấp. Do vậy, phương thức giải
quyết tranh chấp kinh tế cũng đòi hỏi phải đổi mới. Chính vì vậy, từ ngày
28/12/1993, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân, Tòa kinh tế chuyên trách được hình htành trong hệ thống Tòa án nhân dân
với chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế. Đồng thời, hệ thống trọng tài
được giải thể.
Trước những đòi hỏi khách quan về đa dạng hoá các hình thức và phương
thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh phù hợp với đặc điểm của cơ chế thị
trường, cũng như góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế, ngày
05/09/1994, Chính phủ đa ban hành Nghị định số 116-CP về tổ chức và hoạt động
của các Trung tâm Trọng tài kinh tế. Theo các quy định của Nghị định này, Trọng
tài kinh tế thực sự được xác định là một tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tức là
tổ chức phi chính phủ có thẩm quyền giải quyết một số tranh chấp theo quy định,
hoàn toàn tách rời với chức năng quản lý Nhà nước như trước đây. Sau
gần 10 năm thực hiện Nghị định 116-CP, đã có 6 Trung tâm trọng tài được thành
lập với hơn 130 trọng tài viên. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan và khái
quát thì trọng tài chưa thể hiện được vai trò của mình với chức năng là một cơ
quan tài phán có vai trò hỗ trợ đắc lực cho Toà án trong việc giải quyết tranh
chấp. Nhằm khắc phục những hạn chế, tăng cường hiệu quả và năng lực
của các Trung tâm trọng tài và đội ngũ Trọng tài viên, ngày 25/02/2003, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài số 08/2003/PL-UBTVQH và ngày
15/01/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết
thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Có thể nói, Pháp lệnh
đã mở rộng một cách đáng kể thẩm quyền cho Trọng tài ở nước ta so với thẩm
quyền của Trọng tài theo Nghị định 116-CP; quy định đầy đủ, rõ ràng về thoả
thuận trọng tài, góp phần chấm dứt tình trạng “lấn quyền của Toà án đối với
trọng tài”; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc trở thành Trọng tài viên; ghi
nhận hình thức trọng tài mới là trọng tài vụ việc; mở rộng thẩm quyền chọn
Trọng tài viên cho các bên tranh chấp; ghi nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa Trọng
tài với Toà án; nâng cao vị thế của Trọng tài bằng việc ghi nhận tính được
cưỡng chế thi hành của các phán quyết trọng tài; quy định nhiều cơ chế mới để
đảm bảo cho việc thành lập các Trung tâm trọng tài được chặt chẽ hơn, trên cơ
sở đó mà nâng cao chất lượng và uy tín của các Trung tâm Trọng tài.
Những quy định mới của Pháp lệnh Trọng tài thương mại đã tạo ra khả năng
vô cùng to lớn cho sự phát triển của Trọng tài thương mại ở nước ta, giúp giải
quyết nhanh chóng các tranh chấp thương mại, giảm bớt gánh nặng của cơ quan Toà
án…. Đồng thời, cùng với các quy định pháp luật khác, pháp luật về trọng tài đã
góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật trong sạch, vững mạnh, phục vụ yêu cầu
quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước.
Như vậy, có thể nhận thấy tại Việt Nam trọng tài đã xuất hiện từ thời kỳ
kinh tế kế hoạch hóa vào những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX dưới tên
gọi là “trọng tài kinh tế”. Trọng tài kinh tế khi đó có những đặc trưng phản án
sự vận hành của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, vừa mang chức năng quản lý và chức
năng giải quyết tranh chấp; do đó, trọng tài kinh tế ở Việt Nam thời đó không
phải là tổ chức trọng tài theo đúng nghĩa. Chính sách Đổi mới đã dẫn đến sự
phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền dẫn tới sự chấm dứt
tồn tại của một số định chế đặc trưng cho kế hoạch hóa, trong đó có hợp đồng
kinh tế và trọng tài kinh tế. Sự phát triển của kinh tế thị trường đã dẫn đến
nhu cầu thành lập các trung tâm trọng tài đúng nghĩa (phi Chính phủ) ở Việt Nam. Hiện nay ở
Việt Nam
có 7 trung tâm trọng tài kinh tế đang hoạt động (ACIAC, VIAC, HCMCAC, HCAC,
CCAC, PIAC. VID.ARCE).
(Nguồn: dangthanglawyer.wordpress.com)
|