Lịch sử quan hệ Việt-Trung nhìn từ góc độ đại chiến lược - Vũ Hồng Lâm
Tóm tắt: Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, cũng như nhiều quan hệ địa chính trị khác, có hai mặt: hình thức và thực chất. Hai mặt này không phải bao giờ cũng tương đồng.
Về mặt
hình thức, quan hệ Việt-Trung được định vị trong khuôn khổ một mô hình thế giới
có tính chuẩn tắc mà cả hai thế lực cầm quyền ở Trung Quốc và ở Việt Nam cùng công
nhận. Song về thực chất, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phản ánh sự cọ sát,
đụng độ hoặc thỏa hiệp giữa những viễn tượng khác nhau về trật tự thế giới, xét
cho cùng là phản ánh tương quan lực lượng giữa các thế lực lãnh đạo đại diện
cho các viễn tượng thế giới khác nhau. Sự chia sẻ và tranh chấp trật tự thế
giới được thực hiện thông qua đại chiến lược và được thể hiện thông qua lễ
nghi. Tìm hiểu đại chiến lược của Việt Nam và Trung Quốc, giải mã lễ nghi
trong tiếp xúc và trao đổi giữa hai nước (đúng hơn là hai thế lực địa chính
trị), sẽ cho câu trả lời về tính chất và đặc điểm của mối quan hệ Việt-Trung.
Bài viết này điểm qua mối quan hệ Việt-Trung trong 22 thế kỷ lịch sử của nó,
đặc biệt tập trung vào giai đoạn từ thập niên 1970 cho đến nay.
Tổng
quan
Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc là một
trong những mối quan hệ địa chính trị lâu đời nhất trên thế giới còn tồn tại
đến ngày nay. Nói “quan hệ địa chính trị” để nói về một phạm trù tổng quát hơn,
bao trùm hơn phạm trù “quan hệ giữa hai quốc gia”. Bởi vì trong gần hai mươi
hai thế kỷ lịch sử của nó, quan hệ Việt-Trung không phải lúc nào cũng là quan
hệ giữa hai quốc gia, càng không phải lúc nào cũng là quan hệ giữa hai “nhà
nước dân tộc có chủ quyền”, như ta vẫn quen hình dung về mối quan hệ giữa hai
“nước” trong thế giới hiện đại. “Quan hệ Việt-Trung” ở đây được hiểu là mối
quan hệ giữa hai thực thể địa chính trị. Mối quan hệ địa chính trị này trong
từng thời kỳ có tính chất gì, mang đặc điểm gì, hay có thể gọi là gì, đó chính
là câu hỏi bao trùm của bài nghiên cứu này.
Quan hệ Việt-Trung trong gần 2200 năm tồn tại từ thế kỷ 2
trước Tây lịch đến nay có thể chia ra bốn thời kỳ cơ bản. Thời kỳ thứ nhất
quen gọi là “thời kỳ Bắc thuộc”, dài khoảng một ngàn năm, từ lúc nước Âu Lạc
của An Dương Vương thuộc về nước Nam Việt của Triệu Đà (năm 179 tr. TL), khi
mối liên hệ địa chính trị đầu tiên giữa miền châu thổ sông Hồng với miền Trung
nguyên Trung Quốc được thiết lập thông qua quan hệ Hán-Nam Việt, cho đến thời
điểm Ngô Quyền thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938 sau TL). Thời kỳ
thứ hai gọi chung là “thời kỳ Đại Việt”, dài tương đương, từ khi Ngô
Quyền xưng vương (939) đến khi Pháp đặt nền bảo hộ ở Việt Nam và nhà Thanh công
nhận chủ quyền của Pháp ở đây (1883). Thời kỳ thứ ba quen gọi là “thời
kỳ Pháp thuộc”, kéo dài khoảng 6 thập niên, từ 1883 đến 1945, khi Việt Nam
tuyên bố độc lập. Thời kỳ thứ tư gọi chung là “thời kỳ Việt Nam”, dài tương
tự, từ 1945 đến nay. Thời kỳ này gồm 3 giai đoạn: (1) từ cuối thập niên 40 đến
cuối thập niên 60, (2) từ đầu thập niên 70 đến cuối thập niên 80, (3) từ đầu
thập niên 90 đến nay.
Thời
kỳ Bắc thuộc
Thời Bắc thuộc, Việt Nam được tổ chức thành quận huyện
trong cơ cấu nhà nước đế quốc Trung Hoa với tên gọi “Giao châu” (nửa đầu thời
kỳ) và “An Nam đô hộ phủ” (nửa sau thời kỳ). Quan cai trị Việt Nam do vua
Trung Quốc bổ nhiệm. Như vậy, Việt Nam thống thuộc vào Trung Quốc về
nhân sự lãnh đạo cũng như về chính sách. Song thực tế không nhất thiết là như
vậy. Có hai cách đi ra ngoài khuôn khổ của triều đình Trung Hoa.
Cách thứ nhất được thực hiện bằng một cuộc khởi nghĩa vũ
trang, sau đó người lãnh đạo khởi nghĩa xưng “vương” hoặc xưng “đế”. Hiện tượng
các thủ lĩnh địa phương nổi lên xưng đế là hiện tượng bình thường trong lịch sử
Trung Quốc. Thế nhưng trong đa số trường hợp họ đều hướng tới chiếm lĩnh Trung
nguyên, thâu tóm cả Trung Quốc về mình: Dưới vòm trời chỉ có một mặt trời mà
thôi. Song ở Việt Nam,
những người nổi lên xưng vương xưng đế chưa bao giờ nuôi ý đồ tiến chiếm Trung
nguyên. Họ luôn coi Trung Quốc như một thiên hạ khác. Họ không định gồm thâu
Trung Quốc, mà ngược lại, họ muốn rạch ngang vòm trời, chia thiên hạ làm hai,
nửa bắc của người bắc, nửa nam của mình. Ở đây, người ta vẫn sử dụng mô hình
thế giới của Trung Hoa, nhưng bóp méo nó đi ở một điểm cơ bản: Thiên hạ chia
hai, có hai mặt trời. Tư tưởng này là viễn tượng về trật tự thế giới của hàng
loạt các thế lực lãnh đạo Việt Nam
cho đến mãi về sau. Nó thể hiện trong đế hiệu “Lý Nam
đế” của Lý Bí (544), trong bài thơ “Nam
quốc sơn hà Nam
đế cư” được cho là của Lý Thường Kiệt (1075), trong bài phú “Bình Ngô đại cáo”
của Nguyễn Trãi (1428). Nhưng không phải nó chỉ bắt đầu với Lý Bí. Nó đã bắt
đầu rất sớm, trước cả khi có mối quan hệ Việt-Trung nếu ta quan niệm quan hệ
Việt-Trung khởi sự cùng với mối liên hệ địa chính trị đầu tiên giữa miền châu
thổ sông Hồng và miền Trung nguyên Trung Quốc. Do đó, mối quan hệ địa chính trị
giữa Việt Nam và Trung Hoa
ngay từ khi khởi sự đã được lồng trong cái tư tưởng “Bắc Nam chia đôi”
ấy. Kẻ khởi xướng ra cái tư tưởng “Bắc Nam tương xứng” đó là Triệu Đà, nguyên
là một viên tướng nhà Tần cử xuống cai trị ở vùng Lĩnh Nam. Nhân lúc trung ương
Hoa Hạ suy yếu, họ Triệu nổi lên xưng đế, lập nước Nam Việt, xây dựng chính
quyền theo hình mẫu Trung Hoa, nhưng cải lối sống theo tục Việt. Tuy nhiên
Triệu Đà sớm phải thỏa hiệp với Trung Hoa: Ông phải bỏ xưng “đế”, chịu cho nhà
Hán phong “vương”, nghĩa là công nhận tư cách của mình chỉ như một chư hầu
mà vua Hán là bá chủ. Trong suốt thời Bắc thuộc, các cuộc khởi nghĩa của
người Việt cũng đều ngắn ngủi. Phần thắng vẫn thuộc về kẻ muốn áp đặt trật tự
thế giới một trung tâm, mà Việt Nam
trong đó chỉ có tư cách quận huyện.
Cách thứ hai là chấp nhận tư cách quận huyện của Việt Nam trong cơ
cấu tổ chức nhà nước Trung Quốc, nhưng giữ cho mình một không gian tự chủ
riêng. Kẻ cai trị Giao châu hay An Nam tự lập vào chức đứng đầu bộ máy cai trị
địa phương hoặc cha truyền con nối, sự sắc phong của triều đình trung ương bên
Trung Hoa chỉ là hình thức. Tự chủ trong nhân sự lãnh đạo đi kèm với tự chủ
trong chính sách. Những thời kỳ như vậy nổi bật nhất có họ Sĩ (tk 2 sau TL) và
họ Khúc (tk 9).
Thời
kỳ Đại Việt
Đây là lúc Việt Nam không còn chấp nhận tư cách quận huyện
trong đế quốc Trung Hoa nữa, và Trung Hoa cũng phải chấp nhận cho Việt Nam nằm
ngoài cương vực của mình. Lịch sử quan hệ Việt-Trung trong thời kỳ này là lịch
sử sự xung đột và thỏa hiệp, lịch sử sự thể chế hóa các xung đột và thỏa hiệp
ấy giữa hai viễn tượng về trật tự thế giới.
Trung Hoa áp đặt trật tự thế giới của mình thông qua “lễ”.
Để khẳng định vị trí của mình trong trật tự thế giới của Trung Hoa, Việt Nam
phải nộp cống, kẻ cầm quyền mới lên ngôi phải cầu phong, nhận sắc chỉ của hoàng
đế Trung Hoa phải khấu đầu, nếu không làm tròn phận sự sẽ bị cất quân hỏi tội.
Việt Nam
thực hiện một chính sách hai mặt. Một mặt vẫn thực hiện đủ lễ với Trung Hoa,
nghĩa là về hình thức công nhận trật tự thế giới của Trung Quốc. Mặt khác cứ
thực hiện trật tự thế giới của riêng mình. Tự xưng hoàng đế, coi mình như Trung
Quốc ở phương Nam, bắt các nước ngoài Trung Hoa phải triều cống, sắc phong cho
họ, nếu “bất trung” cũng cất quân hỏi tội. Tuy nhiên, như Alexander Woodside
(1971) nhận xét, cái trật tự “Trung Quốc của phương Nam” này lỏng lẻo hơn
“Trung Quốc thật sự” rất nhiều.
Phương thức đại chiến lược của Việt Nam đối với
Trung Quốc có sự giống và khác giữa hai giai đoạn. Giai đoạn đầu, thời Lý-Trần,
là kháng cự và không chối từ (“non-refus”, chữ dùng của Pierre Féray, được Trần
Quốc Vượng (1991) tâm đắc). Giai đoạn sau, thời Lê-Nguyễn, là kháng cự và bắt
chước. Sự khác nhau này là nguồn gốc gây tranh cãi về thái độ của Việt Nam đối với Trung
Quốc trong thời Trung đại. Vĩnh Sính (1994) gọi thái độ ấy nói chung là “kháng
cự và chấp nhận”, so sánh với thái độ của sĩ phu Nhật Bản với Trung Quốc là
“kính trọng và chối từ”. Sự dịch chuyển thái độ của Việt Nam với Trung Quốc vào
nửa sau thời Trung đại, theo Trần Quốc Vượng (1993), là do sự thắng thế của đạo
Nho, khiến cho trong thời Lê-Nguyễn tình trạng tam giáo đồng nguyên bị thay
bằng tình trạng độc tôn Nho giáo. Mục tiêu đại chiến lược của giới nho sĩ, tức
là nghiệp cấp lãnh đạo Việt Nam trong thời Trung đại, như Trần Quốc Vượng
(1988) chỉ ra, là “vô tốn, bất dị” (không kém và không khác) Trung Quốc.
Thời
kỳ Pháp thuộc
Thời Pháp thuộc, Việt Nam
bị chia làm ba kỳ, nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp: Bắc kỳ và Trung
kỳ là xứ bảo hộ, Nam
kỳ là thuộc địa. Với Hiệp ước Pháp-Thanh năm 1885, Trung Quốc từ bỏ bá quyền
của mình và thừa nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam. Quan hệ
giữa Việt Nam
và Trung Quốc do Pháp đảm nhiệm và trở thành một bộ phận của quan hệ
Pháp-Trung.
Thời kỳ này cũng là thời kỳ mà Trung Hoa phải từ bỏ mô
hình thế giới truyền thống của mình và áp dụng mô hình thế giới kiểu Âu, một
kiểu trật tự thế giới được công nhận ở châu Âu từ sau Hòa ước Westphalia
(1648). Sự khác biệt lớn nhất giữa hai mô hình Trung Hoa và Tây phương là trật
tự thế giới kiểu Tàu đòi hỏi phải có một trung tâm thiên hạ, đại diện là hoàng
đế Trung Quốc với tư cách “con trời”, dưới ông là một hệ thống các “phiên
bang”, “chư hầu”, “thuộc quốc”, tức là một sự phân biệt trên dưới rất rõ
ràng; trong khi trật tự thế giới kiểu Westphalia không công nhận một trung tâm
quyền lực tối thượng đứng trên các nước khác, cai quản cả thế giới dù chỉ trên
danh nghĩa, các nước có chủ quyền tối cao trong vùng lãnh thổ của mình, và do
đó là ngang nhau trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, hành xử của các nước Tây phương phải chia làm
hai lớp. Ở phần nghi lễ ngoại giao là mô hình Westphalia,
còn trong thực tế là chính trị dựa trên sức mạnh (power politics). Chẳng hạn ở
Việt Nam, Pháp chiếm Nam kỳ lục tỉnh
làm thuộc địa, có giao kèo đàng hoàng. Nghĩa là quyền chiếm đất của Pháp không
phải tự nhiên mà có. Pháp đặt vòng bảo hộ lên Bắc và Trung kỳ, giữ nguyên ngai
vàng Hoàng đế Đại Nam,
chỉ đặt “công sứ” cai trị. Nghĩa là vẫn công nhận vua An Nam là chủ nước An
Nam. Tuy rằng tất cả phải chịu sự điều động của Toàn quyền Đông Dương và chính
phủ Pháp. Riêng đối với Trung Hoa, do nước này quá lớn, phương Tây bắt Trung
Hoa phải tô nhượng cho họ một số khu vực đầu mối giao thương, phải thừa nhận
cho họ có khu vực ảnh hưởng trên lãnh thổ mình. Chẳng hạn Pháp bắt nhà Thanh
phải thừa nhận các tỉnh Lưỡng Quảng và Vân Nam nằm trong khu vực ảnh hưởng của
Pháp.
Về phía Trung Quốc, một mặt chuyển theo mô hình thế giới
kiểu Âu nhất là trong việc đòi hỏi quyền bình đẳng với các nước lớn Tây phương,
mặt khác vẫn nuôi tham vọng dành lại bá quyền với các nước khi xưa đã chấp nhận
trật tự thế giới kiểu Trung Quốc. Chính sách này chung cho mọi chính quyền ở
Trung Quốc, từ nhà Thanh, Quốc dân đảng đến Cộng sản đảng.
Lý
và thực trong thời hiện đại
Sau Thế Chiến II, cả thế giới cùng công nhận mô hình Westphalia. Mô hình đó là cơ sở ý thức hệ của Liên Hợp
Quốc (cấm xâm lược, mỗi nước một phiếu), cũng là chỗ bám để các nước thuộc địa
đòi hỏi quyền tự quyết của mình. Chính trên căn bản này mà Ấn Độ và Trung Quốc
đã đề ra “năm nguyên tắc chung sống hòa bình” (tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ của nhau, không xâm lược lẫn nhau, không can thiệp vào nội trị của
nhau, bình đẳng cùng có lợi, chung sống hòa bình). Những nguyên tắc này cũng
được Trung Quốc và Việt Nam
coi như một căn bản trong quan hệ giữa hai quốc gia. Nói cách khác, mô hình thế
giới truyền thống kiểu Trung Quốc mà các triều đình Việt Nam và Trung
Hoa chia sẻ trước kia đã không còn hiệu lực pháp lý. Bên cạnh đó, nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa và nước Trung Hoa xã hội chủ nghĩa còn có chung một mô hình thế giới nữa.
Theo đó, thế giới chia làm hai phe, xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, trong
đó Việt Nam và Trung Quốc cùng thuộc phe xã hội chủ nghĩa, tức là như “anh em
một nhà”.
Trong những năm 50 và 60, Việt Nam coi Liên Xô và Trung
Quốc là hai nước đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa, là “anh cả” và “anh hai”. Điều
này có vẻ như Việt Nam trùng quan điểm với Trung Quốc (Liên Xô và Trung Quốc là
anh cả và anh hai của phe xã hội chủ nghĩa), khác quan điểm với Liên Xô (Liên
Xô một mình lãnh đạo phe xã hội chủ nghĩa). Nhưng thực chất có sự khác biệt
quan trọng giữa ba quan điểm của ba nước. Trung Quốc vẫn công nhận phe xã hội
chủ nghĩa lãnh đạo bởi Liên Xô, nhưng điểm mấu chốt mà Trung Quốc đòi hỏi là họ
phải được độc lập, không bị phụ thuộc vào “anh cả”. Vì thế mà Mao muốn Liên Xô
chia sẻ kỹ thuật làm bom nguyên tử với Trung Quốc. Nhưng Liên Xô muốn các nước
xã hội chủ nghĩa phụ thuộc vào mình nên từ chối cho Trung Quốc công nghệ nguyên
tử. Đây là nguyên nhân sâu xa và căn bản của sự “bất hòa” giữa hai nước trong
những năm về sau. Về phía Việt Nam,
để phục vụ mục tiêu hoàn toàn giải phóng miền Nam,
Việt Nam
cần cả hai cường quốc xã hội chủ nghĩa, còn chuyện họ có phụ thuộc vào nhau hay
không thì không quan trọng.
Tuy nhiên, trong giai đoạn Khrushchev cầm quyền ở Liên Xô,
Hà Nội bất đồng với Mátxcơva trên hai điểm căn bản. Thứ nhất là chủ trương
chung sống hòa bình giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.
Chính sách này làm Hà Nội bất mãn, vì họ không tin Mỹ cũng muốn chung sống hòa
bình, bằng chứng của họ là việc Washington
ngày càng can thiệp sâu vào miền Nam. Thêm nữa, chủ trương chung
sống hòa bình đi ngược lại ý đồ của Hà Nội là quyết tâm giải phóng miền Nam, kể cả bằng
vũ lực. Thứ hai là chủ trương xét lại các giáo điều của Lênin và Stalin. Điều
này gây hoang mang, xáo trộn tư tưởng trong cán bộ, khi mà Hà Nội lại đang rất
cần thống nhất và ổn định tư tưởng để tranh đấu ở miền Nam. Trong lúc
đó thì Trung Quốc cũng chủ trương dùng đấu tranh vũ trang để chống Mỹ và giương
ngọn cờ chống xét lại để tiếp tục bám giữ các giáo điều. Do đó, tại Hội nghị
trung ương 9 khóa 3 Đảng Lao động Việt Nam, tháng 12/1963, cùng với một nghị
quyết “giải phóng miền Nam” là một nghị quyết “chống chủ nghĩa xét lại” của
Liên Xô như một sự “ngả về” Trung Quốc. Tuy nhiên, như W. R. Smyser (1980: 80)
nhận định, vấn đề đối với Hà Nội không phải là theo Trung Quốc hay ngả về Liên
Xô hay giữ một vị trí cân bằng giữa hai bên. Chính sách của Hà Nội theo đuổi
một mục tiêu không đổi: giành sự kiểm soát hoàn toàn miền Nam. Và Hà Nội
sẽ nghiêng về bên nào ủng hộ mục tiêu đó.
Song chẳng bao lâu sau, vào cuối những năm 60, đầu những
năm 70, quan điểm và đường lối đại chiến lược của Việt Nam và Trung Quốc bắt
đầu rời xa nhau. Bất đồng sâu sắc với Liên Xô mà không lôi kéo được phe xã hội
chủ nghĩa theo mình, Trung Quốc quay ra giương cao ngọn cờ lãnh đạo các nước
đang phát triển. Cuối những năm 60, Trung Quốc đưa ra viễn tượng “nông thôn thế
giới bao vây thành thị thế giới”, trong đó “nông thôn thế giới” do Trung Quốc
lãnh đạo, còn “thành thị thế giới” bao gồm cả Mỹ lẫn Liên Xô. Cũng trong khoảng
thời gian này, Liên Xô đưa ra mô hình “ba dòng thác cách mạng thế giới”. Ba
dòng thác ấy bao gồm chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào
công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, và phong trào giải phóng dân tộc ở các
nước đang phát triển. Theo thuyết của Liên Xô, nước này lãnh đạo phe xã hội chủ
nghĩa và lực lượng xã hội chủ nghĩa là chủ lưu của ba dòng thác cách mạng. Như
vậy, Liên Xô là lãnh đạo của lãnh đạo. Việt Nam không nhận được vai trò gì quan
trọng trong viễn tượng thế giới của Trung Quốc, nhưng vẫn có thể có chỗ đứng
danh giá trong mô hình của Liên Xô. Đó là một lý do vì sao Bí thư thứ nhất Lê
Duẩn nhanh chóng tiếp thu lý luận “ba dòng thác cách mạng” của Suslov, đồng
thời gắn vào đó hình ảnh Việt Nam là “tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông
Nam Á” và “mũi nhọn của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới”.
Ngoài ra, cũng trong khoảng thời gian cuối những năm 60,
đầu những năm 70, một loạt biến cố quan trọng đã xảy ra trong chính sách và mối
quan hệ của các nước lớn liên quan đến Việt Nam. Năm 1966, căng thẳng giữa
Trung Quốc và Liên Xô bùng cháy thành xung đột biên giới. Năm 1967, Mỹ tổn thất
nặng vì chiến tranh Việt Nam,
Tổng thống Johnson không dám ra tranh cử tổng thống. Năm 1968, Nixon trúng cử
tổng thống Mỹ, chuyển sang chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Cố vấn an ninh
quốc gia Kissinger, một giáo sư sử học đặc biệt tâm đắc phương thức “cân bằng
quyền lực” (balance of power), phương thức mà theo ông đã giúp châu Âu duy trì
hòa bình trong suốt một thế kỷ (từ sau Chiến tranh Napoléon đến trước Thế chiến
thứ 1), bí mật sang Trung Quốc thăm dò khả năng dùng nước này làm đối trọng với
Liên Xô. Năm 1972, nhân chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Nixon, hai
nước ký Tuyên bố chung Thượng Hải, đặt nền móng cho liên minh chiến lược chống
lại Liên Xô. Sự bắt tay của Trung Quốc với Mỹ càng làm Việt Nam xích lại
gần Liên Xô. Như Eero Palmujoki (1997: 48) nhận xét, việc Hà Nội tiếp thu lý
luận “ba dòng thác cách mạng” là để thể hiện chính sách thân Liên Xô, vì quan
điểm “ba dòng thác cách mạng” mà Liên Xô đưa ra năm 1969 về cơ bản không khác
gì quan điểm “ba lực lượng cách mạng thế giới” mà Hội nghị các đảng cộng sản và
công nhân đã thông qua vào năm 1960.
Năm 1975, chiến tranh kết thúc, nước Việt Nam thống nhất,
quan hệ Việt-Trung đi vào một bối cảnh mới. Sự nghiệp “giải phóng miền Nam” đã hoàn tất, Việt Nam phải chuyển
sang chiến lược lớn mới. Mục tiêu của sự nghiệp mới là “xây dựng chủ nghĩa xã
hội trên phạm vi cả nước”, mà một nội dung chính là đưa Việt Nam tiến kịp
các nước phát triển về kinh tế. Lãnh đạo Việt Nam lúc đó tin tưởng rằng với vị
thế rất cao trên trường quốc tế sau khi đã chiến thắng siêu cường số 1 thế
giới, Việt Nam hoàn toàn có thể tranh thủ được nguồn lực của cả hai phe, của
Liên Xô (vì Việt Nam đã có thành tích thắng Mỹ) cũng như của Mỹ (vì Mỹ đã hứa
viện trợ nhiều tỉ đô la bồi thường chiến tranh), để thực hiện mục tiêu này.
Song tính toán của Việt Nam hoàn toàn dựa trên sự hiểu sai thế giới bên ngoài,
nhất là hiểu sai các nước lớn có ảnh hưởng quyết định đến số phận của Việt Nam
là Mỹ, Trung Quốc cũng như Liên Xô. Không như Việt Nam nghĩ, Liên Xô mạnh tay
giúp Việt Nam phần nhiều vì Việt Nam đứng trên tuyến đầu chống kẻ thù chiến
lược của Liên Xô chứ không hẳn vì Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội cho bản
thân. Bởi vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, Liên Xô cùng các nước xã hội chủ
nghĩa khác đã cắt giảm mạnh viện trợ cho Việt Nam, thay vì tiếp tục cho không
để Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khác với tin tưởng của Việt Nam, Mỹ chỉ giận chứ không sợ Việt
Nam
sau khi thua cuộc chiến. Do đó, Washington
nhất định không chấp nhận lấy việc Mỹ viện trợ (Hà Nội đòi 3,2 tỉ đô la) làm
điều kiện để bình thường hóa quan hệ. Đối với Trung Quốc, Việt Nam cho rằng
cái uy chiến thắng siêu cường Mỹ sẽ khiến người láng giềng phương bắc phải nể.
Nhưng sự mạnh lên của Việt Nam
lại khiến Bắc Kinh coi Hà Nội như một đối thủ cần ngăn chặn. Do đó, Trung Quốc
đã kết liên chiến lược với Campuchia để gây sức ép với Hà Nội từ phía nam.
Năm 1978, Trung Quốc đi vào một khúc quanh lịch sử. Đặng
Tiểu Bình trở lại chính quyền – lần này không còn Mao Trạch Đông ngồi trên nữa
vì ông đã chết từ 1976 – phát động một đại chiến lược mới. Vẫn hoài bão cũ: đưa
Trung Quốc trở thành đại cường quốc thế giới, nhưng nhiệm vụ mới: “4 hiện đại
hóa”, và phương thức thực hiện mới: tranh thủ sự cộng tác của phương Tây, đặc
biệt là Mỹ. Trung Quốc từ bỏ quan điểm đấu tranh giai cấp trong quan hệ quốc
tế, phấn đấu làm đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ. Mô hình “3 thế giới” trong đó
Trung Quốc có sứ mệnh lãnh đạo “thế giới thứ ba” (các nước đang phát triển),
liên kết với “thế giới thứ hai” (các nước công nghiệp phát triển nhưng không
phải siêu cường), để lật đổ sự thống trị của “thế giới thứ nhất” (gồm hai siêu
cường Mỹ và Liên Xô), không còn giá trị. Thay vào đó là lợi ích dân tộc thuần
túy và tư duy thực dụng: Trung Quốc phải tranh thủ được nước mạnh nhất thế giới
về năng lực kinh tế, khoa học và quân sự, bất kể nước đó “màu gì” (Đặng: “Mèo
trắng mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột”).
Các sự kiện có tính bước ngoặt trong hai năm 1977-78: Sự
đổ vỡ trong quan hệ Việt-Trung, Mỹ cự tuyệt quan hệ ngoại giao với Việt Nam,
Việt Nam gia nhập khối kinh tế của Liên Xô (Hội đồng Tương trợ Kinh tế) và ký
liên minh phòng thủ (Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị và Hợp tác) với Liên Xô và các
nước trong khối Vácsava, Campuchia gây hấn biên giới tây nam Việt Nam và Việt
Nam đưa quân vào thay đổi chính phủ của Campuchia, diễn ra như là kết quả của
sự đan xen đại chiến lược giữa các nước liên hệ, tiếp theo một chuỗi các sự
kiện đã khởi sự từ cuối những năm 60, đầu những năm 70. Cuối năm 1978, Trung
Quốc lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, đầu năm 1979 đưa quân đánh Việt Nam trên
toàn tuyến biến giới phía bắc, Việt Nam bị cả thế giới ngoài các nước thân Liên
Xô tẩy chay. Việt Nam
buộc phải chuyển sang một chiến lược lớn khác.
Liệu lịch sử có thể khác đi được không? Chẳng hạn như nếu
sau năm 1975, Việt Nam không giải tán Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hoặc thực
hiện “một nước, hai chế độ”, không cải tạo công thương ở miền Nam, không
nghiêng về một nước lớn nào mà tìm cách cân bằng ảnh hưởng của cả ba cường quốc
Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ, cố gắng tranh thủ nguồn lực của tư bản trong nước
cũng như quốc tế, giữ thể diện cho Mỹ (như cha ông đã từng làm với Trung Quốc
sau khi thắng họ) để bình thường hóa quan hệ và tranh thủ nguồn lực của Mỹ. Như
Trần Quang Cơ (2001/2003) nhận định, trong các năm 1977-78, “ta đã bỏ lỡ mất cơ
hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong hòa bình để tập trung phát triển đất
nước sau bao năm chiến tranh, lỡ cơ hội san bằng khoảng cách với các nước cùng
khu vực” (tr. 6). Theo ông, Việt Nam đã có 4 sai lầm lớn là 1) không duy trì
quan hệ cân bằng với Trung Quốc và Liên Xô, 2) quá cứng nhắc bắt Mỹ phải viện
trợ, bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1977, 3) không gia nhập
khối ASEAN từ 1976 khi cả 6 nước này đều muốn Việt Nam tham gia, 4) dính líu
quá sâu và quá lâu vào Campuchia (tr. 7). Liệu những “sai lầm” này có phải là
tất yếu không và nếu chúng không xảy ra thì tình hình có khác đi cơ bản hay
không? Khó có thể trả lời những chữ “nếu” khi lịch sử đã là lịch sử. Song có
thể thấy để chuyển lịch sử đi theo hướng khác đòi hỏi rất nhiều nỗ lực. Trước hết,
những “sai lầm” nói trên dường như là kết quả của một sự “cộng hưởng chiến
lược” làm cho cơ hội khác đi của lịch sử càng ngày càng thu hẹp. Sự cự tuyệt và
thái độ thù địch của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam
sau 30/4/1975 càng làm cho Hà Nội thấy không cần thiết phải để Cộng hòa miền
Nam Việt Nam
tiếp tục tồn tại. Ngược lại, việc Việt Nam khăng khăng bắt Mỹ phải viện trợ làm
điều kiện cho bình thường hóa đã góp phần thu hẹp cơ hội này, khiến Ngoại
trưởng Cyrus Vance không còn con bài nào để chơi, và khi mà Cố vấn an ninh quốc
gia Zbigniew Brzezinski đã bắt tay được với Trung Quốc thì sau đó Việt Nam đã
trở thành một thứ “con tin” trong quan hệ Mỹ-Trung (Tác giả cảm ơn người thẩm
định của Thời Đại Mới đã chỉ ra
điểm này; bạn đọc có thể xem Chanda (1986) để tìm hiểu kỹ hơn giai đoạn lịch sử
bước ngoặt 1975-78). Thứ hai, nếu Việt Nam đi tìm một vị trí cân bằng giữa ba
nước lớn, nhiều khả năng là các nước sẽ áp dụng cho Việt Nam một công thức như
kiểu Nam Tư. Song, sau một chiến thắng vĩ đại như năm 1975, hình ảnh một “Nam
Tư phương Đông” khó lòng hấp dẫn bằng hình ảnh ”tiền đồn phe xã hội chủ nghĩa ở
Đông Nam Á” và “mũi nhọn phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới”.
Các sự kiện năm 1978-79 đã xô đẩy Việt Nam vào một đại
chiến lược mới. Phải can dự vào Campuchia, bị chiến tranh với Trung Quốc và bị
phần lớn thế giới cô lập, Việt Nam buộc phải tìm kiếm cho mình một bảo đảm an
ninh bằng cách lập vành đai an toàn ở Đông Dương, kết giao chặt chẽ và toàn
diện với Liên Xô. Bởi thế, trong những năm 1980, quan hệ với Liên Xô trở thành
“hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại” của Việt Nam, quan hệ với Lào và
Campuchia trở thành “mối quan hệ đặc biệt”, thành “liên minh chiến lược ba nước
Đông Dương”. Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam liên minh với một nước lớn khác
để chống lại Trung Quốc. Cũng vậy, khu vực ảnh hưởng của Việt Nam ở Đông
Dương trong giai đoạn này rộng hơn bất cứ thời kỳ nào khác trong lịch sử.
Các diễn biến của quan hệ Việt-Trung trong thời hiện đại
cũng phơi bày khoảng cách lớn giữa mặt “hình thức” và mặt “thực chất” của quan
hệ giữa hai nước. Về hình thức, hai nước đều thừa nhận trật tự thế giới kiểu
Westphalia (mỗi quốc gia có chủ quyền như nhau) và kiểu Zhdanov (thế giới gồm hai phe: xã hội chủ
nghĩa và tư bản chủ nghĩa). Nhưng thực chất, hành xử của Việt-Trung lại theo
những lôgíc hoàn toàn khác. Không phải “Westphalia” mà là “thiên triều”: Trung
Quốc đánh Việt Nam mà không cần bị tấn công trước để “dạy cho Việt Nam một bài
học”. (Mỹ 1964 theo “Westphalia”: phải có sự kiện vịnh Bắc Bộ mới có cớ đưa
quân vào Việt Nam). Không phải “phe xã hội chủ nghĩa một bên, phe tư bản chủ
nghĩa một bên” mà là “chính trị thực tế” (Realpolitik – chính sách đối ngoại
dựa trên thực tế tranh giành quyền lực, không dựa trên tiêu chuẩn đạo đức và ý
thức hệ) và “cân bằng quyền lực”: Campuchia (xã hội chủ nghĩa) đánh Việt Nam
(xã hội chủ nghĩa), Việt Nam đánh Campuchia, Trung Quốc (xã hội chủ nghĩa) đánh
Việt Nam, Mỹ (tư bản chủ nghĩa) liên minh với Trung Quốc, Thái Lan (tư bản chủ
nghĩa) làm hậu phương cho Khmer Đỏ.
Xung đột nhỏ lồng trong xung đột lớn, tất cả chịu sự chi
phối của quan hệ giữa các nước lớn. Quan hệ Việt-Trung rơi vào một bối cảnh mới
khi chiến lược của một nước lớn trong tam giác Mỹ-Trung-Xô thay đổi. Điều này
đã xảy ra sau khi Nixon lên cầm quyền ở Mỹ (1968), khi Đặng Tiểu Bình lên cầm
quyền ở Trung Quốc (1978), và một lần nữa xảy ra sau khi Gorbachov lên cầm
quyền ở Liên Xô (1985). Gorbachev thực hiện một phương thức đại chiến lược mới.
Vẫn nhắm mục tiêu giữ vững vị trí siêu cường của Liên Xô nhưng bằng cách cải tổ
kinh tế (perestroika), minh bạch hóa nền chính trị (glasnost), hòa dịu với
phương Tây và Trung Quốc. Ông định thông qua chính sách đối ngoại mới để 1)
giảm áp lực đe dọa quân sự từ Mỹ và Trung Quốc, 2) nhận được vốn và công nghệ
của phương Tây, nhằm vực dậy nền kinh tế kém hiệu năng của Liên Xô. Không rõ có
phải do đánh giá đúng ý đồ của đối thủ hay không mà Trung Quốc đặt ba điều kiện
tiên quyết để bình thường hóa quan hệ Xô-Trung là Liên Xô phải rút quân khỏi
Afghanistan, chấm dứt ủng hộ Việt Nam can thiệp vào Campuchia, giảm quân dọc
biên giới Xô-Trung. Sự cứng rắn của Đặng Tiểu Bình cuối cùng đã buộc Gorbachov
nhượng bộ cả ba điều kiện. Lợi dụng xu hướng Liên Xô bỏ rơi Việt Nam để tập
trung vào các vấn nạn trong nước, tạo ra khoảng trống quyền lực ở khu vực Biển
Đông, đầu năm 1988, Trung Quốc tiến xuống cắm chốt trên quần đảo Trường Sa, nơi
trước nay họ chưa hiện diện thường xuyên về quân sự. Trong chiến dịch này,
Trung Quốc chọn mỗi vùng một vị trí chiến lược để đổ bộ: đá Chữ Thập ở rìa phía
tây, đá Subi ở mỏm phía bắc, đá Châu Viên ở dải phía nam, và ở cụm trung tâm là
các đá Gaven, Kennan và Gạc Ma. Tại Gạc Ma đã xảy ra đụng độ với Việt Nam sáng ngày 14/3/1988, kết quả Trung Quốc
chiếm được đảo này và Việt Nam
mất ba tàu chiến cùng hơn 70 thủy thủ.
Hai
đại chiến lược, hai thế giới quan
Sự thay đổi đại chiến lược của Liên Xô cộng với tình hình
bản thân của Việt Nam (kinh tế suy sụp, chiến tranh ở Campuchia trở thành gánh
nặng) cũng buộc Việt Nam phải tìm hướng đi mới. Tháng 5/1988, Bộ Chính trị ra
Nghị quyết 13 điều chỉnh chiến lược từ “hợp tác toàn diện với Liên Xô” sang “đa
dạng hóa, đa phương hóa”. Nghị quyết này là tác phẩm của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ
Thạch, thể hiện bước ngoặt quan trọng trong tư duy đối ngoại cũng như đánh dấu
bước chuyển lớn trong chính sách quốc tế của Việt Nam. Giống như Nghị quyết 9 năm
1963, Nghị quyết 13 không được đưa ra công khai, chỉ từ nửa sau thập niên 90
mới được nhắc đến như văn kiện mở màn chính sách đối ngoại “đa dạng hóa, đa
phương hóa” mà Đại hội đảng 7 (1991) đã thông qua. Cơ sở lý luận của Nghị quyết
13 là một viễn tượng thế giới hoàn toàn khác với những gì Đảng Cộng sản Việt
Nam vẫn mường tượng từ năm 1948, thậm chí từ 1930. Trong tinh thần “đổi mới tư
duy”, kể cả tư duy đối ngoại, Phan Doãn Nam, cánh tay phải của Nguyễn Cơ Thạch
về lý luận, viết bài “Một vài suy nghĩ về đổi mới tư duy đối ngoại” đăng trên Tạp
chí Cộng sản tháng 2/1988 như một bước chuẩn bị cho Nghị quyết 13. Bài báo
chỉ trích mô hình “hai phe, bốn mâu thuẫn”, nền tảng thế giới quan của chính
sách đối ngoại Việt Nam từ 1948, là giáo điều, không đúng với thực tế. Thay vào
đó, bài báo đề xuất coi thế giới ngày nay đầy dẫy các mâu thuẫn phức tạp với
đặc điểm nổi bật là sự “tùy thuộc lẫn nhau” giữa các quốc gia bất kể chế độ
chính trị-xã hội, một quan điểm vay mượn từ “tư duy mới” của Liên Xô. Theo bài
báo, chính sự tùy thuộc lẫn nhau đã làm thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản
và thay đổi mục tiêu của chủ nghĩa đế quốc. Không nói ra, nhưng tư tưởng này đã
ngầm bác bỏ quan điểm “chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư
bản” của Lênin (chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn phát triển tột cùng của nó sẽ
dẫn đến hình thức tư bản độc quyền, dẫn đến chủ nghĩa đế quốc, là nguồn gốc của
chiến tranh thế giới, cách mạng vô sản là con đường duy nhất bảo vệ hòa bình
thế giới), học thuyết nền tảng cho chính sách đối ngoại của các nước xã hội chủ
nghĩa từ xưa đến nay.
Mặc dù Nghị quyết 13 với đường lối “đa dạng hóa, đa phương
hóa” được thông qua nhưng cơ sở lý luận của nó không được hoàn toàn chấp nhận.
Lý do là trong những vấn đề lý luận có tính nền tảng, lãnh đạo Việt Nam quyết định
trên cơ sở hoàn toàn nhất trí. Chỉ cần “một số đồng chí” không thông thì vẫn
phải gác lại bàn sau (Porter 1990: 13). Kết quả là “tư duy mới” và “tư duy cũ”
cùng nhau tồn tại song song như một kiểu “tam giáo đồng nguyên” (so sánh của Vũ
Quang Việt).
Một lý do nữa cho sự củng cố trở lại của thế giới quan
“hai phe, bốn mâu thuẫn” là ảnh hưởng của các sự kiện ở Đông Âu năm 1989 vào
Việt Nam.
Sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu đã dẫn đến tranh cãi gay gắt trong
giới lãnh đạo Việt Nam.
Một bên, trong đó có Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, khẳng định nguyên nhân chủ
yếu là do “mưu đồ của chủ nghĩa đế quốc hòng tiêu diệt chủ nghĩa xã hội”. Bên
kia, trong đó có Nguyễn Cơ Thạch, cho rằng nguồn gốc sự sụp đổ của chủ nghĩa xã
hội ở Đông Âu là sự quản lý yếu kém và tư tưởng giáo điều gắn với một mô hình
chủ nghĩa xã hội sai lầm. Phát biểu tại Hội nghị trung ương 7 khóa 6 (tháng
8/1989), Nguyễn Văn Linh nói sự bác bỏ quan điểm “hai phe, bốn mâu thuẫn” đã
khiến một số người lầm tưởng rằng chủ nghĩa đế quốc đã thay đổi bản chất. Câu
nói ám chỉ Nguyễn Cơ Thạch và đồng chí. Mâu thuẫn về thế giới quan giữa hai bên
được Nguyễn Văn Linh chốt lại: “Chừng nào chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại, chừng
nào chủ nghĩa xã hội chưa thắng lợi trên phạm vi toàn thế giới, thì chừng đó
học thuyết của chủ nghĩa Lênin vẫn giữ nguyên giá trị của nó” (“Phát biểu của
đồng chí Nguyễn Văn Linh. Bế mạc Hội nghị 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng”,
Tạp chí Cộng sản, 9/1989, tr. 6). Tuy nhiên, không bên nào áp đảo được
bên nào nên tại Hội nghị trung ương 8, tháng 11/1989, giải pháp “hòa cả làng”
được áp dụng. Nghị quyết của Hội nghị một mặt chỉ ra nguyên nhân của sự sụp đổ
chế độ ở Đông Âu là “những sai lầm chủ quan, duy ý chí” của lãnh đạo các nước
đó, mặt khác khẳng định “chủ nghĩa đế quốc đã lợi dụng những khó khăn bên trong
của chủ nghĩa xã hội để thực hiện các mưu đồ chống cộng của chúng”.
Hai năm 1988-89 là thời gian bản lề cho chính sách đối
ngoại của Việt Nam
suốt những năm sau. Thời gian này hình thành thế “hai chân” trong tư duy đối
ngoại của Việt Nam.
Chính sách đối ngoại của Việt Nam
trong thời hậu Chiến tranh Lạnh dựa trên hai đại chiến lược khác nhau. Sở dĩ là
hai mà không phải là một vì chúng mang hai ý đồ khác nhau và dựa trên hai quan
điểm trái ngược nhau về thế giới.
Chiến lược lớn thứ nhất dựa trên thế giới quan Mác-Lê,
nhìn thế giới qua lăng kính “2 phe, 4 mâu thuẫn”, coi mâu thuẫn giữa “chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa đế quốc/tư bản” là mâu thuẫn cơ bản nhất, đấu tranh giai
cấp giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc/tư bản là động lực cơ bản cho
vận động chính trị toàn cầu. Bước vào thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh, sự sụp đổ
của Liên Xô đặt ra cho Việt Nam
một yêu cầu mới. Từ góc nhìn của thế giới quan Mác-Lê, mục tiêu lớn của Việt
Nam được xác định là phải bảo vệ chủ nghĩa xã hội thế giới, Việt Nam phải coi
Trung Quốc là đồng minh chiến lược, Mỹ là kẻ thù chiến lược, phải đặt trọng
điểm an ninh quốc gia vào chống “diễn biến hòa bình”. Chiến lược lớn này lấy
“chống đế quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội” làm mục tiêu lâu dài và cơ bản. (Xem
thêm các chương 9, 10 và 14 trong hồi ký của Trần Quang Cơ (2001/2003) về quan
điểm chiến lược theo hướng này của Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh).
Chiến lược lớn thứ hai dựa trên thế giới quan mới được
hình thành trong thời kỳ “đổi mới tư duy” cuối những năm 80. Thế giới quan này
gồm hai chiều: kinh tế và chính trị. Về kinh tế, nó coi thế giới như một thị
trường thống nhất, liên thuộc vào nhau, vận động theo xu hướng toàn cầu hóa và
khu vực hóa. Các nước muốn sống còn không có cách nào khác là phải tham gia vào
“phân công lao động quốc tế mới”, phải hội nhập vào nền kinh tế thế giới và hội
nhập khu vực. Về chính trị, mâu thuẫn cơ bản được coi là mâu thuẫn giữa các
quốc gia-dân tộc, cục diện thế giới về cơ bản được xem là chịu sự chi phối của
mối tương quan giữa các “nước lớn”. Chiến lược của Việt Nam trong tình hình mới
(các nước lớn hòa hoãn, chuyển sang chạy đua kinh tế, xu thế toàn cầu hóa và
hội nhập khu vực gia tăng) là phải “hội nhập” mạnh mẽ vào thế giới và khu vực,
đặc biệt tranh thủ nguồn lực của các trung tâm tài chính-công nghệ thế giới
(Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu), thực hiện ngoại giao đa phương, tạo thế cân bằng trong
quan hệ với các nước lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc. Trọng điểm an ninh quốc
gia, theo chiến lược lớn thứ hai, là chống “tụt hậu”. Chiến lược lớn này lấy
“phát triển, hiện đại hóa” làm mục tiêu lâu dài và cơ bản. (Xem thêm cuốn sách
của Nguyễn Cơ Thạch (1998) và thư gửi Bộ chính trị của Võ Văn Kiệt (1995) về
quan điểm chiến lược theo hướng này).
Một câu hỏi đặt ra là tại sao ở Trung Quốc các mục tiêu
phát triển, hiện đại hóa, cũng như chống đế quốc (TQ dùng từ “bá quyền”), bảo
vệ chủ nghĩa xã hội cùng nằm trong một đại chiến lược mà ở Việt Nam lại là hai?
Mấu chốt nằm ở chỗ Trung Quốc không chống đế quốc theo định nghĩa của Lênin (đế
quốc đồng nghĩa với tư bản) mà chống bất cứ nước nào có mưu đồ bá quyền trên
thế giới cũng như ở châu Á (Trung Quốc từng gọi Liên Xô là “đế quốc xã hội”),
và Trung Quốc chỉ bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc chứ không bảo vệ chủ
nghĩa xã hội trên thế giới như Việt Nam (lời Đại sứ Trung Quốc nói với Vụ
trưởng Vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 27/7/1990, xem hồi ký Trần
Quang Cơ, tr. 19). Như vậy tuy nhìn bề ngoài thì mục tiêu của Trung Quốc và
Việt Nam
có vẻ không khác nhau là mấy nhưng về nội dung thì khác nhau cơ bản vì dựa trên
hai thế giới quan khác hẳn nhau. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công đã chỉ
ra điều này tại cuộc họp Bộ Chính trị ngày 19/6/1990: “Trung Quốc lấy lợi ích
dân tộc của họ là chính, không phải theo lợi ích chung của chủ nghĩa xã hội. Họ
khác ta. Dù ta có muốn hợp tác họ cũng không chịu đâu. Không nên ảo tưởng”
(Trần Quang Cơ 2003: 43). Điều có vẻ nghịch lý là chiến lược “phát triển, hiện
đại hóa” (không chủ trương liên minh chiến lược với Trung Quốc) dựa trên một
thế giới quan giống với của Trung Quốc, trong khi chiến lược “chống đế quốc,
bảo vệ chủ nghĩa xã hội” (chủ trương liên minh chiến lược với Trung Quốc) lại
có một thế giới quan khác hẳn của Trung Quốc.
Trong những năm 90, một sự “phân công lao động” giữa hai
chiến lược lớn đối ngoại đã được dàn xếp. Sự phân công này thể hiện rõ trong cơ
cấu và cơ chế lãnh đạo sau Đại hội Đảng 7. Chủ tịch nước Lê Đức Anh, đại diện
chiến lược “chống đế quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội”, phụ trách khối ngoại
giao-quốc phòng-an ninh. Thủ tướng Võ Văn Kiệt, đại diện cho chiến lược “phát
triển, hiện đại hóa”, phụ trách mảng kinh tế. Tổng bí thư Đỗ Mười đóng vai trò
dàn xếp giữa hai chiến lược, là người quyết định cuối cùng.
Hai nhà lãnh đạo cao cấp thúc đẩy đường lối “phát triển”
và đại diện cho thế giới quan và quan điểm chiến lược này là Nguyễn Cơ Thạch
(Ngoại trưởng 1980-1991) và Võ Văn Kiệt (Thủ tướng 1991-1996). Những người kiên
quyết giữ vững thế giới quan Mác-Lê và chủ trương đường lối chiến lược tương
ứng là Nguyễn Văn Linh (Tổng bí thư 1986-1991), Lê Đức Anh (Chủ tịch nước
1991-1996), Đào Duy Tùng (Thường trực Ban Bí thư 1991-1996), Nguyễn Đức Bình
(lý thuyết gia trưởng của Đảng 1991-1996), Lê Khả Phiêu (Tổng bí thư
1997-2001). Như vậy, mặc dù chính sách ngoại giao “đa dạng hóa, đa phương hóa”
được các kỳ Đại hội Đảng liên tục khẳng định tính chính thống, quan điểm “hai
phe, bốn mâu thuẫn” vẫn ở thế thượng phong. Thế thượng phong của đại chiến lược
“chống đế quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội” có phần do cú sốc tâm lý bởi các “sự
kiện định hướng” của các năm 1989-90-91. Đó là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở
Đông Âu, các đảng “bạn” mất chính quyền ở hàng loạt nước, sự tan rã của Liên
Xô.
Suy nghĩ thông thường cho rằng các sự kiện này khiến cho
Việt Nam
mất đi nguồn viện trợ lớn, thị trường truyền thống và chỗ dựa chính về ngoại
giao. Thật ra, các sự kiện Đông Âu năm 1989-90 không có mấy ảnh hưởng “khách
quan” lên nền kinh tế Việt Nam mà phần nhiều là ảnh hưởng “chủ quan” lên tâm lý
người lãnh đạo. Số liệu thống kê cho thấy năm 1989, Việt Nam đã bắt đầu
xuất khẩu dầu thô và gạo ở mức độ đáng kể. Năm 1989 xuất khẩu 1,4 triệu tấn
gạo, trong khi chỉ 3 năm trước (1986) lượng gạo xuất khẩu là 0,158 triệu tấn.
Cũng ngay trong năm 1989, giá trị xuất khẩu sang khu vực ngoại tệ chuyển đổi
(các nước tư bản) tăng vọt lên 1,139 tỉ đô la từ con số 350 triệu đô la của năm
1988. Trong khi năm 1988, xuất khẩu sang khu vực ngoại tệ không chuyển đổi (các
nước xã hội chủ nghĩa) còn chiếm 55,6 % tổng giá trị xuất khẩu thì năm 1989,
xuất khẩu sang các nước tư bản đã chiếm 58,5% tổng giá trị xuất khẩu. Năm 1991,
tuy xuất khẩu sang thị trường các nước xã hội chủ nghĩa sụt hẳn xuống còn 80
triệu rúp từ con số 1,1 tỉ rúp của năm trước, nhưng xuất khẩu sang các nước tư
bản cũng tăng mạnh lên gần 1,9 tỉ đô la, khiến tổng giá trị xuất khẩu năm 1991
tuy thấp hơn năm 1990 nhưng vẫn cao hơn năm 1989 (Các số liệu trên theo Tổng cục
Thống kê, Số liệu thống kê Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1986-1991.
Hà Nội: Nxb Thống kê, 1992, tr. 93-94). Do sự chuyển hướng chiến lược trong các
năm 1987-88 cho nên ngay trong thời gian xảy ra các sự biến ở Đông Âu và Liên
Xô (1989-91), Việt Nam đã tạo được xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới và
khu vực, tạo được chỗ bám vào thị trường thế giới. Vốn đầu tư nước ngoài (đăng
ký) tăng từ 371 triệu đô la năm 1988 lên 582 triệu năm 1989, 839 triệu năm 1990
và 1,322 tỉ năm 1991. Xuất khẩu sang các nước tư bản tăng từ 448 triệu đô la
năm 1988 lên 1,138 tỉ năm 1989, 1,352 tỉ năm 1990, và 2,010 tỉ năm 1991. Nhập
khẩu từ các nước tư bản cũng tăng từ 804 triệu đô la năm 1988 lên 879 triệu năm
1989, 1,372 tỉ năm 1990, và 2,049 tỉ năm 1991. Như vậy ngay trong năm 1991, tức
là trước khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam đã thu được ở thị trường các nước tư bản
khoảng 2 tỉ đô la tiền xuất khẩu, gấp đôi số tiền thu được từ bán hàng sang các
nước xã hội chủ nghĩa vào thời điểm đỉnh cao trước đây (1,1 tỉ rúp năm 1990). Mặt
khác, nếu viện trợ kinh tế và vay nợ từ các nước xã hội chủ nghĩa (ước khoảng
1-2 tỉ đô la một năm trong những năm 80) mất đi thì Việt Nam lại được bù đắp
một khoản tương ứng từ đầu tư trực tiếp của nước ngoài cũng như các khoản viện
trợ và cho vay từ các nước tư bản. Năm 1991 Việt Nam nhận được 1,079 tỉ đô la cho
vay và 526 triệu viện trợ từ nước ngoài. Ngoài ra còn có hơn 1,3 tỉ đô la đầu
tư trực tiếp của nước ngoài được cam kết. (Các số liệu trên theo Tổng cục Thống
kê, Niên giám thống kê 1995. Hà Nội: Nxb Thống kê, 1996, tr. 51, 64,
253; các số liệu thống kê chỉ có tính tương đối, lưu ý sự khác nhau giữa TCTK
1992 và TCTK 1996 về giá trị xuất khẩu sang khu vực ngoại tệ chuyển đổi năm
1991). Tóm lại, không thể nói sự tan rã của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa đã
tác hại nặng nề lên nền kinh tế Việt Nam.
Ngược lại, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở một
loạt nước liên tiếp đã gây phản ứng tâm lý mạnh trong đông đảo cán bộ lãnh đạo
Việt Nam.
Sự sụp đổ của khối xã hội chủ nghĩa gây ra hụt hẫng nghiêm trọng trong hình
dung về thế giới của họ. Nhìn thế giới qua lăng kính “2 phe, 4 mâu thuẫn” nhiều
người trong số họ lo sợ rằng sau Đông Âu sẽ đến lượt Việt Nam, cảm nhận mối
nguy hiểm lớn nhất xuất phát từ Mỹ, coi liên minh giữa các chế độ xã hội chủ
nghĩa còn lại là yêu cầu khách quan của tình thế. Yêu cầu chống đế quốc, bảo vệ
chủ nghĩa xã hội đối với họ trở nên cấp bách hơn yêu cầu phát triển, hiện đại
hóa. Hai yêu cầu này tự chúng không mâu thuẫn với nhau. Song đặt trong hoàn
cảnh thực tế, muốn phát triển, hiện đại hóa thì phải cộng tác với các trung tâm
kinh tế và khoa học hiện đều do các nước tư bản phương Tây nắm, yêu cầu chống
đế quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội trở nên mâu thuẫn với yêu cầu phát triển, hiện
đại hóa.
Do người lãnh đạo cao nhất trong thời kỳ 1990-91 nhiệt tâm
theo đuổi mục tiêu đại chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội trong cuộc đấu tranh
toàn cầu với chủ nghĩa tư bản/đế quốc, mặc dù Bộ Chính trị bất đồng về đánh giá
tình hình quốc tế cũng như phương hướng đối ngoại, động cơ đại chiến lược này
đã chi phối Việt Nam trong quá trình “bình thường hóa” quan hệ với Trung Quốc
cũng như trong việc tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia. Tổng bí thư Nguyễn Văn
Linh nói trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 10/4/1990: “Việt Nam và Trung
Quốc là hai nước xã hội chủ nghĩa cùng chống âm mưu đế quốc xóa bỏ chủ nghĩa xã
hội, phải cùng chống đế quốc. Trước hết phải phát triển quan hệ giữa hai nước,
các vấn đề khác giải quyết sau … Một Campuchia thân thiện với Trung Quốc, thân
thiện với Việt Nam là tốt nhất. Trên cơ sở điểm đồng này mà giải quyết vấn đề
Campuchia có lợi cho Campuchia … Không để Liên Hợp Quốc nhúng tay vào vì Liên
Hợp Quốc là Mỹ, Thái Lan là Mỹ” (Trần Quang Cơ 2003: 33).
Cùng một chủ trương bình thường hóa quan hệ với Trung
Quốc, nhưng mỗi đại chiến lược có một động cơ khác nhau. Chiến lược lớn thứ
nhất xuất phát từ động cơ “đoàn kết với Trung Quốc bảo vệ chủ nghĩa xã hội,
chống đế quốc”. Chiến lược lớn thứ hai xuất phát từ động cơ “đa phương hóa quan
hệ, phá thế bị bao vây”. Quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc trong
các năm 1990-91, về lý thì là “thực hiện Nghị quyết 13 Bộ Chính trị” nhưng thực
chất không phải nhằm đa phương hóa, tạo thế cân bằng giữa các nước lớn, như
tinh thần của những người dự thảo Nghị quyết 13, mà động cơ thực sự, như Bộ
trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh giải thích cho lãnh đạo Campuchia về cuộc gặp cấp
cao Việt-Trung ở Thành Đô, là: ”Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xóa cộng
sản. Nó đang xóa ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xóa cộng sản trên toàn thế giới. Rõ
ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này
là Trung Quốc” (Trần Quang Cơ 2003: 51).
Mặc dù Trung Quốc nhiều lần nói thẳng với Việt Nam là họ
không chấp nhận “giải pháp đỏ” ở Campuchia cũng như không thể bắt tay với Việt
Nam theo kiểu hai nước xã hội chủ nghĩa liên minh lại chống Mỹ, và mặc dù trong
Bộ Chính trị cũng đã có nhiều ý kiến rằng đại chiến lược của Trung Quốc là
tranh thủ Mỹ và phương Tây để thực hiện “bốn hiện đại hóa”, do đó không thể
liên minh chiến lược với Việt Nam, song các lãnh đạo cao nhất của Việt Nam vẫn
hy vọng một ngày kia Trung Quốc sẽ “hiểu ra” mà bắt tay với Việt Nam chống Mỹ
(Trần Quang Cơ 2001/2003). Trong cuộc gặp cấp cao Việt-Trung 5-10/11/1991 hoàn
tất việc bình thường hóa quan hệ, Việt Nam lại đề nghị Trung Quốc “đoàn kết bảo
vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc”, song Trung Quốc đã khẳng định hai bên là
“đồng chí, không là đồng minh” (Thayer 1994). Cho đến tận cuối những năm 1990,
Tổng bí thư Lê Khả Phiêu vẫn tiếp tục đề nghị Trung Quốc kết đồng minh bảo vệ
chủ nghĩa xã hội và một lần nữa lại bị bác bỏ (N.S.P., “Thư Hà Nội”, Diễn
Đàn, số 104, tháng 2/2001).
Vậy tại sao vẫn kéo dài tình trạng “lưỡng giáo đồng
nguyên” mà không hợp được hai mục tiêu vào làm một, chẳng hạn như mô hình Trung
Quốc? Có thể do nhiều nguyên nhân tác động rất phức tạp với nhau. Cũng có thể
vì những lý do rất giản dị như thói quen, nếp nghĩ, niềm tin của một số người
rất có thế lực v.v. Bài viết này chỉ nêu một giả thuyết có tính gợi ý. Thứ
nhất, như trên đã phân tích, mục tiêu bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và chống
bá quyền của Trung Quốc khác mục tiêu bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế quốc
của Việt Nam về nội dung nên không thể lấy Trung Quốc làm gương. Mặt khác nếu
hai đại chiến lược khác nhau cả về mục tiêu phấn đấu lẫn thế giới quan làm nền
tảng thì không còn điểm chung nào để có thể hòa vào làm một. Thứ hai, vì cả hai
đại chiến lược của Việt Nam sau Chiến tranh Lạnh đều không tới, đều bất cập,
nhưng mỗi cái cũng lại có điểm mạnh riêng, và điểm mạnh của chiến lược này lại
là điểm yếu của chiến lược kia, cho nên cả hai đứng riêng bổ xung cho nhau thì
dễ mà cái này đồng hóa cái kia thì khó, và cũng chưa tìm ra được cái nào khác
thay thế, cho nên cứ nhùng nhằng “lưỡng giáo đồng nguyên”.
Đại chiến lược chống đế quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội nhấn
mạnh Việt-Trung cùng phe chống Mỹ, cũng như khi xưa, cả hai cùng là “văn minh”
chống lại “man di”, thì nay, cùng “xã hội chủ nghĩa” (hiểu: tiến bộ) chống “tư
bản đế quốc” (hiểu: phản động). Như vậy là hợp với yêu cầu của bài toán chống
đế quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải liên minh với cường quốc xã hội
chủ nghĩa lớn nhất. Nhưng không gặp thời cơ vì muộn nhất là từ 1978, Trung Quốc
đã không còn coi Việt Nam cùng phe, đồng thời luôn đặt yêu cầu hợp tác với Mỹ
lên trên yêu cầu chống Mỹ. Vì thế điểm mấu chốt của chiến lược này không thực
thi được.
Đại chiến lược phát triển, hiện đại hóa nhấn mạnh hội
nhập, hợp tác với phương Tây, giữ thế cân bằng giữa các cường quốc. Như vậy là
hợp với yêu cầu của bài toán phát triển, hiện đại hóa đòi hỏi phải có hòa bình,
phải tranh thủ được các nước phát triển nhất. Nhìn chung, chiến lược này là hợp
thời vì nó phù hợp với xu hướng hội nhập khu vực và việc tạo thế cân bằng giữa
các cường quốc (chủ yếu là giữa Trung Quốc và Mỹ) có thể coi là khả thi trong
điều kiện quan hệ các nước lớn đang ở giai đoạn hòa hoãn. Vậy thì điểm yếu của
chiến lược “hiện đại hóa” và cũng là điểm mạnh của chiến lược “chống đế quốc”
nằm ở đâu? Ở đây thử nêu giả thuyết là chiến lược “bảo vệ chủ nghĩa xã hội” có
thể đáp ứng tốt hơn chiến lược “hiện đại hóa” về hai nhu cầu: hãnh diện và an
toàn.
Chiến lược “hiện đại hóa” nhận Việt Nam là nước
nhỏ, chịu sự chi phối của quan hệ nước lớn, không đóng vai trò gì quan trọng
trên trường quốc tế. Nó đề ra mục tiêu phấn đấu là “hóa rồng” như các nước công
nghiệp hóa ở Đông Á nhưng không nêu cụ thể hơn. Hóa thành rồng gì? Rồng đầu đàn
hay rồng cuối đàn, rồng to hay rồng nhỏ? Nếu chỉ hóa rồng chung chung thì đó
mới chỉ là một nửa mong ước của người Việt Nam. Tâm lý Việt Nam thích “ta
phải nhất”, không thích làm kẻ “thường thường bậc trung”, càng không thích làm
kẻ “vô danh tốt tiểu”. Tuy vẫn quen “luồn lách” nhưng vẫn thích được tiếng là
“mũi nhọn”, “tiền đồn”.
Mặt khác, nếu Việt Nam muốn hóa rồng thì phải chọn
lựa: 1) hoặc là phải bỏ hệ ý thức vô sản để có thể theo mô hình Đông Á, 2) hoặc
vẫn giữ hệ ý thức đó và một mình làm chuyện vô tiền khoáng hậu, 3) hoặc theo
sau Trung Quốc, họ đi đâu mình theo đó. Quá trình đổi mới của Việt Nam đã không
theo lựa chọn 1. Hiện còn quá sớm để kết luận liệu Việt Nam theo hướng
2 hay hướng 3. Vì nếu đi theo Trung Quốc, Việt Nam rồi cũng sẽ phải từ bỏ ý
thức hệ vô sản, phải chấp nhận tư sản, cả trong Hiến pháp lẫn trong Đảng. Có
thể Việt Nam còn đang chờ xem, nếu Trung Quốc thành công thì sẽ làm theo. Dù
thế nào, việc không chọn hướng 1 mà chọn hướng 2 hoặc 3 có nghĩa rằng nhu cầu
an toàn là rất lớn đối với Việt Nam. Thậm chí, trong mắt một số người, hướng
thứ ba còn cho sự an toàn kép: cứ để Trung Quốc nghĩ hộ và làm trước, chờ họ
thành công mình sẽ làm theo, thêm nữa, bắt chước Trung Quốc sẽ làm Trung Quốc
vừa lòng (Điều sau này không hẳn đã đúng). Tuy theo hướng này cũng có rủi ro.
Như Tổng bí thư Lê Khả Phiêu có lần nói: “Nếu Trung Quốc thành công, chúng tôi
sẽ thành công. Nếu Trung Quốc thất bại, chúng tôi sẽ thất bại” (Nayan Chanda,
“Friend of Foe?”, Far Eastern Economic Review, 22/6/2000, tr. 32).
Sau 11/9/2001, thời kỳ chuyển tiếp “hậu Chiến tranh Lạnh”
kết thúc, tất cả các nước lớn đều điều chỉnh lại chiến lược của mình. Hay nói
đúng hơn, thời kỳ nhì nhằng chiến lược sau CTL đã chấm dứt, các nước lớn
đã rõ hơn về đường hướng và mục tiêu đại chiến lược của mình. Liệu Việt Nam có thể đóng
vai trò gì trong mô hình trật tự thế giới mới của Mỹ và Trung Quốc? Đây sẽ là
một câu hỏi quyết định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong tương lai.
Kết
luận
Quan hệ Việt-Trung trong gần 2200 năm lịch sử của nó đã
trải qua nhiều thăng trầm biến đổi. Có lúc Việt Nam
là quận huyện của Trung Quốc mà cũng có lúc Việt Nam lại thuộc về Pháp, lấn lướt
được Trung Hoa. Có lúc Việt Nam
chịu thần phục Trung Quốc nhưng có lúc lại liên minh với Liên Xô để đối đầu lại
Trung Hoa. Mỗi giai đoạn như vậy, trong nội bộ Việt Nam cũng như Trung Quốc đều có các
quan điểm khác nhau. Phía Việt Nam
có phe nhấn mạnh điểm đồng và có phe nhấn mạnh điểm dị. Phía Trung Quốc có phái
coi Việt Nam như kẻ trong
nhưng cũng có phái xem Việt Nam
như người ngoài.
Tuy nhiên, xuyên suốt gần 22 thế kỷ, tương quan vị thế
giữa Việt và Trung vẫn mang một hằng số. Quan hệ Việt-Trung có thể ví như quan
hệ giữa một người và một con chip (micro- processor) gắn vào thân thể người đó:
· không
rời nhau được, nhưng lại
· không
đồng hóa được nhau, nhất là
· không
bao giờ cùng đẳng cấp,
· và
nhiều đặc điểm khác.
Xuyên suốt gần 22 thế kỷ, cái nhìn của Trung Quốc về Việt
Nam giống như cái nhìn của một người về con chip gắn vào thân thể người đó. Cái
nhìn của Việt Nam
về Trung Quốc giống như cái nhìn của con chip về cơ thể mà nó gắn vào.
*
Cornell University, Ithaca, New York, Mỹ. Tác giả cảm ơn hai người thẩm
định của Thời Đại Mới, các anh
Cao Huy Thuần, Ngô Vĩnh Long, Keith Taylor, James Anderson và Vũ Hữu Nghị về
những phê bình, gợi ý và nhận xét quý báu, đặc biệt cảm ơn anh Vũ Quang Việt đã
cung cấp một số tài liệu và ý kiến giá trị cũng như đã khích lệ viết bài này.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
(một
số tác phẩm tiêu biểu về từng đề tài)
Về lịch sử Việt Nam Cổ, Trung
và Cận đại, các quan hệ kinh tế-xã hội và đối ngoại, xem: Lê Thành Khôi, Le
Viêt-Nam: Histoire et civilisation. Paris:
Minuit, 1955; Lê Thành Khôi, Histoire du Viêt Nam: des origines à 1858. Paris: Sudestasie, 1981.
Về lịch sử Việt Nam thời Cổ và
Trung đại, các quan hệ kinh tế-xã hội đặt trong bối cảnh quốc tế, xem: Phan Huy
Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam, Tập 1. Hà
Nội: Nhà xuất bản Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, 1981.
Về quan hệ Việt-Trung thời Bắc
thuộc, sự hình thành ý thức bản ngã Việt từ sự tiếp xúc và cọ sát với các cộng
đồng người láng giềng, xem: Keith W. Taylor, The Birth of Vietnam. Berkeley: University
of California Press,
1983.
Về so sánh hai mô hình chính
trị Việt Nam (thời Nguyễn) và Trung Quốc (thời Thanh), xem: Alexander B.
Woodside, Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese
and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1971.
Về trật tự thế giới kiểu Tàu
và quan niệm cổ truyền của Trung Quốc về trật tự thế giới, xem: John K.
Fairbank (bt.) The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign
Relations. Cambridge, MA:
Harvard University
Press, 1968; Charles P. Fitzgerald, The Chinese View of Their Place in the
World, London: Oxford University
Press, 1964.
Về viễn tượng của Việt Nam về thế
giới, quốc gia và quốc gia trong thế giới qua các thời kỳ, xem: Alexander L.
Vuving, “The References of Vietnamese States and the Mechanisms of World
Formation”, Asien, số 79, tháng 4/2001, tr. 62-86.
Về vận động địa chính trị và
đại chiến lược của Việt Nam
từ cổ xưa đến trước lúc thuộc Pháp, xem: Vũ Hoằng Dương, “Nghĩ vào cuối thế kỷ:
Nước non, non nước …” (2 phần), Cánh Én, số 45 và 47, 1995.
Về đại chiến lược của Việt Nam
trong thời kỳ Trung đại, cũng như thái độ của Việt Nam với Trung Quốc xem: Trần
Quốc Vượng, “Tradition, Acculturation, Renovation: The Evolution Pattern of the
Vietnamese Culture”, trong David G. Marr, A. C. Milner (bt.) Southeast Asia
in the 9th to the 14th Centuries. Singapore: Institute for Southeast
Asian Studies, 1988; Trần Quốc Vượng, “Dân gian và bác học”, in lại trong cùng
tác giả, Trong cõi. Garden
Grove, CA: Trăm Hoa,
1993, tr. 159-195; Trần Quốc Vượng, “Tây Sơn Quang Trung và công cuộc đổi mới
đất Việt ở thế kỷ XVIII”, in lại trong cùng tác giả, Trong cõi. Garden Grove, CA:
Trăm Hoa, 1993, tr. 65-75.
Về thái độ của Việt Nam đối
với Trung Quốc, trong so sánh với Nhật Bản, xem: Vĩnh Sính, “‘Hồn Đại Việt,
giọng Hàn Thuyên’ - vị trí lịch sử của Trung Quốc đối với Việt Nam và Nhật
Bản”, Diễn Đàn, số 26, tháng 1/1994, tr. 28-30.
Về đặc điểm sự giao lưu giữa
Việt Nam với bên ngoài, xem:
Trần Quốc Vượng, “Việt Nam:
100 năm giao thoa văn hóa Đông-Tây”, Đất Mới, bộ 3, số 3&4, 1991,
tr. 32-44.
Về cách ứng xử của Việt Nam
với Liên Xô và Trung Quốc nhằm phục vụ mục tiêu đại chiến lược của mình (thời
kỳ 1956-1969), xem: W. R. Smyser, The Independent Vietnamese: Vietnamese
Communism Between Russia and
China,
1956-1969. Athens, Ohio:
Ohio University
Center for International Studies, Southeast Asia Program, 1980.
Về cuộc xung đột Đông Dương
lần 3 và quan hệ Việt-Trung trong ngũ giác Việt Nam-Trung Quốc-Mỹ-Liên
Xô-Campuchia thời kỳ sau 1975, xem: Nayan Chanda, Brother Enemy. The War
after the War: The History of Indochina since the Fall of Saigon.
San Diego:
Harcourt Brace Jovanovich, 1986.
Về các thế giới quan làm nền
cho chính sách đối ngoại của Việt Nam (Hà Nội) trong thời hiện đại, xem: Eero
Palmujoki, Vietnam and the World: Marxist-Leninist Doctrine and the Changes
in International Relations, 1975-93, London: Macmillan Press, 1997; Gareth
Porter, “The Transformation of Vietnam’s World-view: From Two Camps to
Interdependence,” Contemporary Southeast Asia, bộ 12, số 1, 6/1990, tr.
1-19; Võ Văn Kiệt, “Thư gửi Bộ Chính trị”, 9/8/1995, in lại trong Diễn Đàn,
số 48, 1/1996, tr. 16-23; Nguyễn Cơ Thạch, Thế giới trong 50 năm qua
(1945-1995) và thế giới trong 25 năm tới (1995-2020). Hà Nội: Nxb Chính trị
Quốc gia, 1998.
Về chặng đường ngoại giao Việt
Nam 1975-1991, quan điểm của lãnh đạo và cách xử lý mối quan hệ với Trung Quốc
cũng như vấn đề Campuchia, giai đoạn bản lề 1987-91, xem: Trần Quang Cơ, Hồi
ức và Suy nghĩ, mimeo, gộp hai bản 2001/2003 (hai chương 13 và 14 về cuộc
gặp cấp cao Thành Đô 1990 in lại trên Diễn Đàn, số 134, tháng 11/2003,
chương 1 về quan hệ Việt-Mỹ và thời cơ bỏ lỡ năm 1977 trích đăng trong Diễn
Đàn, số 136, tháng 1/2004); cũng xem thêm về quan hệ Việt-Trung, quá trình
bình thường hóa: Carlyle Thayer, “Sino-Vietnamese Relations: The Interplay of
Ideology and National Interest”, Asian Survey, 6/1994.
©
Thời Đại Mới - Số 2 - tháng 7/2004
Nguồn: http://www.tapchithoidai.org/200402_VHLam.htm