Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài trong trọng tài thương mại quốc tế
Ở Việt Nam, khi bàn tới vấn đề luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế, người ta thường chỉ nhắc tới luật điều chỉnh nội dung tranh chấp và luật điều chỉnh tố t���ng trọng tài mà chưa dành sự quan tâm đáng kể tới luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài. Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài khác với luật điều chỉnh nội dung tranh chấp (từ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài.
Luật này được sử
dụng để điều chỉnh các vấn đề liên quan tới thoả thuận trọng tài như sự giải
thích, tính hợp pháp, hiệu lực, phạm vi, và huỷ bỏ thoả thuận trọng tài[1]. Bài
viết tập trung trả lời cho câu hỏi: Luật nào sẽ giải quyết vấn đề hiệu lực của
thoả thuận trọng tài?
1.
Điều khẳng định trước tiên là, thoả thuận trọng tài phải tuân thủ luật của nước
được áp dụng đối với thoả thuận trọng tài (dù là một điều khoản trong hợp đồng
hay một thoả thuận được lập ngoài hợp đồng vào thời điểm phát sinh tranh chấp)
nếu các bên mong muốn tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài chứ không
phải là một phương pháp khác; hơn nữa là, phán quyết trọng tài cuối cùng sẽ có
hiệu lực và được bảo đảm thi hành. Trên thực tế, hiệu lực của thoả thuận trọng
tài được xem xét trong hai trường hợp sau đây:
Trường
hợp 1: Khi xuất hiện một sự phản đối thẩm quyền của trọng tài được đưa ra trước
hội đồng trọng tài
Đây là
trường hợp một khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài được gửi tới hội đồng
trọng tài khi hội đồng đang trong quá trình giải quyết vụ việc nhưng chưa đưa
ra phán quyết cuối cùng. Khiếu nại về thẩm quyền trọng tài khá đa dạng, đó có
thể là sự viện dẫn về sự không rõ ràng trong lựa chọn toà án hay trọng tài của
thoả thuận trọng tài, hay lựa chọn một tổ chức trọng tài không có trên thực tế
để xét xử tranh chấp v.v.. Để xác định xem trọng tài có thẩm quyền không, lúc
này cần phải căn cứ vào thoả thuận trọng tài. Nhìn chung, trong trường hợp này,
các trọng tài viên đều tôn trọng luật do các bên thoả thuận lựa chọn điều chỉnh
thoả thuận trọng tài để xác định tính hợp pháp của thoả thuận trọng tài. Nếu các
bên đã không có bất kỳ sự thoả thuận chọn luật nào như vậy, thực tiễn trọng tài
thường đi theo các hướng giải quyết khác nhau[2].
Có ba hướng giải quyết chính sau đây:
Thứ
nhất, một số trọng tài viên đã đưa ra phán quyết rằng, nếu thiếu vắng sự
chọn luật của các bên, thoả thuận trọng tài sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước
nơi tiến hành trọng tài (place of arbitration). Nguyên tắc này được thể hiện
trong nhiều phán quyết của toà án trọng tài thuộc Phòng thương mại và công
nghiệp Bungari, nó cũng nhận được sự đồng tình của các trọng tài viên thuộc
Hiệp hội trọng tài Mỹ AAA. Trong vụ Baques Centroamericanos v. Petroleo SA
(1988), Hội đồng đã tuyên rằng: Luật Mỹ sẽ được áp dụng để xem xét hiệu lực của
thoả thuận trọng tài vì trọng tài đã được tiến hành tại New York.
Thứ
hai, một số trọng tài lại có quan điểm khác, theo họ, thoả thuận trọng tài
được điều chỉnh bởi luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp. Phán quyết
5/9/1977 của Hội đồng trọng tài thuộc Hiệp hội buôn bán dầu, chất béo và hạt
chứa dầu Hà Lan ghi rõ: “… luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp cũng được
áp dụng đối với việc xem xét hiệu lực của điều khoản trọng tài.”
Thứ
ba, theo quan điểm khác, một số trọng tài lại tin tưởng vào các quy tắc trọng
tài của tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn để giải quyết tranh chấp. Họ
cho rằng, cần phải dựa vào những quy tắc này để điều chỉnh các vấn đề của thoả
thuận trọng tài. Vụ việc số 5486 năm 1989 do trọng tài ICC giải quyết là một
tranh chấp phát sinh giữa các bên liên doanh: một bên là công ty Bỉ và phía bên
kia là công ty Tây Ban Nha về hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Toà án trọng
tài ICC đã ra phán quyết về luật điều chỉnh điều khoản trọng tài như sau: “Vì
mục đích của tố tụng trọng tài, các bên đã thoả thuận áp dụng các quy tắc trọng
tài ICC… và việc làm như vậy, biến các quy tắc của một tổ chức trọng tài quốc
tế thành nguồn luật điều chỉnh thoả thuận trọng tài… do đó, hiệu lực của điều
khoản trọng tài phải được xác định dựa vào các quy tắc trọng tài ICC.”
Trường
hợp 2: Khi việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài được đặt ra
Vào
giai đoạn này, nguyên tắc thoả thuận trọng tài được điều chỉnh bởi luật do
các bên lựa chọn được sử dụng khá phổ biến trong pháp luật các nước cũng
như các quy tắc tố tụng trọng tài quốc tế. Về nguyên tắc, điều khoản trọng tài
độc lập với phần còn lại của hợp đồng (điều này được thừa nhận rộng rãi trên thế
giới), nên các bên có quyền thoả thuận một luật riêng để điều chỉnh điều khoản
trọng tài mà không phải dựa vào luật điều chỉnh nội dung hợp đồng. Nếu muốn một
luật riêng như vậy, họ cần thoả thuận rõ về việc áp dụng luật đó trong hợp đồng
hoặc một văn bản riêng. Tuy nhiên trên thực tế, hiếm khi các bên thoả thuận áp
dụng luật riêng cho thoả thuận trọng tài mà mặc nhiên sử dụng ngay luật điều
chỉnh nội dung hợp đồng (thường được thoả thuận dưới dạng một điều khoản hợp
đồng).
Trong
trường hợp các bên không có thoả thuận như vậy, nhiều hệ thống pháp luật thừa
nhận nguyên tắc luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên sẽ
thay thế. Nguyên tắc này được tìm thấy gián tiếp qua các quy định về công nhận
và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trong các luật trọng tài trên thế
giới. Khoản 1 điều 54 Luật Trọng tài Thuỵ Điển 1999 quy định: “Phán quyết trọng
tài nước ngoài có thể bị từ chối công nhận và thi hành ở Thuỵ Điển nếu bên bị
chống lại quyền lợi chứng minh được rằng… thoả thuận trọng tài không hợp pháp
theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu họ không đạt được thoả thuận như
vậy, theo luật của nước phán quyết trọng tài được tuyên”. Khoản II điều 38 Luật
Trọng tài Brazil quy định: “… phán quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối
công nhận và thi hành nếu bị đơn chứng minh được rằng thoả thuận trọng tài
không có hiệu lực theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu thiếu điều này,
theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên”. Nội dung tương tự cũng
được ghi nhận tại điều 103(2)(b) Luật Trọng tài Anh 1996: “Công nhận và thi
hành phán quyết trọng tài có thể bị từ chối nếu bị đơn chứng minh được rằng,
thoả thuận trọng tài không hợp pháp theo luật của nước các bên đã chấp thuận
nó, nếu không có điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được
tuyên.”
Hoặc
theo điều 34(2)(a)(i) luật mẫu trọng tài UNCITRAL: “Một quyết định chỉ có thể
bị toà án theo quy định tại Điều 6 huỷ trong trường hợp… thoả thuận nói trên
không có giá trị pháp lý theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo luật
của quốc gia nơi quyết định được tuyên trong trường hợp mà các bên không ghi
rõ”. Nội dung tương tự cũng được thể hiện tại điều V Công ước NewYork 1958 về
công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.
2.
Khi nghiên cứu về luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài cũng cần phân biệt với
luật điều chỉnh năng lực chủ thể các bên ký kết thoả thuận trọng tài
(capacity). Đây là hai vấn đề khác nhau nhưng có mối liên quan mật thiết với
nhau, một thoả thuận trọng tài chỉ có hiệu lực nếu các bên thoả thuận nó có đầy
đủ tư cách chủ thể. Vậy tư cách chủ thể của các bên tham gia thoả thuận trọng
tài được xác định theo cơ sở pháp lý nào?
Trong khi
các bên tham gia trọng tài được thoả thuận về luật điều chỉnh nội dung hợp đồng
và thoả thuận trọng tài thì họ lại không được phép làm như vậy với việc điều
chỉnh năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài. Trên thực tế, việc xác định
năng lực chủ thể ký kết hợp đồng và thoả thuận trọng tài là như nhau và thường
được đặt ra trong hai trường hợp: thứ nhất, khi toà án một nước xem
xét yêu cầu huỷ quyết định trọng tài hay từ chối công nhận, thi hành quyết định
trọng tài; thứ hai, khi trọng tài xem xét thoả thuận trọng tài có hiệu
lực không.
Trong trường
hợp thứ nhất, tại điều V(1)(a) Công ước New
York 1958 quy định: toà án có thể từ chối công nhận
và thi hành quyết định trọng tài nếu theo luật áp dụng đối với các bên, họ
không có đủ năng lực. Một quy định như vậy không chỉ rõ luật nào sẽ được áp
dụng cho vấn đề xác định năng lực chủ thể mà để mở một khả năng áp dụng luật đa
dạng. Tương tự như vậy, Điều 34(2)(a) luật mẫu UNCITRAL quy định: quyết định
trọng tài bị toà án huỷ khi một trong các bên ký thoả thuận trọng tài không đủ năng
lực ký kết thoả thuận trọng tài đó. Cả Công ước NewYork và luật mẫu mặc dù
không chỉ rõ nhưng đều có khuynh hướng dựa vào các quy tắc xung đột của nước có
toà án đang có thẩm quyền giải quyết vụ việc để chọn luật điều chỉnh vấn đề
năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài (conflict of law rules of the
forum)[3].
Đại đa số các nước hiện nay đều sử dụng phương pháp chọn luật này cho năng lực
chủ thể, và do đó, các quy tắc xung đột được ghi nhận trong tư pháp quốc tế của
nước có toà án đang có thẩm quyền giải quyết vụ việc sẽ được áp dụng. Các quy
tắc này thường là: áp dụng luật của nước mà các bên mang quốc tịch hay các bên
cư trú đối với cá nhân, và luật quốc tịch đối với pháp nhân.
Ở trường hợp thứ hai, các trọng tài viên sẽ giải quyết vấn đề năng lực chủ thể
ký kết thoả thuận trọng tài như thế nào? Nhiều quan điểm hiện nay cho rằng, các
trọng tài viên không bắt buộc phải áp dụng các quy tắc xung đột của nơi tiến
hành xét xử, bởi vì họ không phải là “các phương tiện của hệ thống pháp luật
quốc gia như toà án quốc gia”. Điều này không có nghĩa là các trọng tài viên
không quan tâm tới các quy tắc xung đột quốc gia nơi xét xử trọng tài, mà
khuynh hướng chung hiện nay là trọng tài sẽ kết hợp các quy tắc xung đột quốc
gia với các quy tắc xung đột trong các điều ước quốc tế về trọng tài được thừa
nhận rộng rãi trên thế giới để tìm ra một quy tắc xung đột chung cho việc xác định
năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài[4].
Quy tắc chung này thường là luật quốc tịch của các bên (đối với cả cá nhân và
pháp nhân).
Một vấn
đề cần đề cập tới khi xác định năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài là
xác định năng lực chủ thể của quốc gia và các cơ quan nhà nước khi tham gia
trọng tài. Mặc dù xu hướng chấp nhận trọng tài là một phương thức giải quyết
tranh chấp đang ngày một tăng lên trên thế giới, nhưng không phải tất cả các
quốc gia đều ưa chuộng phương thức này để giải quyết các tranh chấp hợp đồng
quốc tế có sự tham gia của nhà nước. Trong khi một số nước không có bất kỳ hạn
chế nào đối với trọng tài trong giải quyết tranh chấp hợp đồng mà quốc gia tham
gia với tư cách chủ thể, thì một số nước khác, vì những nguyên nhân lịch sử hay
sự định kiến với trọng tài đã miễn cưỡng chấp nhận trọng tài theo trào lưu chung
của thế giới. Ở những nước này, việc cấm đoán hay hạn chế quốc gia và các cơ
quan nhà nước tham gia thoả thuận trọng tài được thể hiện khá rõ trong các đạo
luật do nhà nước ban hành. Arập Xê út (Saudi Arabia) là một ví dụ điển hình của
việc cấm đoán triệt để quốc gia hay các cơ quan nhà nước ký kết thoả thuận trọng
tài: Nghị quyết số 58 của Hội đồng Bộ trưởng Arập Xê út 1963 quy định: “Nghiêm
cấm tất cả các cơ quan chính phủ chấp thuận trọng tài với tư cách là một phương
thức giải quyết tranh chấp hợp đồng phát sinh giữa các cơ quan này với các cá nhân
hay các công ty”. Ở Cộng hoà Pháp, có thể tìm ra một sự hạn chế khả năng trọng
tài của quốc gia và cơ quan nhà nước, sự hạn chế này chỉ áp dụng đối với trọng
tài nội địa mà không áp dụng đối với trọng tài quốc tế. Điều này được thể hiện
trong vụ San Carlo (2/5/1966), nguyên đơn là một cơ quan thuộc Chính phủ Pháp
đã kiện ra toà án Pháp chống lại thuyền trưởng của một con tàu chở hàng lớn
trong một hợp đồng vận chuyển quốc tế. Bị đơn sau đó đã yêu cầu toà án từ chối
xét xử vụ việc với lý do các bên đã có một thoả thuận trọng tài. Toà án cấp sơ
thẩm (the court of first instance) đã bác yêu cầu của bị đơn với lý do, theo luật
Pháp, nguyên đơn không có khả năng trọng tài (không được ký thoả thuận trọng
tài). Sau đó, bị đơn đã kháng cáo lên toà án cấp trên, và toà án này đã ra phán
quyết rằng: mặc dù cấm đoán đệ trình tranh chấp tới trọng tài theo điều 83 và
1004 của Bộ luật Tố tụng dân sự là một vấn đề của chính sách nội địa, nhưng
điều này sẽ không áp dụng đối với hợp đồng quốc tế trong đó có sự tham gia của
cơ quan nhà nước. Trong luật Bỉ cũng tìm thấy một sự hạn chế về năng lực chủ
thể của các cơ quan công quyền khi tham gia một thoả thuận trọng tài. Nhà nước
chỉ có thể ký thoả thuận trọng tài khi một điều ước quốc tế có liên quan cho phép
làm như vậy (Điều 1672(2) Bộ luật Tư pháp Bỉ 1972 - Belgian Code Judiciare).
3.
Ở Việt Nam hiện nay, số vụ
tranh chấp có liên quan tới thương mại quốc tế được xét xử bằng trọng tài không
nhiều và tập chung chủ yếu tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) bên
cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Thực tiễn xét xử trọng tài
thương mại quốc tế tại Việt Nam cho thấy, đối với các vấn đề về thoả thuận
trọng tài, các trọng tài viên Việt Nam thường chỉ phải giải quyết sự mập mờ,
không rõ nghĩa trong thoả thuận chọn trọng tài giải quyết tranh chấp, mà hiếm khi
phải xác định luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài vì vấn đề hiệu lực của nó,
đặc biệt là trường hợp các bên tranh chấp không thoả thuận về luật áp dụng cho
thoả thuận trọng tài. Hiện chưa có một phương pháp xác định luật áp dụng cho
thoả thuận trọng tài có tính thống nhất trong xét xử trọng tài thương mại quốc
tế ở Việt Nam.
Có nghĩa là, với mỗi vụ việc, trọng tài sẽ có cách hành xử khác nhau. Điều này
dễ tạo cảm giác tuỳ tiện trong xét xử, và theo chúng tôi là bất lợi trong việc
phát triển thị trường trọng tài Việt Nam trong điều kiện thị trường này đang hết
sức nhỏ bé và chưa nhận được nhiều sự quan tâm của giới kinh doanh trong và
ngoài nước. Về lâu dài, khiếm khuyết này cần được khắc phục, góp phần phát
triển một thị trường trọng tài Việt Nam ngang tầm với các nước trong
khu vực và trên thế giới.
Liên quan
tới việc xác định năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài, điểm a khoản 1
Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 quy định:
“1. Quyết
định của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trong các
trường hợp sau đây: a) Các bên ký kết thoả thuận trọng tài không có năng lực để
ký kết thoả thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;…”
Điều khoản
trên là không rõ ràng, bởi nó không chỉ ra được “pháp luật được áp dụng cho mỗi
bên” là pháp luật nước nào, và thực tế cũng không có bất cứ nguyên tắc cụ thể
nào giúp cho việc chọn luật điều chỉnh năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng
tài được đưa ra trong các văn bản pháp luật hướng dẫn Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sự thiếu vắng của một quy tắc chọn luật như vậy sẽ dẫn tới câu hỏi, toà án Việt
Nam sẽ dựa vào các quy tắc xung đột của tư pháp quốc tế Việt Nam hay của nước
nào đó có liên quan để xác định tư cách pháp lý của các chủ thể tham gia thoả thuận
trọng tài? Câu hỏi này không thể trả lời dứt khoát với thực trạng pháp luật
hiện nay, và rõ ràng, chúng ta cần phải khắc phục lỗ hổng pháp lý đó càng sớm
càng tốt bởi số lượng các phán quyết trọng tài nước ngoài có yêu cầu công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam ngày càng tăng lên trong những năm gần đây do quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta. Học tập kinh
nghiệm của các nước, liệu chúng ta có thể sử dụng nguyên tắc, áp dụng các quy
tắc xung đột của nước có toà án đang có thẩm quyền giải quyết vụ việc để chọn
luật điều chỉnh vấn đề năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài (conflict
of law rules of the forum)?
Tóm lại,
một thoả thuận trọng tài, trong bất kỳ bối cảnh nào, cũng sẽ có hiệu lực nếu
phù hợp với các quy định trong luật được các bên thoả thuận. Tuy nhiên, nếu
không có sự thoả thuận của các bên, thì không có bộ quy tắc nào về chọn luật
điều chỉnh thoả thuận trọng tài được sử dụng chung cho các trọng tài viên. Việc
xem xét luật điều chỉnh hiệu lực của thoả thuận trọng tài phụ thuộc vào từng
giai đoạn tố tụng trọng tài mà sẽ có những quyết định riêng rẽ, chẳng hạn, luật
nơi tiến hành trọng tài, luật nơi phán quyết được tuyên, luật điều chỉnh nội
dung tranh chấp. Vì vậy, để tránh những rắc rối có thể xảy ra trong quá trình
trọng tài, các bên nên dành thời gian để thoả thuận kỹ lưỡng về điều khoản
trọng tài cũng như luật áp dụng đối với nó.
[1]David
St.John Sutton, Judith Gill(2003), Russell on arbitration, Sweet and Maxwell,
p.69.
[2]Okezie
chukwumerije (1994), choice of law in international commercial arbitration,
Quorum Books westport,
conecticut law, p.36.
[3]David
st.John sutton Judith Gill(2003), Russell on arbitration, Sweet and Maxwell,
p.69.
[4]Okezie
chukwumerije (1994), choice of law in international commercial arbitration,
Quorum Books westport,
conecticut law, p.40.
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật:
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------