Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế
(Tài liệu số A/40/17, phụ lục I của Liên Hợp Quốc)
(Được ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế thông qua ngày 21 tháng 06 năm 1985)
Chương I: Những quy định chung
Điều 1: Phạm vi áp dụng [1]
1. Luật này áp dụng cho trọng tài thương mại[2] quốc tế, theo bất kỳ thoả
thuận hiện hành nào giữa quốc gia này với quốc gia khác hoặc các quốc gia.
2. Những qui định của Luật này, trừ các điều 8, 9, 35 và 36 chỉ áp dụng nếu
nơi tiến hành trọng tài là tại lãnh thổ của nước này.
3. Trọng tài là quốc tế nếu:
(a) Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận
trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; hoặc
(b) Một trong những địa điểm mà các bên có trụ sở kinh doanh sau đây được
đặt ở ngoài quốc gia:
(i) Nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thoả thuận
trọng tài;
(ii) Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực
hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất;
(c) Các bên đã thoả thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của thoả thuận trọng tài
liên quan đến nhiều nước.
4. Cũng là trọng tài quốc tế giống như qui định của khoản 3 điều này:
(a) Nếu một bên có nhiều trụ sở kinh doanh thì trụ sở kinh doanh sẽ là nơi
có quan hệ chặt chẽ nhất với thoả thuận trọng tài.
(b) Nếu một bên không có trụ sở kinh doanh thì nơi cư trú thường xuyên sẽ
được dẫn chiếu tới.
5. Luật này không ảnh hưởng đến luật khác của nước này với một số loại tranh
chấp không thể giải quyết bằng trọng tài hoặc có thể đưa ra trọng tài theo
những qui định khác với qui định của luật này.
Điều 2: Các định nghĩa và những nguyên tắc giải thích
Về mục đích của luật này:
(a) “ Trọng tài” nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám
sát của một tổ chức trọng tài thường trực;
(b) “Hội đồng trọng tài” nghĩa là trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng các
trọng tài viên;
(c) “ Toà án” nghĩa là tổ chức hoặc cơ quan thuộc hệ thống tư pháp của một
nước;
(d) Khi qui định của luật này, trừ điều 28, để các bên tự do quyết định một vấn
đề nhất định, sự tự do này bao gồm cả quyền của các bên được ủy quyền cho bên
thứ ba, kể cả tổ chức, để đưa ra quyết định đó;
(e) Nếu qui định của luật này dẫn chiếu đến việc các bên đã thoả thuận hoặc
các bên có thể thoả thuận hoặc theo bất kỳ cách nào khác dẫn chiếu đến thoả
thuận trọng tài, thoả thuận đó bao gồm cả qui tắc trọng tài được viện dẫn tới
trong thoả thuận này;
(f) Nếu qui định của luật này, trừ qui định trong điều 25 (a) và điều 32 (2)
(a) dẫn chiếu đến một đơn kiện, cũng sẽ được áp dụng cho đơn kiện lại, và nếu
qui định của luật này dẫn chiếu đến bản bào chữa cũng áp dụng cho bản tự bảo vệ
đối với đơn kiện lại.
Điều 3: Biên nhận các giao dịch bằng văn bản:
1. Nếu các bên không có thoả thuận nào khác:
(a) Bất cứ giao dịch nào bằng văn bản sẽ được coi là đã nhận được nếu nó
được chuyển riêng tới người nhận hoặc nếu được gửi đến trụ sở kinh doanh, nơi
thường trú hoặc địa chỉ gửi thư của người đó mà các địa chỉ trên không thể tìm
thấy sau những nỗ lực hợp lý, các giao dịch bằng văn bản được xem là đã nhận
được nếu nó được gửi đến trụ sở kinh doanh, hoặc địa chỉ bưu điện được biết tới
cuối cùng của người nhận bằng thư bảo đảm hoặc bằng cách thức khác có ghi nhận
về việc chuyển thư đi.
(b) Các giao dịch bằng văn bản sẽ được coi là đã nhận được vào ngày nó được
chuyển tới.
2. Các qui định của điều này không áp dụng cho việc giao dịch trong tố tụng
toà án.
Điều 4: Khước từ quyền phản đối:
Khi một bên biết rằng bất kì điều khoản của Luật này có thể bị các bên làm
tổn hại, hoặc bất kì yêu cầu nào theo thoả thuận trọng tài chưa được tuân thủ
và vẫn tiếp tục tiến hành trọng tài mà không tuyên bố sự phản đối của mình về
những việc không chấp hành đó trong thời hạn cho phép thì sẽ xem như đã từ bỏ
quyền phản đối của mình.
Điều 5: Mở rộng can thiệp của toà án.
Đối với những vấn đề do Luật này điều chỉnh, không có Toà án nào sẽ can
thiệp vào trừ khi những trường hợp được Luật này qui định.
Điều 6: Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác vì một số chức năng nhất
định trong việc hỗ trợ và giám sát trọng tài.
Những chức năng được đề cập tới tại các điều 11(3), 11(4), 13(3), 14, 16(3)
và 34(2) sẽ được thực hiện bởi … (Mỗi quốc gia thông qua luật mẫu này ghi rõ
toà án, các toà án hoặc những cơ quan có thẩm quyền khác thực hiện những chức
năng này trong toà án).
Chương II: Thoả thuận trọng tài
Điều 7: Định nghĩa và hình thức của thoả thuận trọng tài:
1. “Thoả thuận trọng tài” là thoả thuận mà các bên đưa ra trọng tài mọi hoặc
các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan
hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng.
Thoả thuận trọng tài có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng
hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng.
2. Thoả thuận trọng tài phải được lập thành văn bản. Thoả thuận là văn bản
nếu nó nằm trong một văn bản được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư
từ, telex, telegrams hoặc các hình thức trao đổi viễn thông khác mà ghi nhận
thoả thuận đó hoặc qua trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện
sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận. Việc dẫn
chiếu trong hợp đồng tới một văn bản ghi nhận điều khoản trọng tài lập nên thoả
thuận trọng tài với điều kiện hợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó
là một bộ phận của hợp đồng này.
Điều 8: Thoả thuận trọng tài và đơn kiện nội dung tranh chấp trước toà
1. Trước khi việc kiện về vấn đề đối tượng của thỏa thuận được đưa ra, nếu
một bên yêu cầu không muộn hơn thời gian khi nộp bản tường trình đầu tiên của
mình về nội dung tranh chấp, toà án sẽ chuyển các bên cho trọng tài trừ khi toà
án thấy rằng thoả thuận đó là vô hiệu và không có hiệu lực, không tiến hành
được và không có khả năng thực hiện.
2. Nếu việc đi kiện được nêu tại khoản 1 điều này đã đưa ra, tố tụng trọng
tài vẫn có thể được bắt đầu và tiếp tục và quyết định có thể được tuyên trong
khi vấn đề đó sẽ tạm đình chỉ trước toà.
Điều 9: Thoả thuận trọng tài và biện pháp tạm thời của Toà án
Không có gì trái với thoả thuận trọng tài để một bên trước hoặc trong quá
trình tố tụng trọng tài yêu cầu và toà án áp dụng các biện pháp bảo đảm tạm
thời và để toà án ra các biện pháp bảo đảm đó.
Chương III: Thành lập hội đồng trọng
tài
Điều 10: Số lượng trọng tài viên
1. Các bên được tự do quyết định số lượng trọng tài viên.
2. Nếu các bên không quyết định, số lượng trọng tài viên sẽ là 3 người.
Điều 11: Chỉ định trọng tài viên
1. Không ai bị cản trở để thành trọng tài viên vì lý do quốc tịch, nếu các
bên không có thoả thuận nào khác.
2. Các bên có quyền tự do thoả thuận về cách thức chỉ định trọng tài viên
hoặc các trọng tài viên, theo qui định của khoản 4 và 5 điều này.
3. Nếu không có thoả thuận của các bên:
(a) Trong trọng tài với ba trọng tài viên, mỗi bên sẽ chỉ định một trọng tài
viên, và hai trọng tài viên được chỉ định sẽ bầu trọng tài viên thứ ba; nếu một
bên không chỉ định trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được
yêu cầu làm như vậy của phía bên kia hoặc nếu hai trọng tài viên không thoả
thuận được trọng tài viên thứ ba trong vòng 30 ngày kể từ ngày họ được chỉ
định, căn cứ yêu cầu của một bên, toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác
định tại điều 6 sẽ tiến hành chỉ định.
(b) Trong trọng tài viên với một trọng tài viên duy nhất, nếu các bên không
thể thoả thuận chọn trọng tài viên này, căn cứ vào yêu cầu của một bên, toà án
hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác định tại điều 6 sẽ tiến hành chỉ định trọng
tài viên duy nhất này.
4. Khi, theo cách thức chỉ định trọng tài viên được các bên thoả thuận
(a) Một bên không thực hiện như yêu cầu theo cách thức đó, hoặc
(b) Các bên hoặc hai trọng tài viên không thể đạt được sự thoả thuận của
mình theo trình tự đó, hoặc
(c) Bên thứ ba, bao gồm tổ chức, không tiến hành chức năng được ủy thác theo
trình tự đó thì bất cứ bên nào cũng có thể yêu cầu toà án hoặc cơ quan có thẩm
quyền được xác định tại điều 6 tiến hành các biện pháp cần thiết, trừ khi thoả
thuận về cách thức chỉ định trọng tài viên đưa ra giải pháp khác về việc đảm
bảo việc chỉ định này.
(5) Quyết định về vấn đề được ủy thác ở khoản (3) hoặc (4) của điều này cho
toà án hoặc tổ chức có thẩm quyền được xác định tại điều 6 sẽ không phải là đối
tượng để kháng án. Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác, trong việc chỉ định
trọng tài viên, sẽ phải tôn trọng đúng mực về bất kỳ tiêu chuẩn nào được yêu
cầu về trọng tài viên theo thoả thuận của các bên và cân nhắc cần thiết để đảm
bảo việc chỉ định trọng tài viên độc lập và khách quan và, trong trường hợp
trọng tài viên duy nhất hoặc trọng tài viên thứ ba, cũng phải tính đến có nên
chỉ định trọng tài viên có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên hay không.
Điều 12: Cơ sở khước từ
1. Khi một người có khả năng được chỉ định làm trọng tài viên thì người đó
cần phải công khai những hoàn cảnh có thể gây ra những nghi ngờ chính đáng về
tính khách quan hoặc độc lập của mình. Kể từ khi được chỉ định và trong suốt
quá trình tố tụng trọng tài, trọng tài viên sẽ không được trì hoãn thông báo
những hoàn cảnh đã nêu cho các bên biết, trừ khi các bên đã được trọng tài viên
này thông báo rồi.
2. Trọng tài viên có thể bị khước từ chỉ khi có hoàn cảnh đem lại sự nghi
ngờ chính đáng liên quan đến tính khách quan và độc lập của trọng tài viên này
hoặc khi anh ta không có đủ phẩm chất như các bên đã thoả thuận. Một bên chỉ có
thể khước từ trọng tài viên do chính mình chỉ định hoặc trong việc chỉ định
trọng tài viên mà bên đó tham gia, chỉ vì những lý do mà bên đó biết sau khi đã
tiến hành xong việc chỉ định.
Điều 13: Thủ tục khước từ
1. Các bên được tự do thoả thuận thủ tục để khước từ trọng tài viên theo qui
định khoản 3 của điều này.
2. Nếu không có thoả thuận, bên có ý định khước từ trọng tài viên sẽ gửi văn
bản nêu rõ những lý do để khước từ hội đồng trọng tài trong vòng 15 ngày kể từ
ngày nhận thông báo thành lập hội đồng trọng tài hoặc sau khi biết những hoàn
cảnh được nêu tại điều 12(2). Nếu trọng tài viên bị từ chối không rút khỏi hội
đồng trọng tài hoặc bên kia không đồng ý về việc từ chối này, hội đồng trọng
tài sẽ quyết định.
3. Nếu việc từ chối theo thủ tục được các bên thoả thuận hoặc theo thủ tục
được qui định tại khoản 2 điều này không thành công, bên từ chối, trong thời
hạn 30 ngày sau khi nhận được quyết định bác việc từ chối, có thể yêu cầu toà
án hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác định tại điều 6 quyết định về việc từ
chối này, quyết định này không phải là đối tượng để kháng án, trong khi yêu cầu
này bị tạm hoãn, hội đồng trọng tài kể cả trọng tài viên bị từ chối, có thể
tiếp tục tố tụng trọng tài và ra quyết định.
Điều 14: Không thực hiện hoặc không thể tiến hành
1. Nếu một trọng tài viên thực tế không thể thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc
vì lý do nào đó không thực hiện được, nhiệm vụ của trọng tài viên này chấm dứt
nếu trọng tài viên đó rút khỏi hội đồng trọng tài hoặc nếu các bên nhất trí với
việc chấm dứt đó. Ngược lại, nếu còn có bất đồng về cơ sở của việc chấm dứt
này, bất cứ bên nào cũng có thể yêu cầu toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác
được xác định theo điều 6 quyết định về việc chấm dứt nhiệm vụ của trọng tài
viên đó, quyết định này không là đối tượng để kháng án.
2. Nếu, theo điều này hoặc điều 13.2, trọng tài viên rút khỏi vị trí của
mình hoặc bên đồng ý chấm dứt nhiệm vụ của trọng tài viên, điều này không hàm ý
việc chấp nhận giá trị pháp lý của các căn cứ được dẫn chiếu trong điều này và
điều 12.2.
Điều 15: Chỉ định trọng tài viên thay thế
Khi nhiệm vụ của trọng tài viên chấm dứt theo các điều 13 hoặc 14 hoặc vì
những nguyên nhân khác về việc rút khỏi của trọng tài viên đó hoặc do các bên
thoả thuận rút bỏ thẩm quyền của trọng tài viên hoặc trong các trường hợp khác
về việc chấm dứt nhiệm vụ trọng tài viên, trọng tài viên thay thế sẽ được chỉ
định theo những nguyên tắc được áp dụng cho việc chỉ định trọng tài viên bị
thay thế.
Chương IV: Thẩm quyền xét xử của hội
đồng trọng tài
Điều 16: Thẩm quyền của hội đồng trọng tài qui định thẩm quyền xét xử của
mình:
1. hội đồng trọng tài có thể quyết định về thẩm quyền xét xử của chính mình,
kể cả những ý kiến phản đối về sự tồn tại hoặc giá trị pháp lý của thoả thuận
trọng tài. Vì mục đích này, điều khoản trọng tài trở thành bộ phận của hợp đồng
sẽ được coi là thoả thuận độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng. Quyết
định của hội đồng trọng tài về hợp đồng bị vô hiệu không làm cho điều khoản
trọng tài bị vô hiệu theo.
2. Đơn yêu cầu về việc hội đồng trọng tài không có thẩm quyền sẽ phải đưa ra
không muộn hơn với việc nộp bản biện hộ. không thể ngăn cản bên đưa ra đơn yêu
cầu này chỉ vì đã chỉ định trọng tài viên hoặc tham gia việc chỉ định trọng tài
viên. Đơn yêu cầu về việc hội đồng trọng tài vượt quá phạm vi được ủy quyền
phải được đưa ra ngay khi nhận thấy sự kiện được cho là vượt quá thẩm quyền của
hội đồng trọng tài nảy sinh trong quá trình tố tụng trọng tài. Một trong hai
trường hợp này, hội đồng trọng tài có thể chấp nhận đơn yêu cầu sau nếu hội
đồng xét thấy sự trì hoãn này là hợp lý.
3. hội đồng trọng tài có thể quyết định về đơn yêu cầu chỉ ra ở khoản 2 của
điều này như là vấn đề mở đầu hoặc giải quyết tại quyết định về nội dung tranh
chấp. Nếu hội đồng trọng tài giải quyết như là một vấn đề mở đầu là ủy ban có
thẩm quyền xét xử, thì bất kỳ bên nào cũng có thể, trong vòng 30 ngày sau khi
nhận được thông báo về quyết định này, đề nghị toà án được xác định tại điều 6
quyết định vấn đề này, quyết định này không bị kháng án; trong khi yêu cầu đó
đang chờ giải quyết thì hội đồng trọng tài vẫn có thể tiếp tục tiến hành quá
trình tố tụng và đưa ra quyết định.
Điều 17: Thẩm quyền của hội đồng trọng tài ra các biện pháp tạm thời
Trừ khi các bên có thoả thuận khác, hội đồng trọng tài có thể theo yêu cầu
của một bên buộc bất kỳ bên nào phải tiến hành biện pháp bảo vệ tạm thời khi
hội đồng trọng tài thấy cần thiết đối với nội dung tranh chấp. Hội đồng trọng
tài có thể yêu cầu bất kỳ phía nào đưa ra sự bảo đảm thích hợp về biện pháp
trên.
Chương V: Hoạt động tố tụng trọng
tài
Điều 18: Đối xử công bằng với các bên
Các bên phải được đối xử một cách công bằng và mỗi bên phải có cơ hội đầy đủ
để trình bày về vụ kiện.
Điều 19: Xác định các nguyên tắc về tố tụng
1. Theo qui định của luật này, các bên được tự do thoả thuận về tố tụng mà
hội đồng trọng tài phải thực hiện khi tiến hành tố tụng.
2. Nếu không có thoả thuận đó, hội đồng trọng tài có thể, theo qui định của
luật này, tiến hành trọng tài theo cách thức mà hội đồng trọng tài cho là thích
hợp. Quyền trao cho hội đồng trọng tài bao gồm quyền xác định việc thừa nhận,
tính hợp lý, sự xác đáng và trọng lượng của chứng cứ.
Điều 20: Nơi tiến hành trọng tài
1. Các bên được tự do thoả thuận nơi tiến hành trọng tài. Nếu không thoả
thuận, nơi xét xử trọng tài sẽ được hội đồng trọng tài quyết định căn cứ vào
hoàn cảnh của vụ kiện, tính tới sự thuận tiện cho các bên.
2. Dẫu có qui định của khoản 1 của điều này, hội đồng trọng tài có thể, trừ
khi các bên có thoả thuận khác, tổ chức tại địa điểm được xem là thích hợp cho
việc hỏi ý kiến các ủy viên, cho việc mời nhân chứng, chuyên gia hoặc các bên
hoặc việc giám định hàng hoá, tài sản khác hoặc văn bản.
Điều 21: Khởi đầu tố tụng trọng tài
Nếu các bên không có thoả thuận nào khác, tố tụng của hội đồng trọng tài
liên quan đến tranh chấp cụ thể bắt đầu từ ngày đơn kiện gửi tới trọng tài được
bị đơn nhận.
Điều 22: Ngôn ngữ
1. Các bên tự do thoả thuận về ngôn ngữ hoặc các ngôn ngữ được sử dụng trong
tố tụng trọng tài. Nếu không thoả thuận, hội đồng trọng tài sẽ quyết định ngôn
ngữ hoặc các ngôn ngữ được sử dụng trong tố tụng. Thoả thuận này hoặc quyết
định này, trừ khi được xác định rõ trong đó, sẽ áp dụng với văn bản của các
bên, trong phiên xét xử và trong quyết định, quyết định hoặc các hình thức giao
dịch của hội đồng trọng tài.
2. hội đồng trọng tài có thể yêu cầu chứng cứ bằng văn bản phải được gửi kèm
theo bản dịch sang ngôn ngữ hoặc những ngôn ngữ mà các bên đã thoả thuận hoặc
được hội đồng trọng tài quyết định.
Điều 23: Đơn kiện và đơn biện hộ
1. Trong thời gian do các bên thoả thuận hoặc do hội đồng trọng tài quyết
định, nguyên đơn sẽ nêu rõ các sự việc chứng minh cho đơn kiện của mình, những
điểm của tranh chấp, những thiệt hại và những yêu cầu của nguyên đơn, và bị đơn
sẽ trình bày bản tự bào chữa về những điểm cụ thể này, trừ khi các bên có thoả
thuận khác về những điểm cần cho những văn bản này. Các bên có thể nộp bản giải
trình của mình cùng với các chứng từ mà họ cho là có liên quan hoặc có thể bổ
sung việc dẫn chiếu đến những chứng từ hoặc chứng cứ khác mà các bên đưa ra.
2. Nếu các bên không có thoả thuận nào khác, một trong hai bên có thể sửa
đổi hoặc bổ sung đơn kiện hoặc bản tự bào chữa của mình trong quá trình tố tụng
trọng tài, trừ khi hội đồng trọng tài cho rằng điều đó không thích hợp để cho
phép việc sửa đổi đó dẫn đến sự chậm trễ trong quá trình tiến hành việc này.
Điều 24: Xét xử và tố tụng văn bản
1. Nếu các bên có thoả thuận ngược lại, hội đồng trọng tài sẽ quyết định xem
là tiến hành phiên xét xử nói trên để trình bày chứng cứ hay là tranh luận giữa
các bên, hoặc tố tụng này sẽ được tiến hành trên cơ sở xem xét chứng từ hoặc
tài liệu khác. Tuy nhiên, trừ khi các bên đã thoả thuận không một phiên xét xử
nào được tổ chức, hội đồng trọng tài sẽ tổ chức những phiên xét xử vào những
giai đoạn tố tụng thích hợp, nếu nó được một bên yêu cầu.
2. Các bên sẽ được nhận thông báo trước về những phiên xét xử và những cuộc
họp của hội đồng trọng tài vì mục đích giám định hàng hoá, tài sản hoặc chứng
từ.
3. Tất cả các bản giải trình, chứng từ hoặc các thông tin khác được một bên
cung cấp cho hội đồng trọng tài cũng sẽ được gửi cho bên kia. Tương tự với các
báo cáo của các chuyên gia hoặc các chứng cứ về những vấn đề mà hội đồng trọng
tài dựa vào để đưa ra quyết định sẽ phải được thông báo cho các bên biết.
Điều 25: Sự vắng mặt của một bên
Nếu các bên không có thoả thuận nào khác, nếu, không có lý do chính đáng,
a. Nguyên đơn không trao đổi về đơn kiện của mình theo qui định của điều
23(1), hội đồng trọng tài sẽ đình chỉ tố tụng;
b. Bị đơn không gửi bản biện hộ theo qui định điều 23(1), hội đồng trọng tài
sẽ tiếp tục tố tụng mà coi việc không có bản biện hộ như là sự chấp nhận những
lý lẽ của nguyên đơn.
c. Bất kỳ bên nào không có mặt tại phiên xét xử hoặc đưa ra chứng cứ, hội
đồng trọng tài có thể tiếp tục tố tụng và đưa ra quyết định trên cơ sở những
chứng cứ trước đó.
Điều 26: Chuyên gia được hội đồng trọng tài chỉ định
1. Nếu các bên không có thoả thuận nào khác, hội đồng trọng tài
a. Có thể chỉ định một hoặc một số chuyên gia báo cáo cho hội đồng trọng tài
về những vấn đề cụ thể do hội đồng trọng tài quyết định;
b. Có thể yêu cầu một bên cung cấp cho các chuyên gia những thông tin có
liên quan hoặc đưa ra hoặc cho phép chuyên gia vào, bất kỳ các chứng từ liên
quan, hàng hoá hoặc tài sản khác để tiến hành giám định.
2. Trừ khi các bên có thoả thuận khác, nếu một bên có yêu cầu hoặc nếu hội
đồng trọng tài thấy cần thiết sau khi chuyển bản báo cáo bằng miệng hoặc bằng
văn bản, các chuyên gia sẽ tham dự phiên xét xử để các bên có cơ hội nêu các
câu hỏi với chuyên gia và đưa ra những nhân chứng cho chuyên viên để thẩm định
những điểm của vấn đề đó.
Điều 27: Sự giúp đỡ của toà án trong việc thu thập chứng cứ
hội đồng trọng tài hoặc một bên với sự đồng ý của hội đồng trọng tài có thể
yêu cầu toà án có thẩm quyền của nước này trợ giúp thu thập chứng cứ. Toà án có
thể thực hiện yêu cầu đó trong phạm vi thẩm quyền của mình và theo nguyên tắc
về thu thập chứng cứ.
Chương VI: Lập quyết định và chấm
dứt tố tụng
Điều 28: Nguyên tắc áp dụng đối với nội dung tranh chấp:
1. hội đồng trọng tài sẽ quyết định tranh chấp căn cứ vào nguyên tắc của
luật áp dụng cho nội dung tranh chấp mà các bên đã chọn. Bất kì sự chỉ rõ luật
hoặc hệ thống pháp lý của nước được chọn sẽ được giải thích trừ khi qui định
khác như là sự dẫn chiếu một cách trực tiếp tới luật nội dung của quốc gia đó
và không dẫn chiếu đến nguyên tắc xung đột luật của nước này.
2. Nếu các bên không chọn luật, hội đồng trọng tài sẽ áp dụng luật được xác
định bởi các nguyên tắc xung đột luật mà hội đồng trọng tài thấy là thích hợp.
3. hội đồng trọng tài có thể quyết định trên cơ sở lẽ công bằng hoặc tính
hợp lý chi khi các bên đã ủy quyền rõ ràng cho ủy ban được làm như vậy.
4. Trong mọi trường hợp, hội đồng trọng tài sẽ quyết định căn cứ vào các
điều khoản của hợp đồng và cân nhắc tới tập quán thương mại áp dụng cho giao
dịch đó.
Điều 29: Ra quyết định của hội đồng trọng tài
Trong tố tụng trọng tài gồm nhiều trọng tài viên, nếu các bên không có thoả
thuận nào khác, việc quyết định của hội đồng trọng tài theo nguyên tắc đa số
của các thành viên trong hội đồng. Tuy nhiên, vấn đề về tố tụng có thể được
quyết định bởi chủ tịch ủy ban nếu được các bên và các thành viên khác của hội
đồng trọng tài ủy quyền.
Điều 30: Giải quyết
1. Nếu trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên giải quyết được tranh chấp,
hội đồng trọng tài sẽ chấm dứt tố tụng khi các bên có yêu cầu và hội đồng trọng
tài không phản đối, và ghi nhận việc giải quyết này dưới hình thức quyết định
trọng tài về các điều kiện thoả thuận.
2. Quyết định về điều kiện được thoả thuận sẽ được lập theo với qui định tại
điều 31 và sẽ được tuyên như là một quyết định. Quyết định này có vị trí và
hiệu lực tương tự như quyết định về nội dung vụ kiện.
Điều 31: Hình thức và nội dung quyết định
1. Quyết định phải được lập bằng văn bản và phải được trọng tài viên hoặc
các trọng tài viên ký. Trong tố tụng trọng tài gồm nhiều trọng tài viên, chữ ký
của đa số các trọng tài viên trong hội đồng trọng tài là đủ, nếu như có nêu lý
do về những chữ ký khuyết.
2. Trừ khi các bên thoả thuận rằng không nêu lý do hoặc quyết định là quyết
định về các điều khoản được thoả thuận theo điều 30, quyết định phải nêu rõ lý
do làm căn cứ để quyết định.
3. Quyết định này phải nêu rõ ngày và địa điểm lập quyết định như qui định
theo điều 20(1) Quyết định sẽ được xem là được lập tại nơi đó.
4. Sau khi quyết định được lập, một bản được các trọng tài viên ký theo qui
định tại khoản 1 của điều này sẽ được tống đạt cho mỗi bên.
Điều 32: Chấm dứt tố tụng
1. Tố tụng trọng tài sẽ được chấm dứt bởi quyết định chung thẩm hoặc bởi yêu
cầu của hội đồng trọng tài theo qui định tại khoản 2 điều này.
2. hội đồng trọng tài sẽ đưa ra yêu cầu chấm dứt tố tụng trọng tài khi:
a. Nguyên đơn rút đơn kiện, trừ khi bị đơn phản đối việc này và hội đồng
trọng tài công nhận lợi ích chính đáng của bị đơn trong việc có được một giải
pháp cuối cùng về tranh chấp.
b. Các bên đồng ý chấm dứt tố tụng.
c. hội đồng trọng tài thấy rằng việc tiếp tục tố tụng vì bất cứ lý do nào
khác là không cần thiết và không thể được.
3. Trao quyền cho hội đồng trọng tài kết thúc quá trình tố tụng theo qui
định tại các điều 33 và 34(4).
Điều 33: Sửa chữa và giải thích quyết định; quyết định bổ sung
1. Trừ khi các bên thoả thuận một thời hạn khác, trong vòng 30 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định:
a. Một bên có thể yêu cầu hội đồng trọng tài sửa trong quyết định những lỗi
về tính toán, đánh máy hoặc lỗi in hoặc những lỗi tương tự, có thông báo cho
bên kia biết về điều này.
b. Nếu các bên có thoả thuận, một bên có thể yêu cầu hội đồng trọng tài đưa
ra những giải thích về điểm cụ thể hoặc một phần của quyết định, có thông báo
cho bên kia về yêu cầu này.
Nếu hội đồng trọng tài thấy rằng yêu cầu này là chính đáng, hội đồng trọng
tài sẽ tiến hành sửa chữa lại hoặc đưa ra lời giải thích trong vòng 30 ngày kể
từ ngày nhận được yêu cầu. Giải thích này là một bộ phận của quyết định.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập quyết định, hội đồng trọng tài có
thể chủ động sửa những lỗi đánh máy sai được nêu tại khoản 1 điểm a điều này.
3. Nếu các bên không có thoả thuận nào khác, trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định, một bên có thể yêu cầu hội đồng trọng tài ra quyết
định bổ sung những khiếu nại được nêu ra trong quá trình tố tụng nhưng lại
không được nêu trong quyết định và phải thông báo yêu cầu này cho bên kia. Nếu
hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng thì hội đồng trọng tài sẽ
ra quyết định bổ sung trong thời hạn 60 ngày.
4. Nếu cần thiết hội đồng trọng tài sẽ gia hạn việc sửa chữa, giải thích
hoặc ra quyết định bổ sung theo khoản 1 và 3 điều này.
5. Những qui định của điều 31 sẽ chỉ áp dụng về việc sửa chữa hoặc giải
thích trong quyết định hoặc ra quyết định bổ sung.
Chương VII: Yêu cầu toà án bác
quyết định của trọng tài
Điều 34: Đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định của trọng tài là cách thức duy
nhất để yêu cầu toà án bác quyết định của trọng tài.
1. Việc yêu cầu toà án bác quyết định của trọng tài chỉ có thể được tiến
hành thông qua đơn yêu cầu toà án hủy bỏ quyết định phù hợp với quy định tại
các đoạn (2) và (3) của điều này.
2. Một quyết định chỉ có thể bị toà án theo qui định tại điều 6 hủy bỏ trong
trường hợp:
(a) Bên làm đơn yêu cầu đưa ra những bằng chứng khẳng định rằng:
(i) Một trong các bên ký kết thoả thuận trọng tài theo qui định tại điều 7
không đủ năng lực ký kết thoả thuận đó; hoặc thoả thuận nói trên không có giá
trị pháp lý theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo luật của nước nơi
quyết định được tuyên trong trường hợp mà các bên không ghi rõ; hoặc
(ii) Bên phải thi hành quyết định không được thông báo một cách đầy đủ về
việc chỉ định trọng tài viên hoặc tố tụng trọng tài hoặc nói cách khác không
thể thực hiện việc tranh tụng của mình; hoặc
(iii) Quyết định giải quyết tranh chấp không được qui định hoặc không nằm
trong phạm vi các điều khoản của thoả thuận đưa ra trọng tài giải quyết, hoặc
quyết định này bao gồm những quyết định về các vấn đề vượt quá phạm vi của thoả
thuận trọng tài giải quyết với điều kiện là những quyết định về các vấn đề đưa
ra trọng tài giải quyết có thể tách ra khỏi những vấn đề không được đưa ra
trọng tài và chỉ có phần của quyết định chứa đựng các quyết định về vấn đề
không được nêu ra trọng tài giải quyết có thể bị hủy bỏ; hoặc
(iv) Thành phần của hội đồng trọng tài hoặc tố tụng trọng tài không phù hợp
với thoả thuận giữa các bên trừ trường hợp thoả thuận này trái với điều khoản
trong luật này mà các bên không thể vi phạm được, hoặc nếu không có thoả thuận
đó, không phù hợp với luật này; hoặc
(b) Toà án phát hiện rằng:
(i) Theo luật của nước đó, vấn đề nội dung tranh chấp không thể giải quyết
bằng trọng tài được; hoặc
(ii) Quyết định mâu thuẫn với chính sách công của quốc gia đó.
3. Đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định không được lập muộn quá ba tháng kể từ ngày
bên nộp đơn yêu cầu nhận được quyết định hoặc nếu đơn yêu cầu được tiến hành
theo điều 33 thì tính từ ngày mà yêu cầu đó được hội đồng trọng tài giải quyết.
4. Toà án khi được yêu cầu hủy bỏ quyết định, có thể, nếu thấy thích hợp và
theo yêu cầu của một bên, đình chỉ trình tự hủy bỏ quyết định trong một thời
gian do toà án quyết định để hội đồng trọng tài có cơ hội tiếp tục tiến hành tố
tụng trọng tài hoặc tiến hành các hoạt động khác theo ý kiến cuả hội đồng trọng
tài sẽ loại trừ cơ sở để hủy bỏ quyết định.
Chương VIII. Công nhận và thi hành
quyết định
Điều 35: Công nhận và thi hành.
1. Quyết định của trọng tài, bất kể được tuyên ở đâu, sẽ được công nhận có
tính ràng buộc và khi có đơn yêu cầu được lập thành văn bản gửi đến toà án có
thẩm quyền, sẽ được thi hành theo những qui định tại điều này và điều 36.
2. Bên dựa vào quyết định hay yêu cầu thi hành quyết định sẽ cung cấp bản gốc
hay một bản sao của quyết định đã được chứng thực hợp lệ cùng với bản gốc của
thoả thuận trọng tài theo qui định tại điều 7 hoặc một bản sao của thoả thuận
này đã được chứng thực hợp lệ. Nếu quyết định hay thoả thuận trọng tài không
được lập bằng ngôn ngữ chính thức của quốc gia nơi thi hành quyết định, bên yêu
cầu thi hành sẽ phải cung cấp một bản dịch sang ngôn ngữ đó và phải được chứng
thực hợp lệ[3].
Điều 36: Các trường hợp từ chối việc công nhận hoặc thi hành
1. Việc công nhận hay thi hành quyết định trọng tài, bất kể quyết định này
được tuyên ở nước nào, chỉ có thể bị từ chối trong trường hợp:
(a) Theo yêu cầu của bên phải thi hành, nếu bên đó cung cấp được cho toà án
có thẩm quyền nơi công nhận hay thi hành quyết định bằng chứng khẳng định rằng:
i. Bên tham gia thoả thuận trọng tài theo qui định tại điều 7 không đủ năng
lực ký kết thoả thuận đó; hoặc thoả thuận nói trên không có giá trị pháp lý
theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo luật của nước nơi quyết định
được tuyên trong trường hợp không ghi rõ; hoặc
ii. Bên phải thi hành quyết định không được thông báo một cách hợp thức về
việc chỉ định trọng tài viên hoặc về các thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại
trọng tài hoặc ( vì những nguyên nhân chính đáng khác mà) không thể thực hiện
được việc tranh tụng của mình; hoặc
iii. Quyết định được tuyên về một vụ tranh chấp không được qui định hoặc
không nằm trong phạm vi các điều khoản của thoả thuận trọng tài, hoặc quyết
định này chứa đựng những quyết định về các vấn đề vượt quá phạm vi giải quyết
nêu ra trong thoả thuận trọng tài; trong trường hợp có thể tách phần quyết định
về vấn đề đã được yêu cầu giải quyết tại trọng tài với phần không được quyết
định về những vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại trọng tài, thì phần
quyết định có những quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được
công nhận và cho thi hành; hoặc
iv. Thành phần của hội đồng trọng tài hoặc thủ tục giải quyết tranh chấp của
trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trong trường hợp không
có thỏa thuận đó không phù hợp với luật của nước nơi tiến hành xét xử trọng
tài; hoặc
v. Quyết định của trọng tài chưa có hiệu lực ràng buộc với các bên hoặc
quyết định đó bị hủy bỏ hoặc đình chỉ bởi toà án của nước nơi quyết định được
tuyên hoặc theo luật của nước nơi quyết định được lập.
(b) Nếu Toà án thấy rằng:
(i) Theo luật của quốc gia này, nội dung tranh chấp không thể giải quyết qua
thể thức trọng tài; hoặc
(ii) Việc công nhận và cho thi hành quyết định đó sẽ trái với chính sách
công của quốc gia này.
2. Trường hợp đơn yêu cầu hủy bỏ hay đình chỉ thi hành quyết định được gửi
đến toà án theo như qui định tại đoạn (1)(a)(v) của điều khoản này, thì toà án
nơi được yêu cầu công nhận và thi hành quyết định nếu thấy yêu cầu này hợp lệ,
sẽ tạm hoãn quyết định cho thi hành của mình và cũng có thể, trên cơ sở có đơn
yêu cầu của bên đòi công nhận hoặc thi hành quyết định ra lệnh cho bên kia đưa
ra một sự bảo đảm thích hợp.
[1] Tiêu đề của các điều chỉ có mục đích trích dẫn không được sử dụng
vào mục đích giải thích.
[2] Thuật ngữ “thương mại” cần được giải thích theo nghĩa rộng liên quan
đến tất cả các vấn đề phát sinh từ các quan hệ có bản chất thương mại, dù là
quan hệ hợp đồng hoặc không phải là quan hệ hợp đồng. Những quan hệ có bản chất
thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn bởi các giao dịch sau: giao dịch
thương mại để cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân
phối, đại diện hoặc đại lý thương mại; hoa hồng; thuê mua; xây dựng công trình;
tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận
thăm dò hoặc khai thác; liên doanh và các hình thức hợp tác công nghiệp hoặc
kinh doanh khác; vận tải hàng hoá hoặc hành khách bằng đường hàng không; đường
biển, đường sắt hoặc đường bộ.
[3] Các điều kiện được ghi trong đoạn này là nhằm đặt ra các tiêu chí cao
nhất. Vì vạy, ngay cả khi một quốc gia giữ lại các điều kiện phiền hà không thể
trái với sự hài hoà thống nhất trên mà luật Mẫu đưa ra.