Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, Chủ tịch nước công bố theo Lệnh số 15/2005/L/CTN ngày 27 tháng 6 năm 2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2006.
I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (cũ) ban hành năm 1991, có hiệu lực thi
hành từ năm 1992. Qua 13 năm thực hiện, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã
phát huy mặt tích cực, đạt được nhiều kết quả quan trọng: góp phần bảo hộ và
thúc đẩy sản xuất trong nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo đảm
nguồn thu quan trọng trong ngân sách nhà nước; góp phần thực hiện có kết quả
đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, có lợi cho phát triển kinh tế đất
nước.
Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng như trên, nhưng trước yêu cầu hội
nhập kinh tế với khu vực và thế giới, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước, nâng cao khả năng cạnh tranh của
nền kinh tế, đẩy mạnh cải cách hành chính, khuyến khích tối đa xuất khẩu, Luật
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành đã bộc lộ một số điểm còn hạn chế cần
được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.
Một là
, một số quy định trong Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành chưa phù hợp với những nội dung đã cam kết trong
đàm phán quốc tế, cần được sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tính minh bạch, tạo điều
kiện thuận lợi trong đàm phán gia nhập WTO, cụ thể như:
- Quy định về giá tính
thuế nhập khẩu;
- Quy định về thuế suất
và thẩm quyền ban hành biểu thuế;
- Quy định về thuế chống
bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối xử;
- Quy định về khiếu nại
và giải quyết khiếu nại;
- Quy định về ưu đãi
thuế nhập khẩu.
Hai là
, có những quy định trong Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành, qua thực hiện đã phát huy tác dụng tốt, tạo sự
thông thoáng cho doanh nghiệp, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu về quản lý nhà
nước trong chống gian lận thương mại, chống thất thu ngân sách và dễ bị lợi
dụng, như:
- Quy định về thời hạn
nộp thuế;
- Quy định về miễn thuế
nhập khẩu;
- Quy định về điều kiện
xét giảm thuế nhập khẩu.
Ba là
, có những quy định trong Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành chưa phù hợp với quy định cña Luật hải quan và
chưa phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế và
hải quan, như:
- Quy định về thông báo
thuế;
- Quy định về truy thu,
truy hoàn thuế;
- Quy định về thẩm quyền
ban hành biểu thuế và thuế suất;
- Một số cụm từ và việc
sắp xếp thứ tự nội dung quy định trong một số chương, điều của Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp giữa Luật thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu và Luật hải quan; đồng thời phù hợp với các Luật thuế khác mới
ban hành trong thời gian gần đây.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNGLUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
Căn cứ vào Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 theo Quyết
định số 201/2004/QĐ-TTg ngày 6 tháng 12 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ và yêu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới, việc sửa đổi Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu phải đáp ứng mục tiêu, yêu cầu như sau:
Thứ nhất
, thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế theo hướng ổn định, công khai, minh bạch, không phân biệt đối
xử; bảo đảm phù hợp với tiến trình cải cách đồng bộ hệ thống chính sách thuế;
Thứ hai
, khuyến khích phát triển sản xuất và xuất khẩu,
bảo hộ hợp lý, có điều kiện, có chọn lọc phù hợp với tiến trình hội nhập;
Thứ ba
, góp phần ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà
nước;
Thứ tư
, kế thừa những quy định của Luật thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu hiện hành đang phát huy hiệu quả trong thực tế; sửa đổi, bổ sung
những quy định chưa phù hợp với điều kiện hội nhập, chưa đồng bộ với pháp luật
hiện hành và chưa đề cao được vai trò quản lý của Nhà nước trong chống gian lận
thương mại, chống thất thu thuế.
III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
A. BỐ CỤC:
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có 7 chương, 29 điều:
Chương I . Những quy định chung
có 7 điều từ Điều 1 đến Điều 7 quy định
về phạm vi điều chỉnh; đối tượng chịu thuế; đối tượng không chịu thuế; đối
tượng nộp thuế; thuế đối với hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới;
việc áp dụng điều ước quốc tế, giải thích từ ngữ để thống nhất cách hiểu khi áp
dụng Luật.
Chương II. Căn cứ tính thuế và biểu thuế
có 5 điều từ Điều 8 đến Điều 12
quy định căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế và đồng tiền nộp thuế; giá
tính thuế và tỷ giá tính thuế; thuế suất; biện pháp về thuế để tự vệ, chống bán
phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa; thẩm
quyền ban hành biểu thuế, thuế suất.
Chương III. Kê khai thuế, nộp thuế
có 3 điều từ Điều 13 đến Điều 15 quy
định về trách nhiệm của đối tượng nộp thuế, thời điểm tính thuế, thời hạn nộp
thuế.
Chương IV. Miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và truy thu thuế
có 6 điều từ
Điều 16 đến Điều 21 quy định về miễn thuế, xét miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế,
trách nhiệm và thời hạn hoàn thuế, truy thu thuế.
Chương V. Khiếu nại và xử lý vi phạm
có 3 điều từ Điều 22 đến Điều 24
quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, xử lý vi phạm về thuế đối với
đối tượng nộp thuế.
Chương VI. Tổ chức thực hiện
có 3 điều từ Điều 25 đến Điều 27 quy định
về thẩm quyền và trách nhiệm của Chính phủ, trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tài
chính và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trách
nhiệm của cơ quan hải quan trong quản lý nhà nước về công tác thu thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu.
Chương VII. Điều khoản thi hành
có 2 điều là Điều 28, Điều 29 quy định
về hiệu lực thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành Luật này.
B. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
I. Phạm vi điều chỉnh:
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
đối với hàng hóa xuất khẩu, thuế nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam;
hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới và hàng hóa mua bán, trao đổi
khác được coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
II. Đối tượng áp dụng:
Tổ chức, cá nhân có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế
xuất khẩu, nhập khẩu quy định tại Điều 2 của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu là đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
III. Những nội dung sửa đổi cơ bản của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
1.Những nội dung sửa đổi để bảo đảm tính minh bạch, phù hợp với các
nguyên tắc của WTO và các cam kết quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc
đàm phán gia nhập WTO ( Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 22):
1.1. Bổ sung phương pháp tính thuế tuyệt đối (Điều 8):
Ngoài việc áp dụng tính thuế theo tỷ lệ phần trăm (%) theo quy định hiện hành,
Khoản 1 và Khoản 2 Điều 8 của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bổ sung quy
định căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế theo hình thức thuế tuyệt đối.
Theo hình thức tính thuế này thì căn cứ tính thuế là số lượng đơn vị từng mặt
hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan và mức thuế tuyệt
đối quy định trên một đơn vị hàng hóa; trong trường hợp mặt hàng áp dụng thuế
tuyệt đối thì số thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải nộp bằng số lượng đơn vị
từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan nhân với
mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa tại thời điểm tính thuế.
Hình thức tính thuế này được áp dụng đối với một số mặt hàng trong trường hợp
có khả năng gian lận lớn về giá tính thuế.
1.2. Về giá tính thuế ( Điều 9):
Để thực hiện cam kết quốc tế và đảm bảo tính công bằng, minh bạch về xác định
giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu, khoản 2 Điều 9 của Luật quy định về
giá tính thuế như sau: “Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế
phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên theo hợp đồng, phù hợp với cam kết
quốc tế”.
1.3. Về thuế để tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt
đối xử trong nhập khẩu hàng hóa ( Điều 11):
Luật thuÕ xuÊt khÈu, thuÕ nhËp khÈu hiện hành quy định thu thuế bổ sung đối với
các trường hợp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam mà có bán phá giá, có sự trợ cấp
của nước xuất khẩu, có xuất xứ từ nước mà ở nước đó có sự phân biệt đối xử đối
với hàng hoá của Việt Nam. Đây là các công cụ thuế cần thiết để tự vệ, nhằm hạn
chế những tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với sản xuất trong nước. Nhưng do
trong Luật ghi là “thuế bổ sung” nên dễ bị các đối tác nước ngoài cho rằng đây
là khoản thu thêm, không phải là một loại thuế theo đúng quy định của Hiệp định
về thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối xử.
Để đảm bảo phù hợp với các quy định của WTO về tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá
nước ngoài vào Việt Nam, đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương
mại quốc tế, chống bán phá giá và chống trợ cấp và phù hợp với hệ thống pháp
luật hiện hành, sửa đổi cụm từ “thuế bổ sung” thành biện pháp về thuế để tự vệ,
chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng
hóa.
“ Ngoài việc chịu thuế theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này, hàng hóa
nhập khẩu còn phải áp dụng một trong các biện pháp về thuế sau đây:
1. Tăng mức thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu quá mức vào Việt Nam theo
quy định của pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt
Nam;
2. Thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam
theo quy định của pháp luật về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt
Nam;
3. Thuế chống trợ cấp đối với hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam theo
quy định của pháp luật về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam;
4. Thuế chống phân biệt đối xử đối với hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam có
xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ mà ở đó có sự phân biệt đối xử về
thuế nhập khẩu hoặc có biện pháp phân biệt đối xử khác theo quy định của pháp
luật về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế.”
1.4. Về khiếu nại và giải quyết khiếu nại ( Điều 22):
Để phù hợp với quy định của WTO, quyền của đối tượng nộp thuế được lựa chọn
quyền khiếu nại với cơ quan hải quan hoặc tòa hành chính, Luật thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại như sau: “Trong
trường hợp đối tượng nộp thuế không đồng ý với quyết định của cơ quan hải quan
về số tiền thuế, tiền phạt, hình thức xử phạt thì vẫn phải nộp đủ tiền thuế,
tiền phạt, chấp hành hình thức xử phạt, đồng thời có quyền khiếu nại với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo”.
2. Những nội dung sửa đổi nhằm khuyến khích tối đa xuất khẩu, đồng thời
hạn chế những sơ hở dễ bị lợi dụng để trốn thuế, nợ thuế (Điều 15, Điều 16,
Điều 17 và Điều 18):
2.1. Về thời hạn nộp thuế ( Điều 15):
Về thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu về cơ bản tiếp tục giữ như
hiện hành; đối với hàng hóa xuất khẩu nâng thời hạn từ mười lăm ngày lên ba
mươi ngày để khuyến khích xuất khẩu. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy
định cụ thể thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là hàng tiêu dùng;
hàng hóa nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, hàng
hóa kinh doanh theo phương thức tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập. Để được
hưởng thời hạn nộp thuế quy định đối với hàng hóa nhập khẩu là vật tư nguyên
liệu để sản xuất hàng xuất khẩu, hàng hóa kinh doanh theo phương thức tạm nhập,
tái xuất, hoặc tạm xuất, tái nhập, hàng hóa nhập khẩu, Luật còn quy định các
điều kiện ràng buộc, đó là: đối tượng nộp thuế phải có quá trình chấp hành tốt
pháp luật về thuế hoặc phải có bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp. Quy định này
sẽ góp phần khắc phục tình trạng nợ đọng thuế, trốn thuế.
2.2. Về miễn thuế, xét miễn thuế ( Điều 16 và Điều 17):
Quy định hiện hành về miễn thuế, xét miễn thuế nhập khẩu còn có sự phân biệt
giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Trong đó miễn thuế, xét miễn thuế
đối với đầu tư trong nước là kém ưu đãi hơn so với đầu tư nước ngoài, chưa
khuyến khích phát huy nội lực để đẩy mạnh sản xuất. Ngoài những quy định miễn
thuế, xét miễn thuế đã có trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, việc miễn
thuế nhập khẩu còn được quy định trong các Luật và các văn bản pháp quy khác
như Luật Đầu tư nước ngoài; Luật Khuyến khích đầu tư trong nước; Luật Khoa học
và công nghệ; Luật Dầu khí và một số Nghị định của Chính phủ, Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ. Việc quy định như trên đã kịp thời khuyến khích, tạo điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển của một số ngành, lĩnh vực. Nhưng lại dẫn đến
chồng chéo, không rõ ràng và phức tạp, khó theo dõi trong tổ chức thực hiện.
Để đảm bảo sự công bằng và minh bạch về chính sách, không phân biệt đối xử theo
đúng quy định của WTO, Điều 16 và Điều 17 của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu quy định miễn thuế, xét miễn thuế. Nội dung các điều này được quy định
trên cơ sở thống nhất giữa ưu đãi khuyến khích đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài; tập hợp, hệ thống hoá các quy định hiện hành về miễn thuế, xét miễn thuế
đang quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác vào Luật này. Về nguyên
tắc, tập hợp lại các quy định về miễn thuế nhập khẩu là: chọn những quy định
miễn thuế ở mức cao nhất cho từng đối tượng đầu tư nước ngoài và đầu tư trong
nước, để áp dụng chung cho các dự án đầu tư; đồng thời bãi bỏ những quy định
không khả thi, khó có căn cứ để thực hiện.
2.3. Về giảm thuế ( Điều 18):
Để đảm bảo việc xét giảm thuế được chính xác, phù hợp với quy trình thủ tục hải
quan, sửa đổi điều kiện để được xét giảm thuế, đó là:
“Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đang trong quá trình giám sát của cơ quan
hải quan nếu bị hư hỏng hoặc bị mất mát được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
giám định chứng nhận thì được xét giảm thuế.
Mức giảm thuế tương ứng với tỷ lệ tổn thất thực tế của hàng hóa”.
3. Những nội dung sửa đổi nhằm đảm bảo tính thống nhất và phù hợp với
yêu cầu cải cách hành chính về thuế và hải quan ( Điều 2, Điều 3, Điều 7, Điều
12, Điều 13, Điều 19, Điều 20, Điều 23, Điều 25, Điều 26, Điều 27 và Điều 28):
3.1. Về đối tượng chịu thuế (Điều 2)
Để bao quát hết các đối tượng chịu thuế, ngoài các đối tượng theo quy định hiện
hành bổ sung trường hợp “hàng hoá được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi
thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước” vào đối tượng chịu
thuế.
3.2. Về đối tượng không chịu thuế ( Điều 3)
Để bao quát hết các đối tượng không chịu thuế, ngoài các đối tượng theo quy
định hiện hành, bổ sung trường hợp:
- Hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong
khu phi thuế quan; hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan
khác vào đối tượng không chịu thuế;
- Hàng viện trợ không hoàn lại;
- Hàng hoá là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của Nhà nước khi xuất
khẩu.
3.3. Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hoá trao đổi, mua
bán của cư dân biên giới ( Điều 7)
Xuất phát từ thực tế quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới là
quan hệ có tính đặc thù, cần quy định áp dụng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
đối với hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới phù hợp với từng thời
kỳ, góp phần tích cực và thúc đẩy phát triển sản xuất, giao lưu kinh tế, thương
mại của cư dân biên giới nước ta và cư dân biên giới nước ngoài có chung đường
biên giới với Việt Nam, Điều 7 của Luật quy định: Chính phủ quy định việc áp
dụng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa mua bán, trao đổi của cư
dân biên giới phù hợp với từng thời kỳ.
3.4. Về thẩm quyền ban hành mức thuế suất (Điều 12):
Trong hội nhập kinh tế quốc tế, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có vị trí quan
trọng được các đối tác tham gia đàm phán quan tâm hàng đầu và là một trong
những nội dung chính trong đàm phán hội nhập. Đối với sản xuất trong nước, do
còn phụ thuộc nhiều vào nguồn vật tư, nguyên liệu nhập khẩu, nên chịu tác động
lớn của sự biến động giá cả thị trường thế giới. Những quy định của Luật hiện
hành về thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia và thẩm
quyền điều hành thuế suất thuế nhập khẩu qua thực tế thực hiện là rất phù hợp,
đã phát huy tác dụng tích cực đảm bảo cho việc chủ động trong đàm phán hội nhập
kinh tế quốc tế và góp phần bình ổn giá cả thị trường trong nước. Để chủ động
trong việc điều hành và thực hiện cam kết quốc tế, Luật giao thẩm quyền cho Bộ
trưởng Bộ Tài chính quy định áp dụng mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu đối với từng mặt hàng theo thủ tục do Chính phủ quy định, bảo đảm các
nguyên tắc sau:
a) Phù hợp với danh mục nhóm hàng chịu thuế và trong phạm vi khung thuế suất do
Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành;
b) Góp phần bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước và bình ổn thị trường;
c) Bảo hộ sản xuất trong nước có chọn lọc, có điều kiện, có thời hạn phù hợp
với điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.
3.5. Về trách nhiệm của đối tượng nộp thuế ( Điều 13):
Để đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng
thời nâng cao trách nhiệm của đối tượng nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật
về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Điều 13 của Luật quy định trách nhiệm của
đối tượng nộp thuế trong việc kê khai thuế, nộp thuế: “Đối tượng nộp thuế
xuất khẩu, nhập khẩu có trách nhiệm kê khai thuế đầy đủ, chính xác, minh bạch
và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai; nộp tờ khai hải quan
cho cơ quan hải quan, tính thuế và nộp thuế vào ngân sách nhà nước.”
3.6. Về hoàn thuế, trách nhiệm và thời hạn hoàn thuế (Điều 19 và 20):
Để bao quát đầy đủ các trường hợp hoàn thuế và bảo đảm công bằng trong việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế, Luật bổ sung thêm các
trường hợp được hoàn thuế, đó là:
- Hàng hóa xuất khẩu đã nộp thuế xuất khẩu nhưng phải tái nhập;
- Hàng hóa nhập khẩu đã nộp thuế nhập khẩu nhưng phải tái xuất;
- Hàng hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận chuyển của
tổ chức, cá nhân được phép tạm nhập, tái xuất để thực hiện dự án đầu tư, thi
công xây dựng, lắp đặt công trình, phục vụ sản xuất hoặc mục đích khác đã nộp
thuế nhập khẩu;
- Trường hợp có sự nhầm lẫn trong kê khai thuế, tính thuế thì được hoàn trả số
tiền thuế nộp thừa nếu sự nhầm lẫn đó xảy ra trong thời hạn ba trăm sáu mươi
lăm ngày trở về trước, kể từ ngày kiểm tra phát hiện có sự nhầm lẫn.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định rõ thời hạn hoàn thuế: Trong thời
hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ yêu cầu hoàn thuế, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xét hoàn thuế có trách nhiệm hoàn thuế cho đối tượng được hoàn
thuế; trường hợp không có đủ hồ sơ hoặc hồ sơ không đúng theo quy định của pháp
luật để được hoàn thuế thì trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ
sơ yêu cầu hoàn thuế của đối tượng được hoàn thế, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xét hoàn thuế phải có văn bản yêu cầu bổ sung hồ sơ.
Đồng thời, Luật quy định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét
hoàn thuế và đối tượng được hoàn thuế: “...nếu việc chậm hoàn thuế do lỗi của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét hoàn thuế thì ngoài số tiền thuế phải hoàn
còn phải trả tiền lãi kể từ ngày chậm hoàn thuế cho đến ngày được hoàn thuế
theo mức lãi suất vay ngân hàng thương mại tại thời điểm phải hoàn thuế”.
3.7. Về xử lý vi phạm ( Điều 23) :
Để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định cụ thể việc xử lý các đối tượng nộp
thuế có hành vi vi phạm như: nộp chậm tiền thuế, tiền phạt; không thực hiện kê
khai thuế, nộp thuế theo đúng quy định của Luật này; khai man thuế, trốn thuế;
không nộp thuế, nộp phạt theo quyết định xử lý về thuế; có hành vi trốn thuế
với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế mà
còn vi phạm. Cụ thể như sau:
- Nộp chậm tiền thuế, tiền phạt so với ngày cuối cùng trong thời hạn quy định
phải nộp hoặc ngày cuối cùng trong thời hạn được ghi trong quyết định xử lý về
thuế thì ngoài việc phải nộp đủ tiền thuế, tiền phạt, mỗi ngày nộp chậm còn
phải nộp phạt bằng 0,1% (một phần nghìn) số tiền chậm nộp; nếu thời hạn chậm
nộp là quá chín mươi ngày thì bị cưỡng chế thi hành.
- Không thực hiện kê khai thuế, nộp thuế theo đúng quy định của Luật này thì
tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính về thuế.
- Khai man thuế, trốn thuế thì ngoài việc phải nộp đủ tiền thuế theo quy định
của Luật này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm còn bị phạt tiền từ một đến
năm lần số tiền thuế gian lận.
- Không nộp thuế, nộp phạt theo quyết định xử lý về thuế thì bị cưỡng chế thi
hành bằng các biện pháp sau đây:
+ Trích tiền gửi của đối tượng nộp thuế tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác,
Kho bạc Nhà nước để nộp thuế, nộp phạt;
+ Cơ quan hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan được quyền tạm giữ hàng hóa
hoặc kê biên tài sản theo quy định của pháp luật để bảo đảm thu đủ tiền thuế,
tiền phạt còn thiếu. Sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày cơ quan hải quan có
quyết định tạm giữ hàng hóa hoặc quyết định kê biên tài sản mà đối tượng nộp
thuế vẫn chưa nộp đủ tiền thuế, tiền phạt thì cơ quan hải quan được bán đấu giá
hàng hóa, tài sản theo quy định của pháp luật để thu đủ tiền thuế, tiền phạt;
+ Cơ quan hải quan không làm thủ tục nhập khẩu cho chuyến hàng tiếp theo của
đối tượng nộp thuế cho đến khi đối tượng đó nộp đủ tiền thuế, tiền phạt.
- Người nào có hành vi trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi trốn thuế mà còn vi phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của pháp luật.
3.8. Về thẩm quyền và trách nhiệm của Chính phủ và cơ quan nhà nước có
thẩm quyền trong việc tổ chức thực hiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
(Điều 25, Điều 26 và Điều 27):
Để đảm bảo quản lý tập trung, thống nhất, phân công, phân cấp trách nhiệm cụ
thể, rõ ràng trong việc tổ chức thực hiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,
Điều 25 của Luật quy định thẩm quyền và trách nhiệm của Chính phủ; Điều 26 quy
định về trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Điều 27 quy định về trách nhiệm của cơ
quan hải quan trong quản lý nhà nước về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Những nội dung sửa đổi cơ bản của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên đây
đã thể hiện đầy đủ mục tiêu, yêu cầu cải cách hệ thống chính sách thuế theo
Chương trình cải cách thuế từ nay đến năm 2010 và đáp ứng kịp thời yêu cầu cải
cách thể chế để gia nhập WTO của Việt Nam.
IV. VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Để Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được thực hiện tốt trong cuộc sống, trong
thời gian tới Bộ Tài chính sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức
triển khai một số công việc sau đây:
- Xây dựng, trình Chính phủ ban hành và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
hướng dẫn thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, đảm bảo kịp thời và
động bộ với việc hướng dẫn thi hành Luật Hải Quan.
- Tổ chức tuyên truyền, giới thiệu Luật bằng nhiều hình thức (mở lớp tập
huấn, phát hành tài liệu, trên mạng Internet, trên các phương tiện thông tin
đại chúng...) cho các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu; đội ngũ cán bộ, công chức Hải Quan và các tầng lớp nhân dân.
Trên đây là những nội dung sửa đổi cơ bản của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã được Quốc hội thông qua để thay
thế Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành với những nội dung cơ bản đã
nêu trên nhằm:
- Đảm bảo tính minh bạch, thống nhất chính sách ưu đãi đầu tư, góp phần phát
huy nội lực để phát triển sản xuất; các quy định của Luật phù hợp với các cam
kết quốc tế, đặc biệt là các nội dung có liên quan đến quy định của WTO, do vậy
việc ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩusửa đổi sẽ góp phần tạo thuận
lợi cho việc đàm phán gia nhập WTO.
- Thông qua việc quy định điều kiện để áp dụng thời hạn nộp thuế sẽ góp phần
khắc phục tình trạng nợ đọng thuế, trốn thuế.
- Nâng cao tính chủ động của đối tượng nộp thuế trong việc tự kê khai thuế, tự
nộp thuế; tăng cường vai trò quản lý của cơ quan hải quan; đảm bảo bình đẳng
giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan hải quan.
- Các quy định của Luật đảm bảo tính thống nhất với Luật hải quan nhằm góp phần
thúc đẩy cải cách hành chính và hiện đại hóa thủ tục hải quan.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi đã thể hiện đầy đủ mục tiêu, yêu
cầu cải cách hệ thống chính sách thuế theo Chương trình cải cách thuế từ nay
đến năm 2010 và đáp ứng kịp thời yêu cầu cải cách thể chế để gia nhập WTO của
Việt
Nam./.
|
Loại văn bản :
|
Luật
|
|
Lĩnh vực :
|
Tài chính
|
|
Toàn văn luật đã ban hành :
|
Xem chi tiết
|
Theo Luật Việt