Mấy vấn đề cần quan tâm khi sửa đổi, bổ sung Luật Sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam
Luật sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/12/1999, có hiệu lực từ ngày 01/4/2000), là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng đội ngũ sỹ quan quân đội.
Luật sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
thông qua ngày 21/12/1999, có hiệu lực từ ngày 01/4/2000), là cơ sở pháp lý
quan trọng để xây dựng đội ngũ sỹ quan quân đội. Trong quá trình triển khai
luật, Chính phủ và Bộ Quốc phòng đã ban hành hệ thống văn bản cụ thể hóa các
nội dung của luật, được các đơn vị trong toàn quân quán triệt, học tập, thống
nhất nhận thức và tổ chức thực hiện, có bước đi sát với thực tiễn và cơ bản đáp
ứng được yêu cầu xây dựng đội ngũ sỹ quan. Tuy nhiên, sau 8 năm thực hiện, luật
đã bộc lộ một số vấn đề chưa phù hợp, cần được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu
cầu xây dựng đội ngũ sỹ quan quân đội trong tình hình mới.
Hiện nay tình hình thế giới và khu vực diễn
biến hết sức phức tạp và nhanh chóng, tiềm ẩn nhiều nhân tố khó lường. Đất nước
ta đang thực hiện sự nghiệp đổi mới và đã đạt được những thành tựu quan trọng
trên tất cả các lĩnh vực, song cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Các thế
lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, tiến hành
bạo loạn, lật đổ, đẩy mạnh hoạt động chống phá khác trên các địa bàn trọng yếu.
Chúng kích động chủ nghĩa ly khai, gây xung đột tôn giáo, kêu gọi “phi chính
trị hoá quân đội” nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ
nghĩa. Để bảo vệ Đảng và Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân, chúng ta phải
xây dựng tiềm lực quốc phòng, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại. Nhiệm vụ quan trọng trước hết là phải tập trung xây
dựng lực lượng nòng cốt của quân đội, là đội ngũ sỹ quan.
Đất nước đang chuyển nhanh sang thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đã là thành viên của WTO, dưới tác động
của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường lao động
trong nước sôi động, cởi mở hơn, cơ hội việc làm và thu nhập của người lao động
đều khác trước.
Điều đó tác động mạnh đến việc giữ gìn đội
ngũ sỹ quan và thu hút nhân tài phục vụ quân đội. Xây dựng quân đội thời bình,
đội ngũ sỹ quan sẽ ổn định hơn, nhưng phần lớn đội ngũ sỹ quan này vẫn phải
sống xa gia đình, đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, thường
xuyên phải đối phó với những tình huống phức tạp.
Thực tiễn trên đòi hỏi phải có các chính
sách phù hợp để động viên sỹ quan yên tâm, phấn khởi, sẵn sàng nhận mọi nhiệm
vụ đến những nơi khó khăn gian khổ.
Việc sửa đổi bổ sung một số điều của Luật
Sỹ quan năm 1999 có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, Luật Sỹ quan có từ năm 1958,
đã qua 3 lần sửa đổi và bổ sung (1981, 1990, 1999) có kế thừa chọn lọc được
nhiều vấn đề có tính quy luật và kinh nghiệm truyền thống, nên trong lần sửa
đổi này, Bộ Quốc phòng chủ trương chỉ sửa đổi, bổ sung những vấn đề thật cần
thiết, đang có vướng mắc, bức xúc và những vấn đề phát sinh khi thực hiện Luật
Sỹ quan năm 1999, bảo đảm tính hợp pháp và nhất quán với các văn bản pháp luật
hiện hành, đồng thời thể hiện rõ tính đặc thù trong tổ chức xây dựng và thực
hiện nhiệm vụ của đội ngũ sỹ quan quân đội, làm rõ trách nhiệm, quyền lợi và
chính sách đối với sỹ quan trong tình hình mới. Yêu cầu này tập trung vào 5 vấn
đề chính đã thể hiện trong Dự thảo Luật:
Một là, về chức vụ cơ bản của sỹ quan: Dự
thảo Luật đề nghị bổ sung chức vụ Chính ủy, Chính trị viên để thực hiện Nghị
quyết 51-NQ/TƯ của Bộ Chính trị; bổ sung một số chức vụ của Bộ đội biên phòng,
các binh chủng để khẳng định vai trò, vị trí của các lực lượng trên trong Quân
đội nhân dân Việt Nam; đổi tên Tỉnh đội trưởng thành Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy
quân sự tỉnh, Huyện đội trưởng thành Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện
cho phù hợp với thực tiễn, đảm bảo sự nhất quán với quy định của Chính phủ về
khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố. Khi có chiến tranh thì Chỉ huy trưởng Bộ chỉ
huy quân sự tỉnh (hay huyện) là người chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang
trên địa bàn. Dự thảo luật cũng làm rõ thẩm quyền quy định các chức vụ tương
đương với Tư lệnh Quân khu trở lên do Thủ tướng Chính phủ quy định, chức vụ
tương đương Tư lệnh Quân đoàn trở xuống và các chức vụ còn lại do Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng quy định, vì toàn quân có hàng nghìn chức danh và chức vụ, được quy
định thành 14 nhóm chức vụ chuẩn để xác định các chức vụ tương đương, vì vậy
luật không thể quy định hết các chức vụ tương đương, mà phải quy định tại các
văn bản dưới luật, theo thẩm quyền.
Hai là, về tuổi phục vụ tại ngũ của sỹ
quan: Có nhiều ý kiến về việc xác định độ tuổi của sỹ quan như giữ nguyên độ
tuổi quy định trong Luật hiện nay; nâng tuổi lên như đối với Luật Công an nhân
dân... Nhưng do tính chất đặc thù của quân đội, Ban soạn thảo đã lựa chọn
phương án đề nghị hạn tuổi cao nhất của sỹ quan phục vụ tại ngũ theo cấp bậc
quân hàm, nâng đều 2 tuổi từ cấp úy đến cấp đại tá để giảm bớt đối tượng phải
kéo dài công tác phục vụ quân đội hàng năm, tiết kiệm nhân lực trong đào tạo,
sử dụng, phát huy được kinh nghiệm và cũng phù hợp với thực tiễn; giảm được sự
cách biệt so với độ tuổi của công an nhân dân và giữ được tính đặc thù của lao
động quân sự. Tuy nhiên, nâng độ tuổi phục vụ tại ngũ theo cấp bậc quân hàm cho
đội ngũ sỹ quan sẽ làm gia tăng “sự ùn tắc” và “già hoá” đội ngũ sỹ quan, nhất
là ở các đơn vị chiến đấu của quân đội từ quân đoàn trở xuống. Vì vậy, giải
pháp kèm theo là phải quy định tuổi phục vụ theo chức vụ chỉ huy đơn vị và có
chính sách ứng xử phù hợp với sỹ quan khi đã hết tuổi theo chức vụ, nhưng còn
tuổi theo cấp bậc mà không điều được về cơ quan quân sự địa phương hoặc nhà
trường. Tách tuổi của sỹ quan dự bị về quy định tại một Điều riêng, để tránh
việc sỹ quan hiểu nhầm khi hết tuổi phục vụ tại ngũ vẫn được kéo dài sang tuổi
dự bị; bổ sung quy định tuổi của nữ sỹ quan cho phù hợp với Luật Lao động.
Khi quân đội có nhu cầu, các sỹ quan có đủ
phẩm chất, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe tốt và tự nguyện thì sẽ được
kéo dài hạn tuổi phục vụ tại ngũ không quá 5 năm; trường hợp đặc biệt có thể
cao hơn.
Ba là, về cấp bậc quân hàm của sỹ quan:
Điều chỉnh nâng trần quân hàm của 3 chức vụ: tiểu đoàn trưởng, chính trị viên
tiểu đoàn lên trung tá; trung đoàn trưởng, chính ủy trung đoàn lên thượng tá;
lữ đoàn trưởng, chính uỷ lữ đoàn lên đại tá. Từng bước cân đối giữa cấp bậc và
chức vụ, phù hợp với thực tiễn và đáp ứng tâm tư nguyện vọng của số đông sỹ
quan. Việc nâng bậc quân hàm cao nhất của 3 chức vụ cơ bản trên không làm thay
đổi đến tổng số sỹ quan cấp tá và cơ cấu đội ngũ sỹ quan cấp úy, cấp tá, cấp
tướng; đồng thời sửa đổi khoản 3 Điều 15 của Luật cho rõ hơn về thẩm quyền quy
định địa bàn trọng yếu, đơn vị có nhiệm vụ đặc biệt; bổ sung thêm điều kiện có
quá trình cống hiến xuất sắc thì được thăng quân hàm cao hơn một bậc so với cấp
bậc quân hàm cao nhất, để phù hợp với tình hình thực tiễn và có tính chặt chẽ,
hợp lý hơn.
Bốn là, về chính sách đối với sỹ quan: Ngày
31/01/1987, Bộ Chính trị có Nghị quyết 02/ NQ-TW xác định quân đội là ngành lao
động đặc biệt làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Quy định như vậy là để phân biệt với
các ngành lao động khác trong xã hội và quy định này phải được thể hiện trong
Luật để có căn cứ pháp lý. Trong Đề án Cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm
xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2008-2012 của Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa X đã được Hội nghị Trung ương lần thứ 6 thông qua cũng xác
định: “Lực lượng vũ trang (Quân đội, Công an) là những ngành lao động đặc biệt,
theo luật định có cơ chế, chính sách riêng (khác với công chức hành chính) về
đào tạo, sử dụng, tuyển dụng, điều động, luân chuyển, thời giờ làm việc...”. Vì
thế, Dự thảo Luật đề nghị bổ sung chính sách cho sỹ quan nghỉ chế độ bệnh binh,
sỹ quan tại ngũ từ trần, chế độ nâng lương cho sỹ quan cấp tướng, các chế độ
phụ cấp, trợ cấp đặc thù.
Năm là, về sỹ quan dự bị: Dự thảo Luật bổ
sung làm rõ thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh, huyện trong việc gọi đào tạo sỹ quan dự bị, gọi sỹ quan dự bị vào
phục vụ tại ngũ, huấn luyện, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng động viên
trong thời bình và thời chiến. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đối với sỹ
quan dự bị giữ chức sư đoàn và cấp đại tá, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan
chuẩn bị xuất ngũ, sinh viên khi tốt nghiệp đại học; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh quyết định đối với sỹ quan dự bị giữ chức trung đoàn cấp thượng tá;
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định đối với sỹ quan dự bị giữ chức
tiểu đoàn, cấp trung tá trở xuống và những người tốt nghiệp đại học trở lên, hạ
sỹ quan dự bị cư trú tại địa phương.
Trên đây là một số nội dung chính trong dự
thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sỹ quan Quân đội nhân dân Việt
Nam đã được Ban soạn thảo nghiên cứu, chuẩn bị và lấy ý kiến tham gia rộng rãi
từ đội ngũ sỹ quan ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân; các cơ quan chức năng
trong và ngoài quân đội. Những ý kiến tham gia đã được nghiên cứu, tiếp thu,
hoàn chỉnh dự án để chuẩn bị trình Quốc hội khoá XII. Song song với việc sửa
đổi, bổ sung luật, các cơ quan đã tích cực chuẩn bị những văn bản dự thảo thi
hành và hướng dẫn thực hiện luật, nhằm cụ thể hoá các nội dung để khi triển
khai, Luật sớm đi vào cuộc sống.
Chúng tôi tin tưởng rằng Luật Sỹ quan Quân
đội nhân dân Việt Nam sửa đổi, bổ sung lần này sẽ được Quốc hội thông qua, tiếp
tục tạo ra một bước tiến mới trong công tác xây dựng đội ngũ sỹ quan Quân đội
nhân dân Việt Nam góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao