Mấy vấn đề về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay
Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải sự kết hợp, hòa trộn, thống nhất biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, giữa kinh tế và chính trị là nét độc đáo riêng của Việt Nam. Từ thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới trong lĩnh vực này, tác giả đã đưa ra những yêu cầu mới và một số vấn đề cần quan tâm trong đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong giai đoạn tới đây của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được chính thức bắt đầu
từ 1986 với khâu đột phá là đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế.
Không thể nói một cách đơn giản rằng, ở Việt Nam, đổi mới kinh tế trước
đổi mới chính trị sau. Trên thực tế, hai quá trình đó không tách rời
nhau. Nhưng, rõ ràng là, Việt Nam đổi mới tư duy kinh tế trước, đổi mới
tư duy chính trị sau theo nghĩa đổi mới chính trị ngay từ đầu đã không
phải là trọng tâm và chủ yếu. Đổi mới tư duy, đổi mới các quan điểm,
quan niệm về phương thức phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam,
dù trước hết trong kinh tế thì cũng đã là đổi mới chính trị. Đổi mới
các quan điểm chính trị chính là bước khởi đầu cho đổi mới trong kinh tế
và trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Nếu xét từ góc độ đó thì đổi mới ở Việt Nam lại không
phải bắt đầu từ đổi mới kinh tế, mà đúng ra là bắt đầu từ đổi mới quan
điểm, đường lối về cách thức phát triển kinh tế của Đảng, nghĩa là bắt
đầu từ đổi mới các quan điểm chính trị trong lĩnh vực kinh tế. Dĩ nhiên,
đổi mới chính trị ở đây chưa phải là đổi mới đồng bộ, toàn diện, tất cả
các yếu tố, bộ phận của chính trị nói chung. Nhưng, rõ ràng là, không
có đổi mới quan điểm về cách thức phát triển đất nước thì không thể có
những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội trong đổi mới vừa qua. Nếu
nhìn cả vào những tìm tòi, thử nghiệm trước Đại hội Đảng lần thứ VI thì
rõ ràng là việc đổi mới quan điểm chính trị về phương thức phát triển
kinh tế đã được bắt đầu sớm hơn nhiều so với mốc thời gian của Đại hội
VI(1).
Trong quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở
Việt Nam khó có thể nói đổi mới kinh tế trước hay đổi mới chính trị
trước. Nếu xét từng yếu tố riêng lẻ thì có thể kết luận là đổi mới kinh
tế hoặc đổi mới chính trị trước. Nhưng, nếu xét tổng thể, toàn diện thì
các kết luận như vậy là thiếu căn cứ. Sự kết hợp, hoà trộn giữa đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị, sự thống nhất biện chứng giữa kinh tế và
chính trị, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là nét độc đáo
riêng của Việt Nam, khác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu trước đây.
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã tiến hành được
hơn 20 năm. Những thành tựu to lớn của đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng
không chỉ với hôm nay, mà cả với ngày mai. Đời sống xã hội đang thay
đổi khá nhanh chóng trên trên tất cả các phương diện và các lĩnh vực
khác nhau. Nhưng, nhìn chung, công cuộc đổi mới đang như một công trường
xây dựng chưa hoàn thành, còn ngổn ngang công việc. Có những việc đã
làm xong, nhiều việc đang làm dở, nhiều việc khác cần phải làm nhưng lại
chưa làm được. Nếu đặt đổi mới trong tổng thể quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước thì những việc đã, đang và sẽ phải làm, có
thể được đánh giá ở tầm chiến lược một cách đầy đủ, toàn diện hơn. Tính
bề bộn, dang dở, trình tự các việc phải làm và tầm cỡ của mỗi việc cần
phải được nhìn nhận lại một cách đầy đủ, khách quan, khoa học hơn. Từ
đó, mới có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm thực sự bổ ích và
thiết thực hơn, giúp cho sự phát triển bền vững nhanh hơn, mạnh hơn
trong thời gian tới.
Hiện nay, công cuộc đổi mới quan điểm chính trị về
kinh tế và đổi mới kinh tế nói chung đang thực sự bước vào một giai đoạn
mới. Những yêu cầu về đổi mới quan điểm phát triển kinh tế và đổi mới
kinh tế đang đòi hỏi phải có những đột phá mới. Mặc dầu những tư tưởng,
quan điểm được Đại hội VI và các Đại hội tiếp theo của Đảng nêu ra có
tính chất bước ngoặt, phá vỡ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, xóa bỏ bao
cấp, bước đầu chấp nhận kinh tế thị trường và sở hữu cá thể, nhưng tính
chất đồng bộ, toàn diện và triệt để của những quan điểm mới vẫn còn bị
hạn chế. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị hiện nay sẽ không còn đầy
đủ và triệt để, sẽ không đồng bộ và toàn diện, nếu chỉ dừng lại ở việc
đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các khu vực kinh tế, xoá bỏ bao cấp và
thay thế cơ chế kế hoạch hoá tập trung, mệnh lệnh, bao cấp bằng cơ chế
kinh tế thị trường chưa phát triển đầy đủ và đồng bộ. Thực tiễn đời sống
xã hội đang đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong các lĩnh vực,
như phân phối, quản lý và điều hành nền sản xuất, xã hội. Đòi hỏi này
được thể hiện bằng hàng loạt những vấn đề đang được đặt ra một cách cấp
thiết trên bình diện xã hội: cải cách chế độ tiền lương, thực hiện công
bằng xã hội, đổi mới phương thức quản lý đời sống kinh tế, xã hội (quản
lý hộ khẩu, thuế thu nhập cá nhân, bất động sản, lao động,v.v.).
Mặt khác, sự phát triển kinh tế trong hơn hai thập kỷ
đổi mới vừa qua cũng đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trên lĩnh vực
chính trị, trong đó có cả những lĩnh vực, những vấn đề mà, từ trước đến
nay, hầu như chưa động chạm đến nhiều. Thực tiễn đời sống xã hội đang bức xúc về những vấn đề, như cải cách hành chính, dân chủ hoá, tổ chức lại bộ máy chính phủ và hệ thống chính quyền các cấp, đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và
quan hệ Đảng – Nhà nước – các đoàn thể chính trị, xã hội, v.v.. Tính
bức xúc đòi hỏi phải đổi mới hệ thống chính trị xuất phát trước hết từ
nhu cầu phát triển và đổi mới kinh tế đã diễn ra trong hơn 20 năm qua
tích tụ lại. Sự bất cập, thiếu đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị đã gây ảnh hưởng kìm hãm sự phát triển và đổi mới tiếp tục
tiến xa hơn nữa.
Trên một góc độ khác, mối quan hệ giữa đổi mới kinh
tế và đổi mới chính trị, như đã nói, lại có quan hệ gắn bó với nhu cầu
nội tại của sự phát triển tiếp theo của đất nước. Thực tiễn đổi mới kinh
tế đang đòi hỏi đổi mới chính trị phải nới lỏng hơn nữa, phải tháo gỡ
những trói buộc của các quan điểm chính trị, các chính sách, thiết chế,
cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy… Nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị,
các tư tưởng, quan điểm, tâm lý chính trị, những thiết chế và cơ chế
hoạt động của các tổ chức chính trị, đặc biệt là của bộ máy nhà nước, để
mở đường cho kinh tế và xã hội phát triển bền vững luôn là một nhu cầu
khách quan xuất phát từ sự phát triển xã hội.
Đòi hỏi đổi mới chính trị hiện nay được tích tụ nhiều
năm trong quá trình đổi mới được thể hiện ở nhiều vấn đề, trong nhiều
lĩnh vực và với các mức độ, quy mô khác nhau. Nhưng, tựu trung lại, dưới
dạng tổng quát, cô đọng và tập trung nhất là đổi mới nhận thức về chủ
nghĩa xã hội và những đặc điểm của thời đại ngày nay. Mọi sự ràng buộc,
lệ thuộc, thậm chí có thể nói, tình trạng nô lệ cho những quan điểm và
thể chế cũ đang là xiềng xích trói buộc đổi mới chính trị và kìm hãm đổi
mới kinh tế ở Việt Nam. Nhìn lại cuộc thảo luận vấn đề đảng viên làm
kinh tế tư nhân ngay trước Đại hội X của Đảng vừa qua, chúng ta có thể
thấy rõ tình trạng này. Hàng loạt vấn đề khác được thảo luận sôi nổi
thời gian qua, như quản lý hộ khẩu, các thủ tục hải quan, thuế thu nhập
cá nhân, quản lý bất động sản, cải cách thủ tục hành chính, tổ chức lại
bộ máy hành pháp các cấp, cơ chế và quan hệ Đảng - Nhà nước – các đoàn
thể chính trị – xã hội,… đang là những vấn đề bức xúc của đời sống chính
trị – xã hội. Đó là những bức xúc thể hiện nhu cầu nội tại của sự phát
triển kinh tế – xã hội trong nhiều năm qua.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế của
Việt Nam hiện nay, không chỉ đổi mới kinh tế, mà cả đổi mới chính trị
ngày càng trở thành nhu cầu bức xúc hơn. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc
tế thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu đổi mới nội tại, đồng thời tạo cơ hội cho
đổi mới kinh tế và chính trị rộng lớn hơn, đồng bộ và toàn diện hơn, sâu
sắc và triệt để hơn. Sự tác động ấy, một mặt, trực tiếp buộc
chúng ta phải thay đổi một số thể chế, luật pháp, quy trình thực hiện,
quan điểm và phương pháp đánh giá các vấn đề kinh tế, xã hội, v.v.. Mặt khác,
nó thúc đẩy nhu cầu nội tại, bên trong của Việt Nam về đổi mới một cách
mạnh mẽ hơn. Đổi mới ở giai đoạn hiện nay và sắp tới gắn bó chặt chẽ và
chịu tác động của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế lớn hơn nhiều so với
khi chúng ta bắt đầu đổi mới năm 1986. Nhu cầu đổi mới cả kinh tế lẫn
chính trị đòi hỏi phải có những đột phá căn bản. Nếu như ở giai đoạn
trước đây, đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị đã động chạm đến phần ngoài
thì sắp tới, đổi mới buộc phải động chạm đến phần nhân lõi: hệ thống
chính trị, phương thức phân phối, công bằng xã hội, dân chủ và văn
minh,…, bởi nó trực tiếp động đến nền tảng chính trị và kinh tế của toàn
xã hội và của các bộ phận dân cư nhạy cảm nhất.
Điều đó khiến cho công cuộc đổi mới ở giai đoạn sắp
tới phức tạp hơn, khó khăn hơn. Trước đây, khi bắt đầu đổi mới, xã hội
trong trạng thái khủng hoảng, các tầng lớp dân cư đều có nhu cầu bức
thiết về đổi mới với mức độ tương đồng, do đó dễ dàng thống nhất mục
tiêu, biện pháp. Việc khởi xướng đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới tư
duy kinh tế, dễ dàng nhận được sự đồng thuận xã hội rộng rãi và sâu
sắc. Tình hình hiện nay không hoàn toàn giống như hơn 20 năm trước đây.
Phân tầng xã hội trong hơn 20 năm qua tạo nên những lợi ích và nhu cầu
khác nhau đối với giai đoạn tiếp theo của đổi mới. Giai đoạn tiếp theo
cũng không thể chỉ xác định trọng tâm duy nhất của đổi mới chỉ là đổi
mới kinh tế. Bối cảnh quốc tế cũng như những đòi hỏi nội tại của xã hội
đang yêu cầu đổi mới trong giai đoạn tiếp theo phải xem đổi mới chính
trị như một trong những trọng tâm quan trọng để thúc đẩy đổi mới kinh
tế. Hơn nữa, đó phải là những đổi mới quan điểm một cách căn bản, đột
phá để tạo nên bước phát triển nhảy vọt nhưng vững chắc. Đổi mới kinh tế
vẫn phải đồng hành với đổi mới chính trị, nhưng đổi mới chính trị trong
giai đoạn tới phải được chú trọng và nhấn mạnh hơn để tạo ra những bước
đột phá mới, căn bản. Nếu không có những bước đột phá căn bản, mới
trong đổi mới, Việt Nam vẫn có thể phát triển đều và ổn định, nhưng sẽ
không rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển cao.
Điều này đã được các nhà lãnh đạo và các học giả, quần chúng nhân dân
nhận thức rõ. Đây sẽ là lực lượng và động lực quan trọng cho giai đoạn
đổi mới tiếp theo.
Như vậy, trong giai đoạn tiếp theo vẫn phải là đổi
mới trước hết các quan điểm, quan niệm về con đường, phương thức phát
triển nhưng không còn thuần túy là phương thức phát triển kinh tế. Đổi
mới sẽ phải là đổi mới đồng bộ hơn, cả kinh tế lẫn chính trị, trong đó
đổi mới chính trị phải được chú trọng nhiều hơn, đụng chạm trực tiếp
nhiều hơn đến những vấn đề của hệ thống chính trị, như tổ chức bộ máy
nhà nước các cấp, cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị, các quan điểm
và cơ chế thực hiện công bằng, dân chủ,… Đó là một đòi hỏi khách quan
của xu thế phát triển chung của đất nước trong bối cảnh mới nói chung và
của đổi mới trong giai đoạn hiện nay nói riêng. Đòi hỏi đó buộc chúng
ta phải suy ngẫm, tìm tòi để phát hiện ra mắt xích then chốt cần đổi mới
hiện nay là gì. Đó là những nhận định chung, tổng quát, bao trùm về
những nét chung và chính yếu nhất, là bức tranh chung về quan hệ đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, trên thực
tế, chúng ta thấy tương quan giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
trong những nét chi tiết đang diễn biến rất đa dạng và đa chiều cả trong
nhận thức lẫn trong hiện thực.
Phân tích thực chất và hiện trạng của đổi mới ở nước
ta, có thể nêu lên một số vấn đề chính cần lưu ý nhiều hơn trong đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị giai đoạn 5 đến 10 năm tới như sau:
Thứ nhất, trong giai đoạn tiếp theo, thực tiễn
đang đòi hỏi phải đổi mới chính trị với tốc độ nhanh hơn, toàn diện
hơn, đồng bộ hơn, “cởi trói” để giải phóng các tiềm năng xã hội làm cho
kinh tế phát triển mạnh hơn, đời sống xã hội vận động nhanh hơn. Cần
nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị và quán triệt triệt để, nhất quán mối quan
hệ biện chứng ấy trong suốt quá trình đổi mới và trong tất cả các vấn
đề của đổi mới. Đổi mới tiếp theo là phải đổi mới cả ý thức chính trị và
tư duy chính trị, đổi mới không chỉ những quan điểm chính trị, tư duy
chính trị mà là đổi mới cách thức giải quyết hàng loạt vấn đề cụ thể của
đời sống xã hội, như cải cách hành chính, quan hệ Đảng – Nhà nước – các
đoàn thể chính trị, xã hội,… Việc đổi mới đường lối cần phải được tiến
hành đồng thời vừa trên cơ sở nghiên cứu lý luận, vừa trên cơ sở nghiên
cứu và tổng kết thực tiễn. Điều đó, một mặt, giúp chúng ta tránh được chủ quan, giáo điều sách vở; mặt khác,
tránh được chủ nghĩa kinh nghiệm, thiếu nhìn xa trông rộng, “chỉ thấy
cây mà không thấy rừng”, chỉ thấy trạng thái tĩnh mà không thấy trạng
thái động. Điều này cũng là hợp lôgíc với nguyên tắc đổi mới kinh tế đi
trước một bước so với đổi mới chính trị. Những đổi mới về kinh tế của
chúng ta sẽ tiến triển chậm chạp, nếu chúng ta không tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ hơn về chính trị. Đổi mới về chính trị, trước hết là đổi mới về
đường hướng phát triển, đổi mới về chính sách, về luật pháp và sau đó,
chúng ta phải tính đến việc đổi mới cả hệ thống chính trị.
Thứ hai, cần có đổi mới tư duy mang tính chất
cách mạng trong lĩnh vực lý luận chính trị và đường lối đổi mới chính
trị để cho đổi mới phát triển một cách toàn diện, đúng hướng, hài hòa,
đồng bộ và bền vững. Có thể nói, thể chế kinh tế mới hình thành là không
thể đảo ngược và nó đang chờ sự mở đường tiếp theo của cải cách chính
trị trước ngã ba đường, cần có những đột phá tiếp tục trong tư duy lý
luận về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Nếu không có những đột phá
mang tính cách mạng kiểu như đổi mới tư duy 1986, chúng ta khó có thể
đi nhanh, đi trước đón đầu, phát triển "rút ngắn". Điều đó có nghĩa
rằng, những năm tới, chúng ta không thể chỉ đẩy mạnh đổi mới chính trị,
mà phải đồng thời tiếp tục đổi mới kinh tế. Nhưng, để đổi mới kinh tế
mạnh hơn, đồng bộ và toàn diện hơn, có hiệu quả và để kinh tế phát triển
với tốc độ nhanh hơn, cần đổi mới chính trị bằng những đột phá trong
quan điểm lý luận chính trị. Chủ trương đảng viên được phép làm kinh tế
tư nhân tại Đại hội X của Đảng là một đột phá. Nhưng chúng ta cần nhiều
đột phá trong tư duy lý luận chính trị hơn nữa.
Thứ ba, trong đổi mới ở những năm sắp tới cần
phòng tránh tình trạng lũng đoạn nhà nước của các nhóm lợi ích. Cần có
cơ chế “vận động hành lang” (lobby) công khai, minh bạch, tuân thủ pháp
luật. Điều quan trọng nhất trong vấn đề này là, khi thực hiện đổi mới cả
chính trị lẫn kinh tế không được để lợi ích các nhóm, tập đoàn lên cao
hơn lợi ích quốc gia, dân tộc. Lợi ích của các nhóm, các tập đoàn, cá
nhân là động lực quan trọng, nhưng không thể để các nhóm lợi ích lũng
đoạn các chính sách, bởi nếu điều đó xẩy ra thì đổi mới sẽ chệch hướng
và sự đồng thuận xã hội sẽ bị phá vỡ, quốc gia sẽ phải hứng chịu những
bi kịch. Lũng đoạn trong kinh tế sớm muộn cũng sẽ đưa đến lũng đoạn
trong chính trị, còn nếu có lũng đoạn trong chính trị thì sẽ nhanh chóng
lũng đoạn được kinh tế. Nhiệm vụ quan trọng nhất về phương diện này của
Nhà nước là biết điều hòa các lợi ích trên cơ sở đặt lợi ích quốc gia
lên trên hết. Bằng cách đó, Nhà nước mới có thể huy động được sức mạnh
cộng đồng dân tộc phấn đấu cho mục tiêu chung là “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”(2).
Cần phải sử dụng sức mạnh của các nhóm lợi ích với tư cách một lực của
sự phát triển, nhưng lại phải thực hiện công bằng xã hội trong mỗi lĩnh
vực, mỗi chính sách, cả trong đổi mới kinh tế lẫn đổi mới chính trị. Làm
chủ trong đổi mới bao hàm trong đó nội dung làm chủ việc sử dụng các
nhóm lợi ích mà không để các nhóm lợi ích lũng đoạn đổi mới.
Thứ tư, có thể ví đổi mới trong hơn 20 năm qua
đã thành công chủ yếu theo bề rộng, đổi mới trong giai đoạn tới đây sẽ
diễn ra theo chiều sâu và do vậy, sẽ động chạm nhiều đến lợi ích, đặc
quyền, đặc lợi và thậm chí là đặc ân của một số nhóm xã hội nhất định.
Bởi thế, đổi mới trong giai đoạn sắp tới chắc chắn sẽ khó khăn hơn, phức
tạp hơn, quyết liệt hơn, đòi hỏi quyết tâm và ý chí mạnh mẽ hơn, nhưng
lại phải tỉnh táo và sáng suốt. Tiến hành đổi mới kinh tế, đặc biệt là
đổi mới chính trị, tuyệt đối không được chủ quan, nóng vội, bất chấp quy
luật. Chính trị không thể đi trước quá xa kinh tế và kinh tế không thể
thoát ra khỏi chính trị quá xa, tương tự như quan hệ giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất trong nhận thức hiện nay. Đổi mới chính trị là
đổi mới toàn diện, đổi mới toàn bộ các nội dung, yếu tố của chính trị và
do vậy, sẽ động chạm đến toàn bộ hệ thống chính quyền và lợi ích của
các nhóm, các cá nhân trong hệ thống đó. Việc đó sẽ làm rung chuyển toàn
bộ hệ thống và do vậy, cần hết sức thận trọng, tỉnh táo, sáng suốt,
phải chuẩn bị kỹ về lý luận và những điều kiện cần thiết, có bước đi
thích hợp và phải làm chủ được quá trình đổi mới trong lĩnh vực này,
tránh lặp lại sai lầm trong đổi mới chính trị của Liên Xô trước đây.
Thứ năm, những năm qua, chúng ta đã nhấn mạnh
nhiều đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Điều đó hoàn toàn đúng và phù
hợp với bối cảnh đất nước chưa thoát khỏi cảnh nghèo đói, khủng hoảng
trầm trọng. Đến lúc này, đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư đã
được cải thiện. Những năm tới sẽ là giai đoạn “cất cánh” của đất nước.
Vì vậy, trong đổi mới cần phải tập trung nhiều hơn cho những vấn đề xã
hội, như công bằng, bình đẳng, dân chủ,… Đổi mới cả kinh tế lẫn chính
trị phải thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội chứ không chỉ cho tăng
trưởng kinh tế. Đây chính là điều mà trong thời gian sắp tới, chúng ta
phải quán triệt sâu sắc khi tiến hành đổi mới. Đổi mới là để thúc đẩy sự
phát triển và tiến bộ xã hội nhanh hơn, nhân dân giàu có hơn và hạnh
phúc hơn, đất nước mạnh hơn, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hơn.
Điều đó cũng có nghĩa rằng, phải tiến hành đổi mới đồng bộ hơn, toàn
diện hơn cả trong kinh tế lẫn chính trị và cả trong quan hệ đổi mới kinh
tế – đổi mới chính trị. Phải đổi mới mạnh mẽ hơn, đồng bộ, hài hòa hơn,
toàn diện hơn trước hết trong kinh tế, phát triển kinh tế với tốc độ
nhanh hơn để làm cơ sở cho đổi mới chính trị và đổi mới chính trị để cho
đổi mới kinh tế tiếp tục phát triển. Một trong những yếu tố hàng đầu
trong đổi mới chính trị là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Đây là yếu tố then chốt trong cải cách, đổi mới chính trị hiện
nay. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang là một đòi
hỏi tất yếu, nội tại của sự phát triển và hiện đại hoá đất nước. Nó gắn
liền với hàng loạt quá trình kinh tế, xã hội khác của đất nước. Đổi mới
chính trị hiện nay cũng phải tuân thủ nguyên tắc là đổi mới chính trị
phải làm sao để kinh tế tiếp tục phát triển. Đổi mới chính trị mà kinh
tế không phát triển, đời sống nhân dân không được cải thiện, chất lượng
cuộc sống của người dân không được nâng lên thì đổi mới chính trị ấy
cũng là không hiệu quả. Do vậy, đổi mới chính trị phải hướng đến việc
làm cho kinh tế phát triển. Về nguyên tắc, phải đổi mới toàn diện nhưng
có trọng tâm. Bởi lẽ, các yếu tố của hệ thống chính trị không ăn khớp,
không phù hợp với nhau thì sự đổi mới của yếu tố này có khi lại phủ định
sự phát triển của yếu tố khác. Tính toàn diện, theo chúng tôi, phải
được đảm bảo, nhưng cũng phải có hướng ưu tiên. Ưu tiên hiện nay là nâng
cao năng lực lãnh đạo của Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa.
Thứ sáu, trong đổi mới chính trị, khâu then
chốt là xây dựng, đổi mới và chỉnh đốn Đảng, trước hết là dân chủ nội bộ
Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng. Một chính đảng lớn bậc nhất thế giới và
cũng là lớn nhất trong lịch sử, như Đảng Cộng sản Liên Xô, vẫn bị sụp đổ
nhanh chóng, nếu quan liêu, mất dân chủ, xa rời nhân dân, đánh mất lòng
tin của dân và sự đồng thuận của xã hội. Đảng phải luôn tự đổi mới,
hoàn thiện mình và thực hành dân chủ một cách đầy đủ, nhất quán, rộng
rãi trước hết trong Đảng. Đồng thời, phải tạo cho cho xã hội Việt Nam
thói quen sinh hoạt dân chủ. Nói cách khác, để tiếp tục đổi mới kinh tế
và chính trị thì đổi mới và chỉnh đốn Đảng, trước hết là thực hành thực
sự dân chủ trong nội bộ, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là khâu đầu tiên cần tiến hành, sau
đó mới có thể mở rộng ra phạm vi toàn xã hội.
Thứ bảy, đổi mới trong những năm tiếp theo cả
trong kinh tế lẫn chính trị không thể lảng tránh vấn đề quan hệ giữa
Đảng – Nhà nước – các đoàn thể chính trị, xã hội. Nếu không đổi mới,
Đảng sẽ bị tụt hậu và không thể ngang tầm với những đòi hỏi của sự phát
triển. Đổi mới Nhà nước là một đòi hỏi bức xúc của công tác quản lý phát
triển kinh tế – xã hội hiện thời. Đổi mới Mặt trận Tổ quốc là một nhiệm
vụ quan trọng để có thể thực thi dân chủ một cách rộng rãi và hiệu quả
trong xã hội. Đổi mới hệ thống chính trị phải tuân thủ nguyên tắc “chính
trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”, phục vụ đổi mới kinh tế. Trong
bối cảnh kinh tế thị trường ngày càng phát triển, đa thành phần sở hữu,
đa hình thức kinh doanh, nhiều nhóm lợi ích xuất hiện, việc dân chủ hóa
trong đời sống kinh tế và đời sống xã hội ngày càng gia tăng và hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc tìm kiếm một cơ chế thích hợp
với điều kiện Việt Nam cho sự kiểm sát quyền lực kinh tế và chính trị
nói riêng, quyền lực xã hội nói chung là một nhiệm vụ đặc biệt quan
trọng và cấp thiết. Không có sự kiểm sát quyền lực tốt thì tiêu cực xã
hội không thể giảm thiểu. Phải thừa nhận một thực tế là, chúng ta chưa
có một cơ chế tốt về kiểm soát, cân bằng quyền lực. Đây cũng chính là
nguyên nhân sâu xa của tình trạng lạm quyền hiện nay, gây nên nhiều tiêu
cực nghiêm trọng, đe dọa chính uy tín và sự tồn tại của Đảng, Nhà nước
và chế độ. Đối trọng quyền lực và tam quyền phân lập là thành quả văn
minh nhân loại cần được nghiên cứu kỹ để có thể Việt Nam hóa hoặc tìm ra
cơ chế riêng thích hợp với chúng ta.
Theo chúng tôi, đó là những điểm căn bản, then chốt
và có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc đổi mới. Nó vừa là kinh
nghiệm từ quá khứ, vừa là đòi hỏi của hiện tại và tương lai. Trong tổng
thể, chúng tạo nên một khối thống nhất, gắn bó chặt chẽ, không thể bỏ
qua điểm nào mỗi khi giải quyết bất cứ một vấn đề cụ thể nào của quan hệ
đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay. Cả về phương
diện lý luận lẫn thực tiễn hơn 20 năm đổi mới đều chứng tỏ rằng, kết hợp
hài hoà, đồng bộ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị chính là phương
thức phát triển bền vững của đất nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn
hiện nay và sắp tới. q
(1) Hiện đang có các ý kiến khác nhau về thời điểm
bắt đầu đổi mới ở Việt Nam. Một trong số đó xem đổi mới trong thực tế
được bắt đầu còn sớm hơn cả Nghị quyết Trung ương 6 năm 1979. Đổi mới
bắt đầu từ khi có khoán “chui” trong các hợp tác xã vào những năm 70-80,
dù hình thức khoán ấy đã bị loại bỏ ngay khi ra đời không lâu. Cũng do
vậy, có người nói rằng, đổi mới nảy mầm từ thực tiễn, Đảng đã biết tổng
kết, nhân rộng và phát triển thành sự nghiệp đổi mới hiện nay.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.76.
SOURCE: TẠP CHÍ TRIẾT HỌC SỐ 7 (230) năm 2010 - PGS.TSKH. LƯƠNG ĐÌNH HẢI – Phó viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt