Một số vấn đề về Dự án Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010 của Quốc hội, Dự án Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sau đây gọi là dự án Pháp lệnh) do Bộ Công an chủ trì soạn thảo đã được Chính phủ quyết định thông qua tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2010 để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến và thông qua vào cuối năm nay.
Việc
xây dựng và ban hành Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật
liệu nổ và công cụ hỗ trợ là một bước pháp điển hóa, xác lập khuôn khổ pháp lý
có hiệu lực pháp lý cao, nhằm tăng cường quản lý nhà nước trong việc nghiên
cứu, sản xuất, kinh doanh, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, phù
hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước hiện nay, góp phần
quan trọng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã
hội.
Tư tưởng
chỉ đạo của dự án Pháp lệnh là quản lý chặt
chẽ vũ khí, vật liệu nổ và công cụ
hỗ trợ, đặc biệt là quản lý rất chặt đối với vũ khí quân dụng và
vũ khí thể thao, nhưng không làm ảnh hưởng đến công tác huấn luyện và thực thi
nhiệm vụ, công vụ của lực lượng vũ trang và các lực lượng khác, không gây cản
trở cho phát triển kinh tế, xã hội. Về cơ bản, nội dung của dự thảo Pháp lệnh
đã thể hiện được tư tưởng chỉ đạo này. Tuy nhiên, một số vấn đề của dự án Pháp
lệnh vẫn đang còn ý kiến khác nhau hoặc cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ
thêm các căn cứ khoa học và thực tiễn, để tiếp tục hoàn thiện dự án Pháp lệnh.
Sau
đây xin trao đổi để làm rõ thêm một số vấn đề quan trọng thuộc
nội dung của dự án Pháp lệnh.
1.
Các trường hợp được nổ súng và vấn đề sử dụng công
cụ hỗ trợ
1.1.
Tại Điều 8 dự thảo Pháp lệnh đã quy định ba loại trường hợp được nổ súng vào
các đối tượng: nổ súng sau khi đã nổ súng cảnh cáo mà đối tượng không tuân
lệnh; nổ sung ngay; nổ súng khi có lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ
Công an hoặc của người chỉ huy các cấp khi được ủy quyền. Ngoài ra, khoản 4
Điều 18 Dự thảo còn quy định “Những trường hợp đặc biệt khác cần nổ súng do
Chính phủ quy định”. Nhìn chung, về các trường hợp được nổ súng, nội dung Điều
8 của dự thảo Pháp lệnh quy định có phần còn khái quát, chưa đầy đủ, chưa bảo
đảm tính cụ thể, minh bạch, chưa phản ánh sát với thực tiễn. Điều này làm cho
việc thực thi sẽ khó tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc, hoặc có thể bị lạm
dụng hoặc làm bó tay các lực lượng thực thi, bảo vệ pháp luật.
Kinh
nghiệm ở nước ta cũng như ở các nước khác,
kể cả các nước phát triển, việc quy định về các trường hợp nổ
súng là vấn đề rất khó và phức tạp. Nổ súng vào đối tượng phải bảo đảm yêu cầu
một mặt không vượt quá mức cần thiết, có thể dẫn đến vi phạm quyền Hiến định
“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính
mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”1, mặt khác không làm bó tay
người được giao sử dụng vũ khí trong thực thi nhiệm vụ, công vụ bảo vệ an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, cũng như trong việc bảo vệ an toàn tính mạng
của chính họ. Người có quyền được nổ súng trong các trường hợp theo quy định
của pháp luật cũng phải được pháp luật bảo vệ.
Nổ súng
vào đối tượng là trực tiếp nhằm vào tính mạng, sức khỏe của đối
tượng để ngăn chặn hoặc làm tê liệt hành vi nguy hiểm xâm hại nghiêm
trọng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, không phải bất cứ
trường hợp nổ súng nào cũng đều nh��m tiêu diệt ngay đối tượng. Dự thảo Pháp lệnh
cần quy định cụ thể, minh bạch hơn các trường hợp được nổ súng vào đối tượng,
xác định rõ mục đích, mức độ gây tổn thất về tính mạng, sức khỏe đối với đối
tượng, phù hợp và tương xứng với tính chất và mức độ chống đối, phản ứng của
đối tượng trong từng trường hợp.
Việc
nổ súng vào các đối tượng ảnh hưởng trực tiếp đến một trong
những quyền quan trọng nhất của công dân được Hiến pháp quy định, do
vậy, để tránh tùy tiện, các trường hợp được nổ súng phải được dự thảo Pháp lệnh
quy định đầy đủ, cụ thể, không ủy quyền lại cho Chính phủ quy định “Những
trường hợp đặc biệt khác cần nổ súng…”.
1.2.
Điều 34 dự thảo Pháp lệnh quy định mang tính nguyên tắc: “Người được giao sử
dụng công cụ hỗ trợ khi làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật
tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, tính mạng, tài
sản của công dân phải bảo đảm an toàn, đúng mục đích theo quy định của Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng và được sử dụng trong các trường hợp sau khi có mệnh lệnh,
cảnh cáo mà đối tượng không chấp hành”.
Việc
sử dụng công cụ hỗ trợ trong thi hành nhiệm vụ, công
vụ của các lực lượng chức năng nhằm vào các đối tượng cũng trực tiếp
ảnh hưởng đến quyền bất khả xâm phạm đến thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ
về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân. Do vậy, điều kiện sử
dụng, mục đích và mức độ sử dụng công cụ hỗ trợ trong từng trường hợp phải được
dự thảo Pháp lệnh quy định cụ thể, rõ ràng hơn; không quy định mang tính nguyên
tắc, không ủy quyền lại cho cơ quan hành pháp quy định cụ thể như dự thảo.
Xuất
phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, tăng cường tính minh bạch trong quy định và thực thi pháp luật,
các trường hợp được nổ súng và việc sử dụng công cụ hỗ trợ cần phải được dự
thảo Pháp lệnh quy định đầy đủ, cụ thể hơn và rõ ràng, minh bạch hơn. Điều này
không chỉ bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
mà còn là cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm cho các lực lượng thực thi pháp luật
tự tin, kịp thời và kiên quyết sử dụng quyền nổ súng và sử dụng công cụ hỗ trợ.
2.
Sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp
Nội
dung cơ bản của Điều 23 dự thảo Pháp lệnh quy định: Cơ quan, tổ
chức sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp phải là doanh nghiệp 100% vốn
nhà nước được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ.
Cách
thức quản lý đối với việc sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ theo quy
định tại Điều 23 dự thảo Pháp lệnh mang nặng tính chất hành chính,
xin - cho. Tuy nhiên, điều này là cần thiết, phù hợp với thực tiễn quản lý, sử
dụng vật liệu nổ ở nước ta hiện nay, bảo đảm quản lý chặt chẽ đối với vật liệu
nổ công nghiệp. Quy định của dự thảo Pháp lệnh là kế thừa nội dung quy định của
Nghị định số 39/2009/NĐ-CP về vật liệu nổ công nghiệp.
Tuy
nhiên, để bảo đảm chống lạm dụng độc quyền sản xuất, kinh doanh vật liệu
nổ công nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường,
hạn chế xin - cho, dự thảo Pháp lệnh cần quy định rõ các tiêu chí,
điều kiện được sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp để doanh nghiệp nào
đáp ứng được đủ các điều kiện thì thực hiện, không chỉ là tiêu chí sở hữu vốn.
Trong
bối cảnh cải cách, cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hiện
nay, và nhu cầu về vật liệu nổ công nghiệp đang ngày càng tăng lên, thì
việc quy định chỉ có doanh nghiệp 100% vốn nhà nước mới được sản xuất, kinh
doanh vật liệu nổ công nghiệp là có phần hạn chế. Dự thảo Pháp lệnh cần quy
định theo hướng mở rộng hơn phạm vi các cơ sở được quyền sản xuất, kinh doanh
vật liệu nổ công nghiệp, theo đó, ngoài doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, thì các
doanh nghiệp mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối cũng được sản xuất, kinh doanh
vật liệu nổ công nghiệp theo quy định của pháp luật.
3.
Cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ
và công cụ hỗ trợ
Điều
38 dự thảo Pháp lệnh quy định “Bộ Công an giúp Chính phủ chủ trì, phối hợp với
các Bộ thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về quản lý, sử dụng vũ khí,
vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ”. Đây là một vấn đề mới, lần đầu tiên được quy định
trong dự thảo Pháp lệnh.
Chính
phủ thống nhất quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu
nổ và công cụ hỗ trợ là vấn đề không còn
phải bàn cãi. Tuy nhiên, trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của
Chính phủ2, chưa có quy định về cơ quan có thẩm quyền giúp Chính phủ
thống nhất quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Thống
nhất quản lý nhà nước là chức năng quản lý nhà nước
bao trùm, xuyên suốt toàn bộ lĩnh vực trong phạm vi xã hội do Chính phủ
thực hiện. Chức năng này rất quan trọng khi một lĩnh vực được phân công cho
nhiều bộ, ngành quản lý như lĩnh vực quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và
công cụ hỗ trợ.
Nhằm
mục đích đổi mới, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý
nhà nước đối với vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, dự án Pháp lệnh có quy
định một đầu mối là Bộ Công an giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về vũ
khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Điều 38 dự thảo Pháp lệnh quy định “Bộ Công
an giúp Chính phủ chủ trì, phối hợp với các Bộ thực hiện việc thống nhất quản
lý nhà nước về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”. Tuy
nhiên, quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ là một lĩnh vực
phức tạp, nhạy cảm và có tính đặc thù rất cao, quan hệ đến nguyên tắc Đảng lãnh
đạo tuyết đối, trực tiếp, toàn diện lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Trong nội
dung quy định này của dự thảo Pháp lệnh, tính đặc thù trong quản lý, sử dụng vũ
khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ cũng đã được tính đến khi xác định phương
thức thực hiện là “chủ trì, phối hợp”. Song, thực ra quy định phương thức này
cũng rất đặc thù, lần đầu tiên được quy định. Về logic, dường như cách quy định
này chưa hợp lý. Quy định Bộ Công an “chủ trì, phối hợp…” tức là Bộ Công an chỉ
chịu trách nhiệm chính, nói cách khác có nhiều Bộ cùng giúp Chính phủ thống
nhất quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, trong đó Bộ
Công an chịu trách nhiệm chính chứ không phải chịu trách nhiệm toàn diện
trong việc giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ và
công cụ hỗ trợ. Quy định như vậy là chưa tuân thủ một nguyên tắc trong quản lý
nhà nước là một việc chỉ giao cho một cơ quan chịu trách nhiệm.
Vấn đề đặt
ra là tính đặc thù trong quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công
vụ hỗ trợ, nhất là đối với vũ khí quân dụng, đã tính hết chưa khi xác định cơ
quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý về vũ khí, vật liệu nổ và công vụ hỗ
trợ? Thời điểm này, về mặt thực tiễn đã chín muồi cho việc giao cho một
Bộ giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ
hỗ trợ chưa? Và nếu giao cho Bộ Công an thì những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể
của Bộ Công an để thực hiện chức năng này là gì, có thực hiện được không?, và
những nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể của Bộ Quốc phòng, Bộ Công thương và các bộ,
ngành khác trong việc phối hợp với Bộ Công an thực hiện chức năng này là gì,
cần phải chỉ ra cho rõ ràng, minh bạch trên cơ sở tổng kết thực tiễn và đánh
giá tác động đầy đủ và nghiêm túc. Rất tiếc, dự án Pháp lệnh chưa thuyết minh
và đánh giá tác động vấn đề này.
Xuất
pháp từ tính đặc thù trong quản lý, sử dụng vũ khí, vật
liệu nổ và công cụ hỗ trợ và trong bối cảnh tình
hình hiện nay, theo chúng tôi, dự thảo Pháp lệnh cần tiếp tục khẳng định
cơ chế quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ như sau:
-
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về vũ khí, vật
liệu nổ và công cụ hỗ trợ;
-
Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
và Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về vũ
khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ theo sự phân công của Chính phủ;
-
Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quản lý
nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ và công
cụ hỗ trợ theo phân cấp và quy định của pháp luật.
4.
Trách nhiệm quản lý nhà nước cụ thể của các Bộ, ngành
Dự thảo
Pháp lệnh từ Điều 38 đến Điều 41 đã quy định trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền
hạn của 9 bộ, ngành trong quản lý nhà nước về vũ khí, vật
liệu nổ và công cụ hỗ trợ, trong đó chủ yếu quy định
cụ thể trách nhiệm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Công thương.
Quy
định như dự thảo Pháp lệnh là chưa bảo đảm tính hợp pháp
và hợp lý. Luật Tổ chức Chính phủ khoản 3 Điều 16 quy định
rõ thẩm quyền của Chính phủ là “quy định nhiệm vụ, quyền hạn,
tổ chức bộ máy của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ”.
Quy định này của Luật Tổ chức Chính phủ là bảo đảm cho Chính phủ quyền chủ
động, linh hoạt trong việc phân công, phân định chức năng, thẩm quyền quản lý
nhà nước trên các lĩnh vực cũng như trong từng lĩnh vực cho các cơ quan của
Chính phủ. Hơn nữa, quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, có tính đặc thù, vì vậy, nếu quy định nhiệm vụ,
quyền hạn của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Công thương và các bộ, ngành khác
trong quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ trong dự thảo
Pháp lệnh thì trên thực tế, sẽ làm hạn chế, không bảo đảm tính linh hoạt, chủ
động trong việc thực hiện quyền lãnh đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ đối với lĩnh vực này.
5.
Thẩm quyền cấp giấy phép vận chuyển vật nổ công nghiệp
Theo
Nghị định số 39/2009/NĐ-CP về vật liệu nổ công nghiệp,
Bộ Công an có trách nhiệm: “kiểm tra, cấp Giấy phép vận chuyển vật
liệu nổ công nghiệp, tiền chất nổ công nghiệp” (khoản 1 Điều
42). Kế thừa quy định này, khoản 4 Điều 24 dự thảo Pháp lệnh tiếp tục khẳng
định và quy định tương đối cụ thể vấn đề thẩm quyền cấp giấy phép vận chuyển
vật liệu nổ công nghiệp: “Cơ quan, tổ chức vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp
từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài nộp hồ sơ đề nghị cấp
giấy phép vận chuyển tại Bộ Công an... Cơ quan, tổ chức vận chuyển vật liệu nổ
công nghiệp trong nước nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép vận chuyển tại Công an
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và
cứu nạn, cứu hộ”. Quy định này của dự thảo Pháp lệnh dựa trên cơ sở cho rằng,
khác với vật liệu nổ quân dụng, vật liệu nổ công nghiệp được dùng để sản xuất
thuốc nổ sử dụng cho mục đích sản xuất công nghiệp; việc vận chuyển vật liệu nổ
công nghiệp là phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế theo cơ chế thị trường. Do vậy, xét tính chất của
việc vận chuyển và mục đích, yêu cầu của công tác xét, cấp giấy phép vận chuyển
đối với loại hàng hoá đặc biệt này thì việc giao thẩm quyền đầy đủ cho Bộ Công
an cấp giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp là phù hợp với chức năng
của Bộ Công an “chủ trì và thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ an
ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong phạm vi cả nước”, bảo đảm
tính thống nhất, đồng bộ, một việc chỉ giao cho một cơ quan chịu trách nhiệm
trong quản lý nhà nước.
Tuy
nhiên, trong một số văn bản gần đây gửi Thủ tướng Chính phủ,
Bộ Quốc phòng không đồng ý với quy định nêu trên của Nghị định số 39
và đề nghị bổ sung quy định, trong trường hợp đơn vị, doanh nghiệp của Bộ Quốc
phòng vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp do các cơ sở của Bộ Quốc phòng sản
xuất đến nơi sử dụng thì Bộ Quốc phòng có thẩm quyền cấp giấy phép vận chuyển.
Xét đề nghị của Bộ Quốc phòng, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo: giao
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và Bộ Công thương thống nhất
việc giao Bộ Quốc phòng cấp và thu hồi giấy phép vận chuyển vật liệu nổ công
nghiệp cho các đơn vị, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng trên tinh thần đơn giản
hoá thủ tục hành chính, bảo đảm chặt chẽ, tuyệt đối an toàn, an ninh, trình Thủ
tướng Chính phủ xem xét, quyết định3.
Trong
khi các Bộ, ngành còn ý kiến khác nhau, nhất giữa Bộ Quốc phòng
và Bộ Công an, và Thủ tướng chưa có ý kiến cuối cùng về thẩm quyền cấp giấy
phép vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp, thì có lẽ, không nên quy định trong dự
thảo Pháp lệnh, mà giao lại cho Chính phủ quy định vấn đề này.
(1) Điều 71 Hiến pháp 1992 (đã được
sửa đổi).
(2) Nghị định số 47/CP năm 1996
về quản lý, sử dung vũ khí, vật liệu nổ và công
vụ hỗ trợ, Nghị định số 39/2009/NĐ-CP về vật liệu
nổ công nghiệp, Nghị định số 104/2008/NĐ-CP quy đinh chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Quốc phòng,
Nghị định số 77/2009/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Công an.
(3) Công văn số
5850/VPCP-KTN ngày 19/8/2010 của VPCP thông báo ý kiến của
Thủ tướng Chính phủ.
ThS. Nguyễn Phước Thọ - VP Chính Phủ
Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao