Một số vấn đề về phản biện xã hội
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới… Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước”[1].
Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định “Các cơ quan nhà
nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân
dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của
nhân dân” (Điều 8). “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội,
tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ
quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 53).
Do vậy, nghiên cứu về phản biện, giám sát xã hội là một việc làm hợp chủ
trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và rất có ý nghĩa trong điều kiện phát
huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân ở nước ta hiện nay. Chúng tôi xin đề cập đến một số vấn
đề lý luận cơ bản về phản biện xã hội và các giải pháp để bảo đảm việc thực
hiện phản biện xã hội có hiệu quả.
1. Khái niệm phản biện xã hội
Phản biện là hoạt động đưa ra các lập luận, chứng cứ, phân tích, đánh giá về
một vấn đề nào đó (như các đề án kinh tế, các dự án xã hội, các dự án luật…)
nhằm đánh giá, chứng minh tính hợp lý hay không hợp lý, từ đó có thể khẳng
định, góp ý, bổ sung hoặc phản bác một phần hoặc cả phương án, dự án, kế hoạch.
Phản biện khác với việc thiết kế, xây dựng trước hết ở chủ thể và mục đích.
Cùng một đối tượng, như đề án xây dựng một cây cầu chẳng hạn, chủ thể xây dựng
đề án phải phác họa đề án rồi phân tích, thuyết minh để thuyết phục các chủ thể
khác (có thẩm quyền hoặc công luận trong trường hợp cần thiết) về tính “có lý”
c��a đề án mà mình đã phác thảo. Trái lại, chủ thể phản biện đương nhiên phải là
cá nhân hoặc tổ chức khác không xây dựng đề án (thường là những chủ thể có tính
chất khác với chủ thể xây dựng, để nhìn nhận, đánh giá ở góc độ khác) và phải
trên cơ sở đề án do cơ quan xây dựng phác thảo. Quá trình phân tích, lập luận
đánh giá sự phù hợp hay không phù hợp và phải có mục đích công nhận sự cần
thiết, tính hợp lý hoặc bác bỏ (một phần hoặc toàn bộ) đề án do cơ quan xây
dựng phác thảo. Giữa thiết kế, xây dựng và phản biện có mối quan hệ mật thiết.
Để thiết kế, xây dựng một chủ trương, đường lối hay một đề án tốt nhất và hợp
lòng dân rất cần sự phản biện, nhất là phản biện xã hội. Phản biện là phương
cách quan trọng để bảo đảm và dung hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội.
Phản biện và thẩm định, thẩm tra có nhiều điểm chung: cùng phân tích, lập
luận và đánh giá vấn đề. Tuy nhiên, các hoạt động này có sự khác nhau cơ bản.
Phản biện thường nhằm vào điểm yếu, hạn chế, chỗ sai; còn sự đánh giá trong
thẩm định, thẩm tra thường cân bằng cả chỗ đúng và chỗ sai hơn. Ngoài ra, việc
thẩm định, thẩm tra thường do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành, còn phản
biện thì không nhất thiết như vậy.
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, phản biện có thể chia thành nhiều loại.
Nếu căn cứ vào phạm vi tiến hành, có thể chia thành phản biện rộng, phản biện
hẹp; căn cứ vào tính chất, có thể chia thành phản biện khoa học, phản biện đại
chúng; phản biện chính thức, phản biện không chính thức; phản biện nhà nước,
phản biện xã hội…
Như vậy, phản biện xã hội là một loại phản biện nhằm phân biệt với phản biện
nhà nước, đó là phản biện mang tính xã hội. Nếu phân tích về ngữ nghĩa
thì, ở đây, “xã hội” đóng vai trò tính từ để bổ nghĩa cho danh từ phản biện.
Cách hiểu thuật ngữ “xã hội” ở đây là để phân biệt với “nhà nước”, tương tự như
quy định của một số điều của Hiến pháp 1992[2]. Nếu nhìn nhận ở một góc độ khác
– phản biện xã hội đối với chủ trương, chính sách, đề án, quyết định của Đảng –
thì phản biện xã hội có thể được hiểu là phản biện “ngoài Đảng”.
Theo quan sát của chúng tôi, cách hiểu về thuật ngữ này trên các diễn đàn
còn chưa thống nhất do tính đa nghĩa của thuật ngữ “xã hội”. Một cách hiểu
tương đối phổ biến hiện nay coi phản biện xã hội là phép cộng của tất cả các
loại phản biện[3]. Đây là do cách hiểu từ “xã hội” theo nghĩa rộng: bao hàm tất
cả các thiết chế (do con người thành lập) và các cá nhân “cộng” lại. Điều này
không sai, nhưng cách hiểu như vậy là quá rộng.
Do vậy, trước khi bàn bạc về nội dung, phương thức và các vấn đề cụ thể của
phản biện xã hội, thiết nghĩ nên thống nhất, “khoanh” nội hàm của thuật ngữ
phản biện xã hội. Nếu không, có thể dẫn đến việc tiếp cận vấn đề quá rộng, thậm
chí có tác giả còn đồng nhất phản biện xã hội (với tính chất một loại hoạt động
của con người) với khái niệm “tương phản” trong thiên nhiên[4]. Chúng tôi cho
rằng, nên thống nhất cách hiểu phản biện xã hội nhằm phân biệt với phản biện
nhà nước, nằm “ngoài” Nhà nước như phân tích ở trên, vì đây cũng là cách hiểu
được thể hiện trong Báo cáo chính trị Đại hội X của Đảng: “Nhà nước ban hành cơ
chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản
biện xã hội. Các cấp ủy đảng và cấp chính quyền có chế độ tiếp xúc, đối thoại
trực tiếp với nhân dân; thường xuyên lắng nghe ý kiến của Mặt trận và các đoàn
thể nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước những vấn đề mà nhân dân quan tâm, tham
gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật”[5], và cũng là cách hiểu theo
cách diễn đạt của nhiều điều trong Hiến pháp như đã phân tích.
Tóm lại, phản biện xã hội đối với các vấn đề của Nhà nước là phản biện
“ngoài Nhà nước”[6], nhằm phân biệt với các hoạt động phản biện của Nhà nước –
một hoạt động nội tại của Nhà nước nhằm đảm bảo tính chính xác, phù hợp khi Nhà
nước hoạch định đường lối, chính sách.
Với cách hiểu như vậy, theo chúng tôi, phản biện xã hội không bao gồm phản
biện của Quốc hội, Hội đồng nhân dân như một số tác giả quan niệm[7]. Bản thân
phản biện xã hội có thể được chia thành: phản biện khoa học (ví dụ, do các nhà
khoa học hoặc các tổ chức khoa học thực hiện), phản biện đại chúng (chẳng hạn
lấy ý kiến đóng góp của công chúng), chứ không phân biệt phản biện xã hội với
phản biện khoa học như một số tác giả[8].
2. Mục đích, ý nghĩa của phản biện xã hội
Phản biện xã hội có mục đích, ý nghĩa cơ bản sau:
Thứ nhất, phát huy dân chủ, lắng nghe tiếng nói của người dân (và các
thiết chế của nhân dân) từ phía Nhà nước (các cấp, các ngành…) trong việc ra
các quyết định, nhất là các vấn đề trọng đại của quốc kế dân sinh, hoặc liên
quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Jean Jacques Rouseau, nhà khai sáng
kiệt xuất từng viết: “Trước khi dựng lâu đài lớn, nhà kiến trúc thăm dò xem đất
có chịu nổi trọng lượng của lâu đài hay không. Nhà lập hiến (lập pháp -NV)
thông minh không bắt tay ngay vào việc soạn thảo luật; trước đó ông xem xét dân
chúng là người tiếp nhận luật có thích ứng được với luật không”[9]. Tiếp cận
vấn đề một cách đơn giản nhất cũng thấy rằng, việc thêm nhiều người, nhiều tổ
chức cùng xem xét, bàn bạc, đánh giá, vấn đề sẽ được nhìn nhận toàn diện hơn.
Cũng như dân gian có câu “ba ông thợ da bằng ông Gia Cát”.
Thứ hai, phản biện xã hội là phương thức quan trọng để đạt được đồng
thuận xã hội. Xã hội, cộng đồng là tập hợp của nhiều cá nhân. Dân chủ là khi
quyết định các công việc chung, tiếng nói của mỗi cá nhân được lắng nghe, được
tiếp nhận. Tuy nhiên, khó có thể có quyết định nào “chiều” được ý kiến của tất
cả mọi người, vì các ý kiến đó nhiều khi khác nhau. Nếu không có tự do trong
tranh luận, chân lý khó có thể được tiếp cận. Do vậy, dân chủ gắn liền với thảo
luận, tranh luận, phản biện. Và thảo luận –
tranh luận – phản biện là quá trình đi tìm sự đồng thuận. Do vậy, phản biện là
hoạt động cần thiết trong thực hành dân chủ. Một Nhà nước của dân, do dân và vì
dân thì Nhà nước phải đi tìm sự đồng thuận của nhân dân trong việc ra các quyết
định. ở phương Tây có câu châm ngôn: "một hạt cát không làm nên sa mạc,
nhưng sa mạc được làm nên bởi những hạt cát". Bà Nguyễn Thị Xuân Mỹ – Chủ
tịch Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam (nguyên Chủ nhiệm ủy ban
kiểm tra Trung ương) có lý khi coi phản biện xã hội là “làm rõ mặt trái để làm
sáng tỏ mặt phải”[10]. Mỗi con người, mỗi chủ thể có “lăng kính” nhìn nhận với
“chiết suất” khác nhau. Tiếp cận, đánh giá vấn đề một cách đa diện, nhiều chiều
là phương thức quan trọng có tác dụng hạn chế, phòng ngừa việc quyết định chủ
quan, một chiều hoặc mang tính áp đặt. Albert Einstein, cha đẻ của Thuyết tương
đối lừng danh đã từng nói "Chúng ta không thể giải quyết vấn đề với cùng
một cách suy nghĩ khi tạo ra nó”.
Thứ ba, phản biện xã hội sẽ là phương thuốc hữu hiệu để chữa trị các
căn bệnh của người cầm quyền, như nạn tham nhũng, tệ bè phái, dối trá, lối sống
cơ hội… – những căn bệnh dường như rất khó loại trừ ở bất cứ chế độ chính trị
-xã hội nào[11]. Tính chất phản biện sẽ như những liều vắc xin có tác dụng
phòng ngừa, hạn chế sự tha hóa quyền lực, hoặc sự độc đoán, chuyên quyền – xu
thế mang tính tất yếu của người nắm giữ quyền lực. Chẳng phải bản thân nhà
nước, để tránh việc độc đoán, chuyên quyền, cũng cần phải phân định lập pháp,
hành pháp, tư pháp để cân bằng, đối trọng, kiểm tra chéo đó hay sao?
Thứ tư, dân chủ có nghĩa là nhân dân tường tận các hoạt động của
Đảng, Nhà nước và Đảng, Nhà nước tường tỏ suy nghĩ, trăn trở của người dân. Vì
vậy, ý Đảng, lòng dân thống nhất của một thời đấu tranh oanh liệt, đã tạo nên
sức mạnh vô biên mà kẻ thù không tin đó là sự thật. Phản biện xã hội sẽ là
“kênh” trao đổi thông tin hữu hiệu giữa các thiết chế quyền lực với nhân dân
tạo ra sức mạnh dân tộc trong điều kiện mới.
3. Định hướng và giải pháp để thực hiện phản biện xã hội có hiệu quả
a. Định hướng lâu dài
Về định hướng mang tính tổng thể, căn bản và lâu dài, việc đặt ra mục tiêu
xây dựng Nhà nước pháp quyền như Hiến pháp ghi nhận hiện nay là một điều kiện
quan trọng mang tính nền tảng cho việc xây dựng xã hội dân chủ, trong đó bao
hàm phản biện và giám sát xã hội. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một trong hai mặt
của một vấn đề: dân chủ xem xét dưới góc độ của nhà nước, thì nhà nước phải là
nhà nước pháp quyền, nếu nhìn nhận dưới góc độ xã hội thì xã hội đó phải là xã
hội dân sự. Suy cho cùng, dân chủ là mọi quyết định của các cơ quan, tổ chức,
các thiết chế quyền lực trong xã hội phải tính đến nguyện vọng, ý chí, lợi ích
của các nhóm xã hội. Do vậy, việc đặt ra mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền
thường mới chỉ nhìn nhận dưới góc độ tổ chức bộ máy nhà nước. Nói cách khác,
điểm nhấn khi nói về Nhà nước pháp quyền là việc thiết kế, xây dựng các thiết
chế, các định chế nhà nước, chưa phải là việc đánh giá tổ chức, vận hành của bộ
máy nhà nước như thế nào (nhất là trong điều kiện ở nước ta hiện nay). Đương
nhiên, Nhà nước, các cơ quan nhà nước cũng đã xây dựng một hệ thống các cơ quan
và nội quy, quy chế hoạt động để tự bản thân mỗi cơ quan, đơn vị kiểm tra, đánh
giá kết quả hoạt động và thậm chí kiểm tra chéo lẫn nhau trong các hệ thống,
các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, suy cho cùng, thì đó cũng là những hoạt động
trong “nội bộ” Nhà nước, còn sự tiếp nhận, đánh giá của xã hội đối với Nhà nước
như thế nào? Có đúng là do dân, vì dân không? Hay mức độ do dân, vì dân trong
các quyết sách của Nhà nước đến đâu, thì phải để cho nhân dân (xã hội) phản
biện, đánh giá. Muốn vậy, phải xây dựng xã hội dân sự. Xã hội dân sự sẽ đánh
giá tổ chức, vận hành của Nhà nước một cách rất khách quan, toàn diện theo những
tiêu chí của các nhóm xã hội khác nhau, vì tính đa nguyên của các nhóm xã hội,
thậm chí của từng cá nhân là bản chất của xã hội dân sự. Chẳng phải Lê -nin đã
từng nói rằng, hãy để cho người nông dân suy nghĩ trên mảnh đất, luống cày của
họ? Giáo sư Tương Lai cho rằng, xã hội dân sự có vai trò “đối quyền” của quyền
lực nhà nước[12]. Xét về góc độ triết học, đó là hai mặt “đối lập nhưng tồn tại
thống nhất” trong sự vận hành dân chủ, có có quan hệ biện biện chứng, không
tách rời nhau như bóng với hình, bổ sung, tương hỗ lẫn nhau. Phép biện chứng ở
đây là, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân: nhân dân giao quyền cho
Nhà nước nhưng không mất quyền; Nhà nước được nhận quyền nhưng không được tiếm
quyền (của nhân dân); Nhà nước cai quản xã hội bằng chế độ pháp quyền, nhân dân
phản biện và kiểm soát quyền lực Nhà nước bằng xã hội dân sự. Do vậy, định
hướng xây dựng xã hội văn minh dân sự bên cạnh mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp
quyền chính là điều kiện cần và đủ cho việc xây dựng xã hội dân chủ. Nhà nước
pháp quyền cần được xây dựng trên cơ sở của xã hội văn minh dân sự, ngược lại,
xã hội văn minh dân sự chỉ có thể vận hành khi nhà nước pháp quyền hiện diện –
một chế độ nhà nước có đủ khả năng “cầm trịch” cuộc chơi vốn công bằng và sòng
phẳng của xã hội văn minh dân sự.
Do vậy, cùng với xây dựng Nhà nước pháp quyền, cần đặt ra mục tiêu xây dựng
xã hội văn minh dân sự. “Đừng sợ xã hội dân sự”[13], đừng coi xã hội dân sự là
đối lập với Nhà nước[14].
b. Các giải pháp cụ thể
Để có những điều kiện mang tính nền tảng thúc đẩy sự phát triển của một xã
hội dân sự – “bà đỡ” cho phản biện xã hội ở nước ta, theo chúng tôi, cần chú
trọng những giải pháp:
Thứ nhất, cần nhanh chóng ban hành “Luật về hội”. Đây sẽ là cơ sở
pháp lý quan trọng cho việc định hình xã hội dân sự. Cùng với quyền ngôn luận,
quyền báo chí, quyền hội họp, quyền biểu tình, thì quyền lập hội là những quyền
cơ bản của con người, không những trong các văn kiện quốc tế[15], mà trong các
bản Hiến pháp nước ta đều trịnh trọng ghi nhận[16]. Những quyền này là những
quyền cơ bản nhưng mang tính sơ đẳng để đảm bảo vai trò của mỗi cá nhân trong
xã hội. Mỗi cá nhân đều có quyền thể hiện những điều mà mình nghĩ, có quyền
liên kết với nhau trên cơ sở chính trị, xã hội, tôn giáo, văn hóa… Tuy nhiên,
nếu chỉ là những cá nhân đơn độc, bị xé lẻ, bị cô lập thì tiếng nói, sự phản
biện của họ đối với Nhà nước bị hạn chế và họ cũng không thể tự làm chủ xã hội,
nếu chỉ bằng sự nỗ lực đơn lẻ của từng cá nhân. Thông qua quyền lập hội, các tổ
chức xã hội được thành lập và đó là tiếng nói có tổ chức của những người dân được
tập hợp lại với nhau để phản biện, kiểm soát Nhà nước, cùng Nhà nước và các
thiết chế chính trị khác trong hệ thống chính trị, xây dựng một xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, như trong thời kỳ đấu tranh cách mạng, nhân dân – Đảng
– Nhà nước đã cùng đồng tâm hiệp lực. Đảng, Nhà nước cần thực sự tôn trọng tính
xã hội của các tổ chức này.
Thứ hai, nếu chúng ta thực sự cầu thị, thực sự tôn trọng các ý kiến
khác nhau trên nền tảng lợi ích dân tộc, thì báo chí và phương tiện truyền
thông cần “tách” khỏi Nhà nước. Nói cách khác, Nhà nước không nên trực tiếp
“ôm” báo chí (và các phương tiện truyền thông khác) mà quản lý bằng luật pháp.
Nó là “của” xã hội, bởi lẽ nhân dân chỉ trao cho Nhà nước ba quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp, còn nhánh “quyền thứ tư” này nhân dân giữ lại. Mặt khác,
chế độ “kiểm duyệt” đối với báo chí và các phương tiện truyền thông cần phải
được xem xét, tiến tới loại bỏ, vì nó là tiếng nói của nhân dân, là phương tiện
để nhân dân phản biện và giám sát Nhà nước và các thiết chế quyền lực khác.
Thứ ba, để phản biện xã hội đa dạng về phương pháp, hình thức và
có hiệu quả, việc xây dựng hành lang pháp lý cho các quyền: quyền tự do
ngôn luận, quyền hội họp, quyền biểu tình là rất cần thiết. Chúng ta đã nói
nhiều đến phản biện xã hội, đến vai trò của phản biện xã hội trong việc phát
huy dân chủ. Có lẽ, đây là điều không cần bàn cãi. Phản biện xã hội có nhiều
hình thức và mức độ thể hiện khác nhau. Biểu tình là một trong những hình thức
thể hiện đó và đây là hình thức thể hiện sự phản kháng của một bộ phận xã hội.
Họ muốn phản bác, hoặc sửa đổi đối với một chủ trương, chính sách, quyết định
của Nhà nước và yêu cầu Nhà nước xem xét lại vấn đề đó. Rõ ràng, đó là một
trong những khả năng bình thường xảy ra của phản biện xã hội và quan trọng hơn,
đó là một quyền hết sức cơ bản, hết sức chính đáng của người dân[17].
Thứ tư, một việc làm không kém phần quan trọng là phải ban hành “Luật
về quyền được thông tin” của người dân. Để công dân làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội; để các tổ
chức xã hội phản biện về chủ trương, chính sách, đề án; để chức năng giám sát
xã hội đối với Đảng, Nhà nước có hiệu quả; nếu chúng ta thực tâm muốn chống
tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền…, thì không thể không
thực hiện việc thông tin cho xã hội, cho công dân. Đó phải là trách nhiệm của
Nhà nước, các cơ quan nhà nước. Nếu không, hiệu quả của phản biện xã hội và
giám sát xã hội sẽ không cao.
Thứ năm, như đã phân tích, định hướng, chủ trương của Đảng, Nhà nước
về phản biện xã hội là rõ ràng, có lẽ không cần nói thêm. Tuy nhiên, từ chủ
trương đến thực tiễn, từ lời nói đến việc làm có khi là một khoảng cách khá xa.
Tiến sĩ Trần Đăng Tuấn, tác giả của khá nhiều bài viết về phản biện xã hội rất
tinh tường và “tâm lý” khi đưa ra nhận định, đại ý rằng: Người ta thường hay
tán dương tranh luận dân chủ (chung chung), nhưng lại thường không thích cá
nhân (cụ thể) hay tranh luận, phản đối mình (mặc dù có thể mình sai), nhất là
những người dưới quyền[18] và hãy để ý đến một hiện tượng “rất thật” khác: Quan
sát nghị trường, dễ dàng nhận thấy: i) Hoạt động chất vấn mang tính “truy kích”
thường chỉ có ở các đại biểu vào “giai đoạn thoái trào”, không còn nằm trong
“cơ cấu”, hoặc các đại biểu “không quan chức”; và ii) Đối tượng bị chất vấn
thường chỉ là một số Bộ trưởng “thường thường”, ít khi là các đối tượng “nhạy
cảm”.
Từ vấn đề rất thực tế và “phổ thông” này, suy nghĩ lối tư duy giản đơn,
chúng ta có thể thấy: i) phản biện: từ lời nói đến việc làm không phải là việc
dễ dàng; ii) việc thực hiện phản biện, nếu chỉ trông cậy vào lương tâm, sự
nhiệt tình là cần thiết, nhưng chưa đủ.
Do đó, trước mắt cần phải xây dựng cơ chế, nhất là cơ chế pháp lý thật cụ
thể về phản biện xã hội theo hướng: Một là, cần phải có văn bản quy phạm
pháp luật (tốt nhất là Luật của Quốc hội) quy định cụ thể về đối tượng, phương
thức, quy trình, cách thức tiếp thu ý kiến… về phản biện xã hội. Việc quy định
như thế nào: trong một đạo luật về phản biện xã hội hay trong từng quyết định,
đường lối, chủ trương, đề án… của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện
phản biện xã hội – điều đó thuộc về kỹ thuật lập pháp; Hai là, phải khắc
phục tình trạng “hô hào” chung chung: trên cơ sở luật của Quốc hội (hoặc văn
bản pháp lý khác), phải đưa phản biện xã hội vào nội quy, quy chế của từng bộ,
từng ngành, từng cấp, từng cơ quan, đơn vị; Ba là, trong giai đoạn hiện
nay, nói đến phản biện xã hội, dù muốn hay không, không thể không nói đến vai
trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Hướng tư duy về vai
trò của Mặt trận cần đổi mới: nếu như trước đây, trong thời kỳ đấu tranh cách
mạng, thì sứ mệnh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc đặt lên
hàng đầu. Lúc này, đồng thuận xã hội để cùng Đảng, Nhà nước hợp thành một khối
thống nhất để đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Vì thế, Nhà nước cần có trách nhiệm
“nuôi dưỡng” Mặt trận, nhất là trong những ngày còn “chập chững”. Khác với
trước đây, trong tiến trình dân chủ hóa ngày nay, Mặt trận chuyển từ vai trò
“thuốc tăng lực” sang vai trò “chất đề kháng” đối với Nhà nước. Muốn vậy, cần
đảm bảo tính độc lập của Mặt trận. Cần khắc phục tính chất “nhà nước hóa” Mặt
trận và các đoàn thể xã hội (G.S Tương Lai cho rằng, tình trạng “nhà nước hóa”
đó thể hiện trong mối liên kết dọc với cơ cấu tổ chức, phương thức điều hành và
kinh phí họat động[19]). Mặt khác, đến nay Mặt trận đã vững vàng. Đó là những
lý do để Nhà nước “buông” Mặt trận và bản thân Mặt trận cũng nên chủ động
“thoát” khỏi Nhà nước về ngân sách. Đã đến lúc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
các tổ chức thành viên của Mặt trận và tất cả các tổ chức phi Chính phủ cần đổi
mới theo hướng tự chủ về tài chính. Đảng, Nhà nước cần tôn trọng tính xã hội
của các tổ chức đó, trả lại nó những gì đúng với bản chất của nó.
[1] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 44.
[2] Ví dụ, Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001)
quy định: “Đảng cộng sản Việt Nam,
đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,…, là lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội” (Điều 4). “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…” (Điều 30).
[3] Xem: Tr?n éang Tu?n, Ph?n bi? n xã h?i: m?t s? v?n d?
chung, T? p chí Cộng s?n, s? 17 (tháng 9-2006), tr. 38-43 và Tr?n éang Tu?n, Phuong
th?c th?c hi?n ph?n bi? n xã h?i, T? p chí C?ng s?n, s? 23 (tháng 12-2006), tr.
23-32; ho?c xem các ý ki? n phát bi?u trong H?i ngh? v? i các v? nguyên là lãnh
d? o é? ng, Nhà nu? c, các v? lão thành cách m?ng, nhân si, trí th? c và lãnh
đạo các tổ chức thành viên nhằm góp phần hoàn thiện "Đề án ph?n bi? n xã
h?i c?a MTTQ Vi?t Nam" (Ban Thu? ng tr?c UBTU MTTQ Vi?t Nam t? ch?c trong
hai ngày 3 và 4-7/2007) – http://www.mattran.org.vn/TinMoi/8.htm.
[4] Chẳng hạn, trong nhận định “Hãy nhìn xung quanh, ta sẽ
thấy đâu cũng có sự phản biện. Một cánh đồng lúa xanh êm đềm chứng minh có một
vẻ đẹp khác ngoài vẻ đẹp của núi non hùng vĩ. Người chơi bon sai bậc thượng
thừa giật mình trước một thế cây tự nhiên trong mé núi không ai để ý”; Xem Trần
Đăng Tuấn, Phản biện xã hội,
http://vietnamnet.vn/chinhtri/chongthamnhung/2006/08/600075/. Có lẽ, tác giả
muốn mượn hình ảnh tương phản trong thế giới tự nhiên để nói rằng phản biện xã
hội là hoạt động mang tính tự nhiên (quy luật). Chúng tôi chia sẻ với cách tư
duy đó. Tuy nhiên, theo chúng tôi, hai vấn đề này có bản chất khác nhau.
[5] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 124.
[6] Thêm nữa, phản biện xã hội đối với các vấn đề của Đảng
là phản biện “ngoài Đảng”. Tuy nhiên, do đặc thù của hệ thống chính trị nước
ta, khó có thể tách rời riêng biệt hệ thống tổ chức của Đảng với bộ máy nhà
nước, nên “ngoài Nhà nước” cũng đồng thời là “ngoài Đảng” và “ngoài Đảng” cũng
có thể được hiểu đồng thời là “ngoài Nhà nước”. Do vậy, đối với nước ta hiện
nay, nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn (có tính đến đặc thù của hệ thống chính trị)
phản biện xã hội có thể được hiểu là phản biện“ngoài Đảng, ngoài Nhà nước” và
chúng tôi cho rằng, quy định của Văn kiện của Đảng trong trích dẫn trên được hiểu
theo cách này.
[7] Xem: Trần Đăng Tuấn, Phương thức thực hiện phản biện xã
hội, bđd, tr. 23-32.
[8] Xem: Trần Đăng Tuấn, Phản biện xã hội: một số vấn đề
chung, bđd, tr. 38-43.
[9] Xem: Jean Jacques Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, Nxb.
TP. Hồ Chí Minh, 1992, tr. 77 (Bản dịch của Hoàng Thanh Đạm).
[10] Phát biểu tại Hội nghị với các vị nguyên là lãnh đạo
Đảng, Nhà nước, các vị lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức và lãnh đạo các
tổ chức thành viên nhằm góp phần hoàn thiện "Đề án phản biện xã hội của
MTTQ Việt Nam" (Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam tổ chức trong hai ngày
3 và 4-7/2007)- http://www.mattran.org.vn/TinMoi/8.htm.
[11] Nhìn nhận, đánh giá về nước ta hiện nay, có tác giả
cho rằng: “Chúng ta đừng tự cho mình là sạch sẽ một cách lý tưởng mà không dám
đụng đến những ung nhọt của mình..”, “Chúng ta đang là một cơ thể nhiều bệnh.
Đó là tham nhũng, bè phái, dối trá…”. Xem: Đặng Phong (Quang Thiện ghi), Thuyền
nhỏ phải lựa dòng, báo Tuổi trẻ chủ nhật, 17/12/2006).
[12] G.S Tương Lai, Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ
chức xã hội, Tạp chí Khoa học pháp lý (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, số
4 (41)/2007, tr, 8.
[13] Cách dùng từ của GS.TS Đặng Ngọc Dinh, ‘đừng sợ xã hội
dân sự’, vnexpress (online ngày 21/5/2006).
[14] Xem ”Xã hội dân sự không đối lập với nhà nước”,
VietNamNet ngày 12/6/2006.
[15] Điều 20 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người; Điều
22 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị .
[16] Hiến pháp 1992 quy định tại Điều 69: “Công dân có
quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội
họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.
[17] Trừ Hiến pháp 1946, tất cả các bản Hiến pháp sau này
của nước ta đều quy định về quyền biểu tình của công dân. (Điều 25, Hiến pháp
1959; Điều 67, Hiến pháp 1980; Điều 69, Hiến pháp 1992). Đặc biệt, Điều 67,
Hiến pháp 1980, cách quy định rất “xã hội dân sự” là “ Công dân có quyền… tự do
biểu tình…”
[18] Trần Đăng Tuấn, Phản biện xã hội,
http://vietnamnet.vn/chinhtri/chongthamnhung/2006/08/600075/
[19] G.S Tương Lai, Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ
chức xã hội, Tạp chí Khoa học pháp lý (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, số
(41)/2007, tr.10.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 111, THÁNG 11 NĂM 2007 - TS.
VŨ VĂN NHIÊM – Đại học Luật TPHCM