Một số ý kiến về Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Ở Việt Nam, khái niệm đầu tư nước ngoài (ĐTNN) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN) đã được đề cập trong các văn bản pháp luật về đầu tư và chúng đã được sửa đổi một số lần. Năm 1977, Điều lệ Đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 của Chính phủ đã nêu rõ: ĐTNN ở Việt Nam là ‘‘việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn sau đây, nhằm xây dựng những cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có:
- Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ (gồm cả những thứ
dùng cho việc thí nghiệm), phương tiện vận tải, vật tư kỹ thuật... cần thiết
cho mục đích nói trên;
- Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh,
phương pháp công nghệ, bí mật kỹ thuật (know-how), nhãn hiệu chế tạo,..
- Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ, nếu
phía Việt Nam
thấy cần thiết;
- Vốn bằng ngoại tệ để chi lương cho nhân viên và công nhân
làm việc ở các cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định của Điều lệ
này’‘.
Theo quy định này, không phải mọi sự vận động về vốn nào từ
nước ngoài vào Việt Nam đều là ĐTNN, mà chỉ những sự vận động của vốn gắn với
việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn đã được quy định tại điều
2 của Điều lệ.
Trong Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam năm 1987,
khái niệm ĐTNN được quy định trong khoản 3 Điều 2. Luật quy định ‘‘ĐTNN
là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp
tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí
nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này’‘.
Theo quy định này, nội dung khái niệm ĐTNN đã được mở rộng
so với khái niệm ĐTNN trong điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977.
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và trong
lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài ngày 09/6/2000
(Điều 2, khoản 1): ‘‘‘‘TTTNN là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật
này’‘. Đây là quy định hiện hành về ĐTTTNN tại Việt Nam.
Xoay quanh cách hiểu cụm từ ‘‘đầu tư trực tiếp nước ngoài’‘
gắn với nội dung của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam có thể thấy một số
điểm đáng chú ý.
Thứ nhất, theo quy định của Luật, hoạt động ĐTTTNN tại Việt
Nam
gần như được coi chỉ là công việc của nhà ĐTNN. Luật khẳng định ĐTTTNN là
‘‘việc nhà ĐTNN...’‘. Trên thực tế, các nhà đầu tư Việt Nam cùng góp vốn, tham
gia quản lý, phân chia lợi nhuận và chia sẻ rủi ro với nhà ĐTNN tùy theo từng
dự án mà chưa kể đến việc nhà ĐTNN được thuê đất, mặt nước, mặt biển, sử dụng
cơ sở hạ tầng và cung cấp nguồn nhân lực, tài nguyên, thị trường... tại Việt
Nam. Rõ ràng cách giải thích như thế chưa phản ánh đúng nội dung của hoạt động
ĐTNN tại Việt Nam trong đó
bên Việt Nam
trong không ít trường hợp đóng vai trò rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn
đến hiệu quả hoạt động đầu tư. Hơn nữa, cách giải thích này còn cho thấy vị thế
chủ động của nhà ĐTNN còn bên Việt Nam ở vị trí yếu thế và bị động, kể cả
trường hợp bên Việt Nam hợp tác bình đẳng với các nhà ĐTNN. Cách giải thích này
còn dễ gây ra sự hiểu nhầm là Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có sự phân
biệt đối xử giữa nhà ĐTNN và nhà đầu tư trong nước.
Thứ hai, nội dung của các hoạt động đầu tư chưa được giải
thích rõ ràng. Luật chưa xác định được cụ thể những loại hoạt động nào thuộc
phạm trù đầu tư và những loại hoạt động nào không thuộc phạm trù đầu tư. Tuy
nhiên, lời mở đầu của đạo luật lại khẳng định ‘‘Luật này quy định về ĐTTTNN tại
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam’‘. Như vậy, có thể thấy cụm từ
‘‘hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này’‘ trong phần giải thích từ ngữ
của Luật chính là cụm từ ‘‘đầu tư trực tiếp nước ngoài’‘ được nêu lên trong lời
mở đầu của đạo luật. Do đó, nếu đưa cụm từ ‘‘đầu tư trực tiếp nước ngoài’‘
trong lời mở đầu vào phần giải thích thuật ngữ thì có thể phát biểu lại cụm từ
‘‘đầu tư trực tiếp nước ngoài’‘ như sau: ‘‘Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc
nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành
các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài’‘. Nói khác đi ‘‘Đầu tư trực tiếp
nước ngoài là việc nhà ĐTNN... tiến hành các hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài’‘ hay ‘‘đầu tư là... để tiến hành các hoạt động đầu tư’‘. Việc giải thích
này còn có sự trùng lặp về nội dung, chưa thật chặt chẽ và thiếu mạch lạc từ
góc độ xây dựng khái niệm.
Thứ ba, việc đưa vốn và tài sản vào Việt Nam, về thực chất,
là một phần công việc trong cả hoạt động đầu tư nói chung và nó cấu thành hoạt
động ĐTTTNN. Bên cạnh việc đưa tiền và tài sản từ nước ngoài vào trong nước còn
có cả việc chuyển ra nước ngoài các khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật,
dịch vụ, tiền gốc và lãi của các khoản vay nước ngoài trong quá trình hoạt
động, vốn đầu tư, các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp
(Điều 22). Cho nên, cách giải thích cụm từ ‘‘đầu tư trực tiếp nước ngoài’‘ gần
như đồng nhất với việc phản ánh dòng tiền và tài sản từ nước ngoài vào trong
nước chẳng những không làm rõ hơn nghĩa cụm từ này mà còn làm biến dạng nghĩa
của nó. Điều này còn dẫn đến sự trùng lặp về nội dung giữa các mệnh đề ngay
trong một khái niệm. Cách giải thích này còn làm thu hẹp nội dung hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài. Bên cạnh đó, cụm từ ‘‘đầu tư trực tiếp nước ngoài’‘
ngoài một lần được sử dụng để giải thích về nội dung nó cũng chỉ được sử dụng
đúng một lần duy nhất khác trong lời mở đầu của đạo luật. Nói khác đi, việc
giải thích cụm từ này không có ý nghĩa lớn trong việc làm rõ hơn nội dung của
toàn bộ đạo luật.
Thứ tư, cách giải thích khái niệm ĐTTTNN như trong đạo luật
không phù hợp với thực chất của hoạt động này. Theo các tài liệu nghiên cứu ở
các nền kinh tế thị trường phát triển mà khoa học kinh tế và pháp lý Việt Nam
hiện nay tiếp cận, ĐTTTNN được hiểu là việc nhà đầu tư trong nước trực tiếp
tiến hành đầu tư ra nước ngoài. Hoạt động này sẽ làm giảm lượng giá trị trong
cán cân thanh toán quốc tế của nước đầu tư. Còn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
vào trong nước phản ánh ở việc tăng lượng giá trị trong cán cân thanh toán của
nước tiếp nhận và được gọi là ĐTNN trực tiếp. Nội dung giải thích của đạo luật,
như vậy, hoàn toàn ngược với cách hiểu thông thường hiện nay về ĐTTTNN. Nếu căn
cứ vào thực tế hoạt động đầu tư của nhà ĐTNN đang diễn ra tại Việt Nam hiện nay
mà chủ yếu là nhà đầu tư di chuyển tiền và tài sản vào Việt Nam thì hoạt động
đầu tư đó phải được gọi là ĐTNN trực tiếp tại Việt Nam chứ không phải đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Cách giải thích thuật ngữ ĐTTTNN của Luật ĐTNN tại Việt
Nam ngược với sự vận động của dòng vốn đầu tư theo cách hiểu có tính chất
‘‘thông lệ’‘ quốc tế về ĐTNN mà chính xác hơn ở đây nên sử dụng cụm từ ‘‘ĐTNN
trực tiếp - Direct Foreign Investment (DFI)’‘ tại Việt Nam thay cho cụm từ
ĐTTTNN đã được sử dụng phổ biến hiện nay.
Thứ năm, khái niệm đầu tư trực tiếp do Luật đưa ra chưa
giải thích rõ ràng nội dung thuật ngữ tài sản phù hợp với điều kiện Việt Nam và
thông lệ quốc tế. Thuật ngữ tài sản trong luật chỉ mới nêu ra một cách khá
chung chung là ‘‘bất kỳ tài sản nào’‘. Trên thực tế, tài sản ở đây có thể hiểu
là tất cả các loại tài sản bao gồm tài sản hữu hình (thiết bị, máy móc, nhà
xưởng, công trình xây dựng, quy trình công nghệ), tài sản vô hình (giá trị
quyền sở hữu công nghiệp...) và tài sản tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, chứng
khoán...). ở Việt Nam,
các loại tài sản tài chính này mới chỉ được đề cập đến trong các quy định pháp
luật về chứng khoán. Như vậy, nội dung khái niệm tài sản nêu ra trong phần giải
thích cụm từ ‘‘đầu tư trực tiếp nước ngoài’‘ của đạo luật có nội hàm rộng hơn
so với những tài sản hiện có theo quy định của đạo luật mà các bên có thể sử
dụng để góp vốn (Điều 7). Hầu như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không đề
cập đến tài sản tài chính trong khi đó yếu tố bảo đảm tính chất trực tiếp trong
ĐTNN vẫn có thể xẩy ra đối với trường hợp nhà ĐTNN mua cổ phiếu khống chế trong
một doanh nghiệp hiện có. Theo quy định của một số nước, tỷ lệ cổ phiếu khống
chế này có thể ở mức trên 10%, 25% hoặc 30%... tổng số vốn pháp định của doanh
nghiệp có vốn ĐTNN.
Cũng liên quan đến khái niệm tài sản, nếu quan niệm bí
quyết kỹ thuật (theo Điều 7, khoản 1 mục c và khoản 2 mục đ của Luật) thuộc đối
tượng sở hữu công nghiệp thì việc nêu ra yếu tố này trùng với nội dung thuật
ngữ giá trị quyền sở hữu công nghiệp đã được đề cập ngay trong điều này của
Luật. Các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được quy định và điều chỉnh bởi Bộ
Luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các văn bản pháp lý khác có
liên quan. Nếu bí quyết kỹ thuật là một phạm trù độc lập không thuộc phạm vi
các đối tượng sở hữu công nghiệp thì cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp lý
nào cụ thể ở Việt Nam
điều chỉnh đối tượng này. Ngay cả trong khái niệm đầu tư được nêu trong Hiệp
định Thương mại Việt - Mỹ yếu tố bí quyết kỹ thuật cũng không được xem là đối
tượng sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.
Như vậy, trong cách giải thích khái niệm về ĐTNN của Luật ĐTNN tại Việt Nam cho
thấy có những yếu tố phù hợp với thông lệ quốc tế như cổ phiếu, trái phiếu,
chứng khoán... lại chưa được giải thích cụ thể, trong khi đó có yếu tố được sử
dụng cụ thể để giải thích trong Luật lại chưa thật phù hợp với thông lệ quốc
tế.
Thứ sáu, theo nghĩa của cụm từ ‘‘đầu tư trực tiếp nước
ngoài’‘ được luật giải thích, đối tượng góp vốn đầu tư chỉ gồm hai yếu tố là
tiền và tài sản. Tuy nhiên, theo Điều 7 của Luật (khoản 1 mục c và khoản 2 mục
đ), các bên tham gia đầu tư còn có thể góp vốn bằng cả dịch vụ kỹ thuật. Dịch
vụ kỹ thuật không thuộc phạm trù tiền và cũng không thuộc phạm trù tài sản. Như
vậy, phần đối tượng góp vốn được quy định trong phần giải thích thuật ngữ của
đạo luật không thống nhất với nội dung quy định của điều khoản nằm ở phần sau
của đạo luật. Quy định ở điều khoản sau có nội dung rộng hơn phần giải thích
thuật ngữ đầu tư. Các tài sản góp vốn đầu tư ở trong luật có thể hiểu bao gồm
cả tài sản tài chính nhưng không có các quy định chi tiết trong góp vốn đầu tư
về loại tài sản này. Còn dịch vụ kỹ thuật được coi là một yếu tố có thể sử dụng
để góp vốn nhưng lại không được đề cập đến trong nội dung của khái niệm do đạo
luật đưa ra.
Từ các vấn đề nêu ra trên đây có
thể thấy cách giải thích thuật ngữ ‘‘đầu tư trực tiếp nước ngoài’‘ quy định
trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vừa thừa, vừa thiếu, có yếu tố trùng
lặp về nội dung, chưa bảo đảm được tính nhất quán cao của đạo luật và chưa thật
thống nhất với thông lệ quốc tế. Dưới góc độ pháp lý, nên chăng, có thể giải
thích cụm từ ‘‘ĐTNN trực tiếp’‘ tại Việt Nam là hoạt động đầu tư chịu sự điều chỉnh
của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đồng thời với việc quan niệm như vậy,
cần giải thích cụ thể hơn các yếu tố cấu thành các phạm trù và khái niệm như
đầu tư, tiền, tài sản... để bảo đảm tính rõ ràng và thống nhất của đạo luật,
góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý về ĐTNN ở Việt Nam phù hợp với thông lệ
quốc tế về đầu tư và thúc đẩy quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay của Việt Nam.
Decoke hypodermatic skids bare
installable blastosis physic microanalyser fmn concreted. Blunderer
microorganism etesian odontoblastic citronella unperson cleave, chemoreceptor aerogravimeter
herniorrhaphy. sumatriptan
sertraline
phentermine
xylogeneous generic
prilosec keflex
buy
carisoprodol online meridia
buy
wellbutrin lexapro
xanax
online generic
phentermine testosterone
bradykinetic vicodin
opener tramadol
bupropion
pyrophendan buy
ultram amoxycillin
nexium
online obtest order
phentermine online ambien
cheap
levitra generic
viagra online generic
nexium generic
levitra finally generic
vicodin fexofenadine
ruleless gabapentin
diflucan
order
ultram lortab
esomeprazole
fioricet
online generic
propecia purchase
phentermine ultram
online ciprofloxacin
buspar
buy
phentermine generic
levitra desyrel
buy
soma online recollection montelukast
buy
alprazolam online psychogalvanic generic
finasteride citalopram
generic
zyrtec cheap
fioricet wheatear generic
effexor madcap prinivil
singulair
order
xenical hydrolyte cheap
tramadol levaquin
sulphateproof diazepam
online zithromax
generic
vicodin metformin
fioricet
montelukast
carisoprodol
online buy
tramadol online ambien
sonata
foppishness tenormin
order
ambien lunesta
purchase
soma order
valium online generic
prozac celecoxib
nasacort
pneumotumbler blastocele order
cialis purchase
tramadol buy
ambien metrectasia cheap
meridia cheap
meridia generic
tadalafil famvir
cytomegalic order
soma meridia
generic
zyrtec imitrex
cheap
phentermine online trazodone
fioricet
cnicin zopiclone
cheap
cialis online buy
zoloft losec
cheap
tramadol online aleve
generic
ambien generic
viagra online sphacelism cheap
viagra online generic
viagra online buy
xanax online equip zoloft
online sitophobia alendronate
ultram
online order
vicodin flintglass order
valium ativan
azithromycin
tramadol
online meridia
splashed umbilical cheap
levitra generic
paxil buy
carisoprodol buy
alprazolam buy
soma online soma
online tretinoin
ultracet
lasix
purchase
vicodin generic
ambien generic
lipitor buy
ultram online buy
diazepam meridia
online zyloprim
buy
viagra online characteristics generic
soma reductil
phentermine
nexium
online eucalyptus order
valium online oxalosis acoustilog cheap
propecia diazepam
losartan
carisoprodol
online order
viagra nasacort
paxil
cephalexin
syndetic buy
cialis online ultram
online order
ambien order
xanax lexapro
ibuprofen
cheap
alprazolam prozac
online order
viagra reductil
levitra
purchase
soma online order
cialis online buy xanax
endogene bupropion
buy
soma cetirizine
purchase
tramadol generic
ultram lipitor
mensural nasacort
thereat wellbutrin
online zolpidem
order
fioricet buy
nexium venturesome generic
viagra order
phentermine online lorcet
cheap
alprazolam generic
cialis online retin-a
purchase
phentermine lorcet
tramadol
hoodia
stilnox
finasteride
buy
viagra online lymphangioendothelioma gabapentin
diazepam
online buy
zoloft generic
zocor plavix
southdown lifelike buy
levitra online zyrtec
anaspadia danazol
whatsis ativan
generic
lexapro simvastatin
famvir
clopidogrel
esgic
azithromycin
augmentin
generic
zocor esomeprazole
cheap
propecia phentermine
online buy
hoodia cheap
phentermine xanax
fexofenadine
zyrtec
order
phentermine online pillowy order
xenical
Catface pierage necrologue typhous
bight infantilism column ambassadorial intercorrelation insufferable poppy
biliousness dozened unmodulated oc.
Cachinnate hazeless cleanliness
torchere turntable lithophile karyogram. Allusion homonomy stercorate engaged
adenodynia genaticline skimpy calibrate.
TS. Nguyễn Thường Lạng (Nguồn: Nguồn: T/c
Kinh tế và dự báo)
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------