Mua bán đất bằng giấy tay sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu
"Tôi mua đất với giá 500 triệu đồng và được viết giấy tay xác nhận nhưng không công chứng. Đã gần 2
năm, người bán trốn tránh không giao đất hoặc trả lại tiền. Nếu tôi khởi kiện,Tòa án sẽ giải quyết thế nào?"(Trần Hoàng Long, TP HCM).
Trả lời:
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 119 Nghị định số 181/2004
ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (đã được sửa đổi, bổ
sung theo Nghị định số 17/2006 ngày 27/1/2006), hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân
xã, phường, thị trấn nơi có đất.
Việc anh mua đất nhưng chỉ viết giấy tay, không lập thành hợp
đồng và không có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND xã, phường,
thị trấn nơi có đất nên giao dịch đó bị coi là vô hiệu “”, vi phạm quy định tại
Điều 134 Bộ luật dân sự.
Trong trường hợp anh khởi kiện ra Tòa án và Tòa án tuyên giao
dịch giữa anh và người chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu, người chuyển
nhượng phải hoàn trả cho anh số tiền đã nhận. Ngoài ra, Tòa án sẽ xem xét lỗi
của các bên để buộc bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Theo
hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP
ngày 10/8/2004 về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ
án dân sự, hôn nhân và gia đình, thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch
giá trị quyền sử dụng đất do các bên thoả thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại
thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có.
Tòa án cấp quận, huyện là cơ quan có thẩm quyền xét xử tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền
giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự do anh khởi kiện.
Trong trường hợp bị đơn không có nơi cư trú nhất định, anh có
thể khởi kiện tại Tòa án nơi có mảnh đất chuyển nhượng (theo điểm c khoản 1
Điều 35 BLTTDS). Về thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp
hợp đồng dân sự, Điều 427 Bộ luật Dân sự quy định là hai năm, kể từ ngày quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân anh xâm phạm.
Thạc sĩ Phạm
Thanh Bình
(nguồn vnexpress.net)