Nghị định của chính phủ Số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Nghị định
của chính phủ Số 197/2004/NĐ-CP ngày 03
tháng 12 năm 2004
Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất
Chính phủ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
Nghị định:
Chương I
Những quy định chung
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế quy định tại Điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
2. Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA), nếu việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo yêu cầu của
nhà tài trợ khác với quy định tại Nghị định này thì trước khi ký kết Điều ước
quốc tế, cơ quan chủ quản dự án đầu tư phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem
xét, quyết định.
Trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết
hoặc gia nhập có quy định khác với quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo
quy định của Điều ước quốc tế đó.
3. Các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng Nghị định này:
a) Cộng đồng dân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục
vụ lợi ích chung của cộng đồng bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước
hỗ trợ;
b) Khi Nhà nước thu hồi đất không thuộc phạm vi quy định tại
khoản 1 Điều này.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình,
cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước
ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi chung là người bị
thu hồi đất).
2. Người bị thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất
bị thu hồi, được bồi thường đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư
theo quy định tại Nghị định này.
3. Nhà nước khuyến khích người có đất, tài sản thuộc phạm vi
thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định
này tự nguyện hiến, tặng một phần hoặc toàn bộ đất, tài sản cho Nhà nước.
Điều 3. Chi trả bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư
1. Nhà nước tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư và giải phóng mặt bằng:
a) Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất
thì tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Nghị định này được tính vào vốn đầu tư của
dự án;
b) Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng
đất, cho thuê đất có trách nhiệm chi trả trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định
của Nghị định này và được trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp;
c) Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam thì không phải trả tiền bồi thường hỗ trợ tái định cư;
trường hợp đã chi trả thì được trừ số tiền đã trả vào tiền sử dụng đất hoặc tiền
thuê đất phải nộp.
2. Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được xác định
thành một mục riêng trong tổng vốn đầu tư của dự án.
Điều 4. Tái định cư
Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại
Nghị định này mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một
trong các hình thức sau:
1. Bồi thường bằng nhà ở.
2. Bồi thường bằng giao đất ở mới.
3. Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.
Điều 5. Bồi thường, hỗ trợ
Bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi
đất theo quy định tại Nghị định này được quy định như sau:
1. Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước
thu hồi.
2. Bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất
và các chi phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi.
3. Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo
chuyển đổi nghề và hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất.
4. Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu tái định cư.
Chương II
bồi thường đất
Điều 6. Nguyên tắc bồi thường
1. Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện quy định tại
Điều 8 của Nghị định này thì được bồi thường;
trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh) xem xét để hỗ trợ.
2. Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được
bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để
bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có
quyết định thu hồi; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà,
nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng
tiền.
3. Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với nhà nước
theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ
tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước.
Điều 7. Những trường hợp thu hồi đất
mà không được bồi thường
1. Người sử dụng đất không đủ điều kiện theo quy định tại Điều
8 của Nghị định này.
2. Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất,
được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc
từ ngân sách nhà nước; được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm; đất
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền trả cho việc nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
3. Đất bị thu hồi thuộc một trong các trường hợp quy định tại
các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 Luật Đất đai 2003.
Việc xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư
trên đất đối với đất bị thu hồi quy định tại
khoản này được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 34 và Điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về
thi hành Luật Đất đai.
4. Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng.
5. Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích
công ích của xã, phường, thị trấn.
6. Người bị Nhà nước thu hồi đất có một trong các điều kiện
quy định tại Điều 8 của Nghị định này nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định
tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.
Điều 8. Điều kiện để được bồi thường đất
Người bị Nhà nước thu hồi đất, có một trong các điều kiện sau
đây thì được bồi thường:
1. Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật về đất đai.
2. Có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật về đất đai.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban
nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) xác
nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15
tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính
sách đất đai của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời
Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa
chính;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất
hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn
liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã
xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với
đất ở theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho
người sử dụng đất.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại
giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác,
kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên
có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ
tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân
dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.
5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường
trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo,
nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định,
không có tranh chấp.
6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy
tờ quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này, nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban
nhân dân cấp xã xác nhận là đất đó không có tranh chấp.
7. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết
định của toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc
quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được
thi hành.
8. Hộ gia đình cá nhân sử dụng đất không có các loại giấy tờ
quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng
10 năm 1993 đến thời điểm có quyết định
thu hồi đất, mà tại thời điểm sử dụng không vi phạm quy hoạch; không vi phạm
hành lang bảo vệ các công trình, được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã công bố
công khai, cắm mốc; không phải là đất lấn chiếm trái phép và được Uỷ ban nhân
dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp.
9. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất
mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính
sách đất đai của Nhà nước, nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý, mà hộ gia
đình, cá nhân đó vẫn sử dụng.
10. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có
các công trình là đình, đền, chùa, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được Uỷ ban
nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng
và không có tranh chấp.
11. Tổ chức sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
a) Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử
dụng đất đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
b) Đất nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp mà
tiền trả cho việc chuyển nhượng không có nguồn từ ngân sách nhà nước;
c) Đất sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá nhân.
Điều 9. Giá đất để tính bồi thường và
chi phí đầu tư vào đất còn lại
1. Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử
dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố
theo quy định của Chính phủ; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích
sử dụng.
2. Trường hợp thực hiện bồi thường chậm được quy định như sau:
a) Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường
gây ra mà giá đất tại thời điểm bồi thường do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố
cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất
tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn
giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời
điểm có quyết định thu hồi;
b) Bồi thường chậm do người bị thu hồi đất gây ra, nếu giá đất
tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi
thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm
bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường
theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
3. Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế người
sử dụng đất đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng bao gồm:
tiền thuê đất trả trước còn lại, chi phí san lấp mặt bằng và một số chi phí
khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất, mà đến thời điểm
Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được.
Điều 10. Bồi thường,
hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước
thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để
bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng
quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này.
2. Đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn ao liền
kề với đất ở trong khu dân cư, ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông
nghiệp cùng mục đích sử dụng còn được hỗ
trợ bằng tiền; giá tính hỗ trợ từ 20% đến 50% giá đất ở liền kề; mức hỗ trợ cụ
thể do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế tại địa phương.
3. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất thấp
hơn giá đất bị thu hồi thì ngoài việc được giao đất mới người bị thu hồi đất
còn được bồi thường bằng tiền phần giá trị chênh lệch; trường hợp bồi thường bằng
việc giao đất mới có giá đất cao hơn giá đất bị thu hồi thì bồi thường tương ứng
với giá trị quyền sử dụng đất của đất bị thu hồi.
4. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng
vượt hạn mức thì việc bồi thường được thực hiện như sau:
a) Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do được thừa kế, tặng
cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được bồi thường;
b) Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc
quy định tại điểm a khoản này thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường
chi phí đầu tư vào đất còn lại.
5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất
sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm
đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước
thu hồi thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư
vào đất còn lại và được hỗ trợ theo quy định sau:
a) Hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán
bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu,
nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất
nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông
nghiệp có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp;
Mức hỗ trợ bằng tiền cao nhất bằng giá đất bồi thường tính
theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp
tại địa phương; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ cụ thể cho phù hợp
với thực tế tại địa phương.
b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận
khoán không thuộc đối tượng tại điểm a khoản này, chỉ được bồi thường chi phí đầu
tư vào đất còn lại.
c) Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường
quốc doanh khi Nhà nước thu hồi, không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường
chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này là tiền không có nguồn gốc từ
ngân sách nhà nước.
6. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp, mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại
Điều 8 Nghị định này; nếu trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất
nông nghiệp có nguồn sống chính là nông nghiệp thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm
quyền xem xét để giao đất mới phù hợp điều kiện của địa phương.
7. Trường hợp đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất
công ích của xã, phường, thị trấn thì không được bồi thường về đất, người thuê đất
công ích của xã, phường, thị trấn được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Điều 11. Bồi thường đối với đất phi
nông nghiệp (trừ đất ở) của hộ gia đình, cá nhân
1. Đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh phi
nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân có nguồn gốc là đất ở đã được giao sử dụng
ổn định lâu dài hoặc có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo giá đất ở.
2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất phi nông
nghiệp có thời hạn do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho hoặc do
Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất được bồi thường theo giá đất phi nông
nghiệp; trường hợp sử dụng đất do Nhà nước hoặc do Uỷ ban nhân dân cấp xã cho
thuê theo thẩm quyền thì khi Nhà nước thu hồi chỉ được bồi thường chi phí đầu tư
vào đất còn lại.
Điều 12. Bồi thường đối với đất nông
nghiệp, đất phi nông nghiệp của tổ chức
1. Tổ chức đang sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp được
Nhà nước giao đã nộp tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng từ người sử dụng đất
hợp pháp, mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền trả cho việc nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì được bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất.
2. Tổ chức được Nhà nước cho thuê đất hoặc giao đất không phải
nộp tiền sử dụng đất hoặc đã nộp tiền sử dụng đất bằng tiền có nguồn gốc từ
ngân sách nhà nước thì không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; nếu
tiền chi phí đầu tư vào đất còn lại không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước
thì tiền chi phí đầu tư này được bồi thường.
3. Cơ sở của tổ chức tôn giáo đang sử dụng đất ổn định, nếu
là đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất thì không được
bồi thường, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Điều 13. Bồi thường đối với đất phi
nông nghiệp là đất ở
1. Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di
chuyển chỗ ở được bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu tái định cư hoặc
bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi và phù hợp với thực
tế ở địa phương.
2. Diện tích đất bồi thường bằng giao đất ở mới cho người có đất
bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất ở tại địa phương; trường hợp đất ở bị
thu hồi có diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn
cứ vào quỹ đất của địa phương và số nhân khẩu của hộ gia đình bị thu hồi đất,
xem xét, quyết định giao thêm một phần diện tích đất ở cho người bị thu hồi đất,
nhưng không vượt quá diện tích của đất bị thu hồi.
Điều 14. Xử lý một số trường hợp cụ thể
về đất ở
1. Trường hợp diện tích đất ở còn lại của người sử dụng đất
sau khi Nhà nước thu hồi nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo quy định của địa phương,
thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải hướng dẫn sử dụng theo quy hoạch chi tiết
xây dựng đô thị và quy hoạch điểm dân cư nông thôn; nếu người bị thu hồi đất có
yêu cầu Nhà nước thu hồi phần diện tích đất còn lại thì cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thu hồi đất để sử dụng theo quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch
xây dựng điểm dân cư nông thôn.
2. Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà thuộc đối
tượng không được bồi thường đất, nếu không còn nơi ở nào khác thì được Uỷ ban
nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết cho mua, thuê nhà ở hoặc giao đất
ở mới; người được thuê nhà hoặc mua nhà phải trả tiền mua nhà, thuê nhà, nộp tiền
sử dụng đất theo quy định.
Điều 15. Bồi thường đất ở đối với những
người đang đồng quyền sử dụng đất
1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất chung có đồng
quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo diện tích đất thuộc
quyền sử dụng; nếu không có giấy tờ xác định diện tích đất thuộc quyền sử dụng
riêng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì bồi thường chung cho các đối tượng
có đồng quyền sử dụng đất.
2. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn việc phân chia tiền bồi
thường đất ở của nhà chung cư cho các đối tượng đồng quyền sử dụng tại địa phương
mình.
Điều 16. Bồi thường đối với đất thuộc
hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn
1. Khi Nhà nước thu hồi đất nằm trong hành lang bảo vệ an
toàn xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn thì thực hiện bồi
thường, hỗ trợ theo quy định tại Nghị định này.
2. Trường hợp Nhà nước không thu hồi đất thì đất nằm trong phạm
vi hành lang an toàn được bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất,
thiệt hại tài sản gắn liền với đất như sau:
a) Làm thay đổi mục đích sử dụng đất thì được bồi thường bằng
tiền theo mức chênh lệch về giá trị quyền sử dụng đất;
b) Không làm thay đổi mục đích sử dụng đất, nhưng làm hạn chế
khả năng sử dụng của đất thì được bồi thường bằng tiền theo mức thiệt hại thực
tế. Mức bồi thường thiệt hại thực tế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cho
phù hợp đối với từng trường hợp cụ thể;
c) Nhà ở, công trình xây dựng khác và các tài sản khác nằm
trong phạm vi hành lang an toàn bị thiệt hại do phải giải tỏa thì được bồi thường
theo mức thiệt hại thực tế.
Điều 17. Xử lý các trường hợp tổ chức bị
thu hồi đất nhưng không được bồi thường
Tổ chức bị thu hồi đất mà không được bồi thường theo quy định
tại khoản 2 Điều 12 của Nghị định này; nếu phải di dời đến cơ sở mới thì được hỗ
trợ bằng tiền theo dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt; mức hỗ trợ tối
đa không quá mức bồi thường đất bị thu hồi do tổ chức, cá nhân được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất chi trả.
Chương III
Bồi thường tài sản
Điều 18. Nguyên tắc bồi thường tài sản
1. Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất
mà bị thiệt hại, thì được bồi thường.
2. Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất
mà đất đó thuộc đối tượng không được bồi thường thì tùy từng trường hợp cụ thể được
bồi thường hoặc hỗ trợ tài sản.
3. Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau
khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất công bố mà không được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cho phép xây dựng thì không được bồi thường.
4. Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau
ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà tại thời điểm xây dựng đã trái với mục đích sử dụng
đất đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xét duyệt thì
không được bồi thường.
5. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập sau khi có quyết định
thu hồi đất được công bố thì không được bồi thường.
6. Hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất có thể tháo dời và
di chuyển được, thì chỉ được bồi thường các chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt
và thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt; mức bồi thường do Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh quy định phù hợp với pháp luật hiện hành và thực tế ở địa phương.
Điều 19. Bồi thường nhà, công trình xây
dựng trên đất
1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình,
cá nhân, được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu
chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành. Giá trị xây dựng mới của
nhà, công trình được tính theo diện tích xây dựng của nhà, công trình nhân với đơn
giá xây dựng mới của nhà, công trình do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo
quy định của Chính phủ.
2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác không thuộc đối tượng
quy định tại khoản 1 Điều này được bồi thường theo mức sau:
|
Mức
bồi thường nhà, công trình
|
=
|
Giá
trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại
|
+
|
Một
khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình
|
Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định
bằng tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân với giá trị
xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng
ban hành.
Một khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có
của nhà, công trình do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường
tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn
kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại;
Đối với công trình kết cấu hạ tầng kỹ
thuật, mức bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ
thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành; nếu công trình không còn sử dụng thì
không được bồi thường.
3. Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần,
mà phần còn lại không còn sử dụng được thì được bồi thường cho toàn bộ nhà,
công trình; trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, nhưng
vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công
trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn
kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.
4. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp
quy định tại các khoản 4, 6, 7 và 10 Điều 38
Luật Đất đai 2003 thì không được bồi thường.
5. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp
quy định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 9, 11 và 12 Điều 38 Luật Đất đai 2003 thì việc
xử lý tài sản theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29
tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
Điều 20. Xử lý các trường hợp bồi thường,
hỗ trợ cụ thể về nhà, công trình
1. Nhà, công trình khác được phép xây dựng trên đất có đủ điều
kiện bồi thường quy định tại Điều 8 của Nghị định này thì được bồi thường theo
quy định tại Điều 19 của Nghị định này.
2. Nhà, công trình khác không được phép xây dựng thì tùy theo
mức độ, tính chất hợp pháp của đất, nhà và công trình được bồi thường hoặc hỗ
trợ theo quy định sau:
a) Nhà, công trình khác xây dựng trên đất có đủ điều kiện được
bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này thì được bồi thường theo
quy định tại Điều 19 của Nghị định này;
b) Nhà, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện được
bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này, nhưng tại thời điểm xây
dựng mà chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền công bố
hoặc xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, không vi phạm hành lang
bảo vệ công trình thì được hỗ trợ tối đa bằng 80% mức bồi thường quy định tại Điều
19 của Nghị định này;
c) Nhà, công trình khác được xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm
2004 trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 của
Nghị định này, mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được
công bố và cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc thì
không được bồi thường; trường hợp đặc biệt, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét hỗ
trợ cho từng trường hợp cụ thể.
3. Nhà, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện được
bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này, mà khi xây dựng đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông báo không được phép xây dựng thì không được
bồi thường, không được hỗ trợ; người có công trình xây dựng trái phép đó buộc
phải tự phá dỡ và tự chịu chi phí phá dỡ trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền
thực hiện phá dỡ.
Điều 21. Bồi thường nhà, công trình đối
với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước
1. Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (nhà thuê
hoặc nhà do tổ chức tự quản) nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ, thì người
đang thuê nhà không được bồi thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước
và diện tích cơi nới trái phép, nhưng được bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa
chữa, nâng cấp; mức bồi thường do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
2. Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bị phá dỡ được thuê nhà ở tại nơi tái định cư; diện tích
thuê mới tại nơi tái định cư tương đương với diện tích thuê cũ; giá thuê nhà là
giá thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước; nhà thuê tại nơi tái định cư được Nhà nước
bán cho người đang thuê theo quy định của Chính phủ về bán nhà ở thuộc sở hữu
nhà nước cho người đang thuê; trường hợp đặc biệt không có nhà tái định cư để bố
trí thì được hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới; mức hỗ bằng 60% giá trị đất
và 60% giá trị nhà đang thuê.
Điều 22. Bồi thường về di chuyển mồ mả
Đối với việc di chuyển mồ mả, mức tiền bồi thường được tính
cho chi phí về đất đai, đào, bốc, di chuyển, xây dựng lại và các chi phí hợp lý
khác có liên quan trực tiếp. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường cụ
thể cho phù hợp với tập quán và thực tế tại địa phương.
Điều 23. Bồi thường đối với công trình
văn hoá, di tích lịch sử, nhà thờ, đình, chùa, am, miếu
Đối với các dự án khi thu hồi đất có các công trình văn hoá, di
tích lịch sử, nhà thờ, đình, chùa, am, miếu trong trường hợp phải di chuyển thì
việc bồi thường cho việc di chuyển các di tích lịch sử, công trình văn hoá, nhà
thờ, đình, chùa, am, miếu do Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với công trình
do trung ương quản lý, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với
công trình do địa phương quản lý.
Điều 24. Bồi thường đối với cây trồng,
vật nuôi
1. Mức bồi thường đối với cây hàng năm được tính bằng giá trị
sản lượng của vụ thu hoạch đó. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính
theo nă