NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 53/2006/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 5 NĂM 2006 VỀ CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN CÁC CƠ SỞ CUNG ỨNG DỊCH VỤ NGOÀI CÔNG LẬP
NGHỊ ĐỊNH
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 53/2006/NĐ-CP
NGÀY 25 THÁNG 5 NĂM 2006
VỀ CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN CÁC CƠ SỞ
CUNG ỨNG DỊCH VỤ NGOÀI CÔNG LẬP
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Nghị
quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã
hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao;
Theo đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
NGHỊ ĐỊNH:
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Đối tượng điều chỉnh
1. Nghị định này áp dụng đối với cơ sở ngoài công lập
hoạt động trong các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo; y tế; văn hoá; thể dục thể
thao; khoa học và công nghệ; môi trường; xã hội; dân số, gia đình, bảo vệ chăm
sóc trẻ em.
2. Tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp thuộc các
lĩnh vực nêu tại khoản 1 Điều này hoạt động theo Luật Doanh nghiệp không thuộc
phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.
Điều 2. Cơ sở ngoài công lập
1. Cơ sở ngoài công lập là cơ sở do các tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc
cộng đồng dân cư thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự bảo đảm kinh phí
hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước và hoạt động theo quy định của pháp
luật.
2. Cơ sở ngoài công lập được thành lập theo quy hoạch,
kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn
hoá, thể dục thể thao, khoa học - công nghệ, môi trường, xã hội, dân số, gia
đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em.
3. Cơ sở ngoài công lập được thành lập theo quy định
của pháp luật có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, có con dấu và tài khoản
riêng. Cùng với việc củng cố các cơ sở công lập, Nhà nước khuyến khích phát
triển các cơ sở ngoài công lập, đồng thời tạo điều kiện cho các tổ chức, cá
nhân đầu tư vốn và huy động các nguồn lực trong nhân dân, của các tổ chức thuộc
mọi thành phần kinh tế để thành lập, xây dựng và phát triển các cơ sở ngoài
công lập phù hợp với định hướng phát triển của nhà nước.
Điều 3. Nguyên tắc hoạt động
1. Nhà nước, xã hội coi trọng và đối xử bình đẳng đối
với các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở ngoài công lập như cơ sở công lập.
2. Nhà nước áp dụng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh
nghiệp cho các cơ sở ngoài công lập để khuyến khích đầu tư tăng cường cơ sở vật
chất, nâng cao chất lượng dịch vụ.
3. Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ cho các đối
tượng chính sách xã hội khi thụ hưởng các dịch vụ do cơ sở ngoài công lập cung
cấp; phương thức hỗ trợ do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
4. Các cơ sở ngoài công lập được tham gia các dịch vụ
công do Nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp đồng, dự án
sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù hợp với chức năng, nhiệm vụ hoạt động
theo quy định của pháp luật.
Cơ sở y tế ngoài công lập có đủ điều kiện khám, chữa
bệnh theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước về y tế, được phép tổ chức khám
chữa bệnh cho các đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế và do người có thẻ bảo hiếm y
tế tự lựa chọn nơi khám, chữa bệnh.
5. Các cơ sở ngoài công lập được liên doanh, liên kết
với các tổ chức trong và ngoài nước phù hợp với chức năng, nhiệm vụ hoạt động
nhằm huy động vốn, nhân lực và công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ.
6. Tài sản được hiến, tặng hoặc viện trợ không hoàn
lại trong quá trình hoạt động của cơ sở ngoài công lập không được chia cho cá
nhân, chỉ sử dụng chung cho lợi ích của cơ sở và cộng đồng.
Chương II
CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN
CÁC CƠ SỞ NGOÀI CÔNG LẬP
Điều 4. Cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất
1. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương sử dựng quỹ nhà, cơ sở hạ tầng hiện có, hoặc xây dựng nhà cửa, cơ sở hạ tầng
để cho các cơ sở ngoài công lập thuê dài hạn với giá ưu đãi. Mức giá ưu đãi tối
đa không bao gồm tiền thuê đất, tiền đền bù giải phóng mặt bằng và tiền lãi vay
vốn xây dựng.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở ngoài công lập đầu tư
xây dựng trường học, bệnh viện, cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở bảo vệ chăm sóc trẻ
em, cơ sở nghiên cứu và phát triển công nghệ, khu vui chơi, khu thể thao, bảo tàng,
thư viện, nhà văn hoá, rạp hát, rạp chiếu phim... theo quy hoạch được cấp có thẩm
quyên phê duyệt.
Điều 5. Giao đất, cho thuê đất
1. Các cơ sở ngoài công lập được Nhà nước giao đất
hoặc cho thuê đất để xây dựng các công trình hoạt động trong lĩnh vực quy định
tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định này theo các hình thức:
a) Giao đất không thu tiền sử dụng đất;
b) Giao đất miễn thu tiền sử dụng đất;
c) Cho thuê đất và miễn tiền thuê đất.
2. Cơ sở ngoài công lập sử dụng đất hợp pháp được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đất hợp
pháp, quyền sở hữu nhà và tài sản theo quy định của pháp luật. Trình tự và thủ
tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện
theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai.
3. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương có trách nhiệm điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của địa phương, ưu tiên
dành quỹ đất cho các cơ sở ngoài công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục -
đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học - công nghệ, môi trường, xã
hội, dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em.
4. Các cơ sở ngoài công lập phải sử dụng đất đúng mục
đích, đúng quy hoạch và chấp hành đúng các quy định của pháp luật về đất đai.
Khi hết thời hạn giao đất, thuê đất nếu cơ sở không có nhu cầu tiếp tục sử dụng,
bị giải thể, chuyển đi nơi khác hoặc sử dụng đất không đúng mục đích, không có hiệu
quả thì nhà nước sẽ thu hồi lại đất và thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ theo
quy định của pháp luật hiện hành.
5. Cơ sở ngoài công lập được nhà nước giao đất và miễn
thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất và miễn thu tiền thuê đất không được tính
giá trị đất đai đang sử dụng vào giá trị tài sản của mình và không được đùng
đất đai làm tài sản thế chấp đế vay vốn.
6. Đối với đất nhận chuyển nhượng hợp pháp từ các tổ
chức cá nhân, cơ sở ngoài công lập được tính giá trị quyền sử dụng đất đang sử
dụng vào tài sản của mình.
Điều 6. Xử lý tài sản khi chuyển đổi hình thức hoạt động
1. Đối với đất: các cơ sở công lập, bán công được cấp
có thẩm quyền quyết định chuyển sang loại hình ngoài công lập hoặc doanh
nghiệp, được Nhà nước tiếp tục giao đất cho cơ sở hoạt động. Đối với đất không
đưa vào sử dụng, hoặc sử dụng không đúng mục đích cơ sở phải trả lại cho Nhà nước.
2. Đối với tài sản trên đất: phần tài sản của nhà nước
đã đầu tư được kiểm kê, đánh giá lại theo quy định và cho cơ sở ngoài công lập
thuê hoặc ưu tiên mua lại.
Cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển cơ sở công
lập, bán công thành cơ sở ngoài công lập có quyền quyết định việc bán và cho
thuê phần tài sản thuộc sở hữu nhà nước cho cơ sở ngoài công lập theo quy định
quản lý tài sản hiện hành.
Đối với cơ sở do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành
lập, nay chuyển sang loại hình ngoài công lập hoặc doanh nghiệp, việc chuyển
giao tài sản nhà nước giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định.
3. Trường hợp bộ phận bán công thuộc các cơ sở công
lập được cấp có thẩm quyền quyết định chuyển trở về cơ sở công lập phải tiến
hành kiểm kê, định giá tài sản theo quy định để theo dõi, quản lý theo chế độ
quản lý tài sản hiện hành.
Tài sản hình thành từ vốn huy động ngoài ngân sách nhà
nước để mua sắm, xây dựng trong quá trình hoạt động của bộ phận bán công được
xử lý như sau:
a) Trường hợp người góp vốn muốn nhận lại tài sản thì
tài sản sẽ được trả lại cho người góp vốn;
b) Trường hợp cơ sở công lập tiếp nhận có nhu cầu sử dụng
và đồng ý tiếp nhận tài sản thì thông qua Hội đồng định giá để xác định giá làm
cơ sở thanh toán với người góp vốn;
c) Trường hợp cơ sở công lập không có nhu cầu sử dụng
tài sản và người góp vốn không muốn nhận, tài sản sẽ được bán thanh lý để trả
lại cho người góp vốn;
4. Trường hợp cơ sở dân lập chuyển đổi thành cơ sở tư
thục (tư nhân) trong đó, số tài sản được tích lũy từ kết quả hoạt động của cơ
sở dân lập là thuộc sở hữu tập thể, được xác định và chuyển giao cho cơ sở tư thục
quản lý và sử dụng theo nguyên tắc bảo tồn, phát triển, không được chia cho cá
nhân và dược nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật.
Điều 7. Lệ phí trước bạ, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu
1. Các cơ sở ngoài công lập được miễn lệ phí trước bạ
khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.
2. Các cơ sở ngoài công lập được ưu đãi về thuế giá
trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định của Luật Thuế giá
trị gia tăng, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các quy định hiện hành.
Điều 8. Về áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp
1. Nguyên tắc áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp:
Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cao cho các
cơ sở ngoài công lập nhằm khuyến khích cơ sở sử dụng chênh lệch thu chi (lãi thu
được trong quá trình hoạt động) để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất hoặc hỗ trợ
cho các đối tượng thụ hưởng dịch vụ do cơ sở cung cấp.
2. Về thuế suất:
a) Cơ sở ngoài công lập trong các lĩnh vực giáo dục, y
tế, văn hoá, thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, xã hội, dân số, gia
đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em có các hoạt động: dạy học; dạy nghề; y tế dự
phòng, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và kế hoạch hoá gia đình; biểu
diễn ca, múa, nhạc dân tộc, nghệ thuật dân tộc, chiếu phim; sưu tầm, bảo tồn,
phát triển, phổ biến văn hoá dân tộc; triển lãm và hoạt động thể dục thể thao, nghiên
cứu triển khai, vệ sinh môi trường; chăm sóc người già, chăm sóc trẻ em, người
tàn tật; cai nghiện ma tuý, được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là
10% trong suốt thời gian hoạt động.
b) Cơ sở ngoài công lập có các hoạt động khác thực
hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật.
3. Về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp:
Việc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ sở
ngoài công lập thực hiện theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trình tự, thủ tục, phương pháp xác định số thuế được miễn, giảm theo quy định
của pháp luật về thuế hiện hành.
Điều 9. Huy động vốn đầu tư
1. Cơ sở ngoài công lập đầu tư các dự án hoạt động
trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo và y tế được hưởng các loại hình ưu đãi tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
2. Cơ sở ngoài công lập được phép huy động vốn dưới
dạng góp cổ phần, vốn góp từ người lao động trong đơn vị, huy động các nguồn
vốn hợp pháp khác thông qua hợp tác, liên kết với doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế, tổ chức tài chính, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất.
3. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương tùy theo khả năng ngân sách của địa phương xem xét, quyết định việc hỗ trợ
một phần hoặc toàn bộ lãi vay cho các cơ sở ngoài công lập thực hiện đầu tư cho
các dự án thuộc các lĩnh vực nêu tại Điều 1 Nghị định này.
Điều 10. Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Người lao động thuộc cơ sở ngoài công lập thực hiện
chế độ bảo hiếm xã hội và bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 11. Đào tạo cán bộ
1. Cơ sở ngoài công lập có kế hoạch và chủ động thực
hiện các hình thức đào tạo để nâng cao trình độ cho người lao động, bảo đảm đáp
ứng yêu cầu về nghiệp vụ theo quy định của ngành, nghề hoạt động.
2. Ủy ban nhân dân các cấp tuỳ theo khả năng ngân sách
của địa phương xem xét hỗ trợ kinh phí đào tạo cho đội ngũ cán bộ thuộc các cơ
sở ngoài công lập trong trường hợp cần thiết.
Điều 12. Khen thưởng
1. Tập thể và người lao động trong các cơ sở ngoài
công lập có thành tích xuất sắc được Nhà nước khen thưởng theo quy định của
Chính phủ.
2. Theo phạm vi quản lý, các Bộ, ngành, địa phương
hướng dẫn quy trình, thủ tục xét, khen thưởng các danh hiệu thi đua đối với tập
thể và người lao động làm việc tại các cơ sở ngoài công lập.
Chương III
NGUỒN THU VÀ PHÂN PHỐI KẾT QUẢ TÀI CHÍNH
Điều 13. Nguồn thu của cơ sở ngoài công lập
1. Thu phí, lệ phí theo quy định của Nhà nước.
Đối với những khoản thu phí, lệ phí Nhà nước không quy
định mức thu, cơ sở ngoài công lập được tự quyết định.
2. Thu từ hoạt động cung cấp
hàng hoá, dịch vụ khác.
3. Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên
kết; lãi từ tiền gửi ngân hàng, trái phiếu.
4. Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp (nếu có) bao
gồm:
a) Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước đặt
hàng;
b) Kinh phí hỗ trợ thực hiện các đề tài nghiên cứu
khoa học và công nghệ;
c) Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc
gia;
d) Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng
người lao động;
đ) Các khoản tài trợ, hỗ trợ lãi suất;
e) Khoản kinh phí khác.
5. Nguồn khác: viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng.
Điều 14. Phân phối kết quả tài chính của cơ sở ngoài công lập
1. Căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính hàng năm,
thu nhập của cơ sở ngoài công lập sau khi đã trang trải các khoản chi phí, chi
trả lại vay, nộp đủ thuế cho ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
được phân phối để trích lập các quỹ và chia lãi cho các thành viên góp vốn.
2. Việc trích lập các quỹ, mức chi trả thu nhập cho
người lao động và chia lãi cho các thành viên góp vốn do Hội đồng quản trị (hay
Hội đồng trường) hoặc Thủ trưởng (đối với cơ sở không có Hội đồng quản trị) cơ
sở ngoài công lập quyết định phù hợp với Điều lệ tổ chức hoạt động của cơ sở.
Điều 15. Trách nhiệm của cơ sở ngoài công lập
1. Các cơ sở ngoài công lập phải đăng ký với cơ quan
thuế khi hoạt động làm căn cứ xác định ưu đãi về thuế.
2. Cơ sở ngoài công lập phải tuân thủ theo điều lệ
hoạt động, bảo đảm các điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ, nhân lực, cơ sở vật
chất theo quy định của pháp luật để cung cấp cho xã hội các sản phẩm, dịch vụ
đạt yêu cầu, tiêu chuẩn về nội dung và chất lượng.
3. Cơ sở ngoài công lập có trách nhiệm thực hiện công
khai hoạt động, công khai tài chính theo quy định của pháp luật, công khai mức
hỗ trợ và số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ (nếu có).
Định kỳ báo cáo tình hình hoạt động và tài chính của
cơ sở gửi cơ quan quản lý ngành, cơ quan tài chính và cơ quan thuế cùng cấp
theo quy định của pháp luật.
4. Cơ sở ngoài công lập có trách nhiệm thực hiện yêu
cầu về thanh tra, kiểm tra của cơ quan tài chính và các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu liên quan đến nội dung thanh
tra, kiểm tra, và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin,
tài liệu cung cấp.
5. Cơ sở ngoài công lập có trách nhiệm tổ chức thực
hiện công tác kế toán, thống kê, kiểm toán theo quy định của pháp luật.
Chương IV
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỚ NGOÀI CÔNG LẬP
Điều 16. Quản lý nhà nước đối với cơ sở ngoài công lập
1. Các Bộ chuyên ngành và Ủy ban nhân dân các cấp thực
hiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở ngoài công lập theo phạm vi, chức năng,
nhiệm vụ và phân cấp của cơ quan có thẩm quyền; trong đó, cần tập trung thực
hiện:
a) Xây dựng định hướng xã hội hoá trong từng lĩnh vực
làm căn cứ cho các cấp, các ngành và nhà đầu tư có cơ sở thực hiện;
b) Ban hành các chính sách, chế độ khuyến khích xã hội
hoá phù hợp với các hình thức hoạt động, phù hợp với yêu cầu phát triển của
từng lĩnh vực trong từng thời kỳ và từng khu vực;
c) Quản lý thống nhất về nội dung, chương trình, yêu
cầu về số lượng, chất lượng dịch vụ trong từng lĩnh vực làm cơ sở cho việc tổ
chức thực hiện và theo dõi, giám sát của các cấp, các ngành và toàn xã hội;
d) Cấp giấy phép và thu hồi giấy phép theo quy định
đối với các cơ sở ngoài công lập;
đ) Quản lý, tạo điều kiện về hợp tác quốc tế đối với
các cơ sở ngoài công lập thuộc phạm vi phụ trách;
e) Thanh tra, kiếm tra việc thực hiện các quy định của
Nhà nước đối với các cơ sở ngoài công lập; xử lý các vi phạm theo quy định của
pháp luật.
2. Bộ trưởng các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Lao động -
Thương binh và Xã hội, Y tế, Văn hoá - Thông tin, Khoa học và Công nghệ, Tài
nguyên và M��i trường, Nội vụ, Ủy ban Thể dục Thể thao, Ủy ban Dân số, Gia đình
và Trẻ em theo chức năng, quyền hạn của mình, phối hợp với Bộ Tài chính và các
Bộ, ngành liên quan ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết
định:
a) Quy định điều kiện thành lập và hoạt động đối với
cơ sở ngoài công lập. Ban hành tiêu chuẩn hoá về lao động nghiệp vụ, cơ sở vật
chất đối với cơ sở ngoài công lập;
b) Quy định điều kiện, thủ tục và danh sách các cơ sở
công lập chuyển sang loại hình ngoài công lập hoặc hoạt động theo loại hình
doanh nghiệp;
c) Xác định lộ trình và thủ tục chuyển các cơ sở bán
công sang loại hình ngoài công lập hoặc hoạt động theo loại hình doanh nghiệp.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương căn cứ vào tình hình cụ thể của từng địa phương để có các chính sách
chế độ ưu đãi thêm nhằm khuyến khích, thúc đẩy, mở rộng các hình thức xã hội
hoá trên địa bàn.
4. Các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng chương trình và có biện pháp quản lý
chặt chẽ hoạt động của các cơ sở ngoài công lập, bảo đảm đúng mục đích, nội
dung hoạt động và chất lượng dịch vụ theo quy định của từng chuyên ngành.
5. Định kỳ hàng năm các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đánh giá tình hình thực hiện xã hội
hoá thuộc phạm vi quản lý, gửi báo cáo về Bộ Tài chính, Bộ chuyên ngành và các
cơ quan có liên quan để tổng hợp, báo cáo Chính phủ.
Điều 17. Thẩm quyền cho phép thành lập, chuyển đổi hình thức
hoạt động từ công lập sang ngoài công lập và đình chỉ, giải thể hoạt động.
1. Cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập các cơ
sở công lập, bán công thì có quyền quyết định việc chuyển đổi loại hình hoạt
động từ công lập, bán công sang ngoài công lập, hoặc chuyển đổi cơ sở công lập
sang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp.
2. Thẩm quyền cho phép thành lập mới cơ sở ngoài công
lập thuộc các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thể thao, khoa học và
công nghệ, môi trường, xã hội, dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em theo
quy định của pháp luật.
3. Cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập các cơ sở
ngoài công lập thì có quyền đình chỉ hoạt động hoặc giải thể khi các cơ sở
ngoài công lập vi phạm nghiêm trọng giấy phép hoạt động được cấp hoặc vi phạm
các quy định của pháp luật.
Điều 18. Thành lập các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài
Việc thành lập các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài
trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể thao, khoa học và công
nghệ, môi trường, xã hội, dân số, gia đình, bảo vệ và chăm sóc trẻ em thực hiện
theo quy định của pháp luật.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 19. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ
ngày đăng Công báo và thay thế Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999
của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong
lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao.
Các quy định trước đây về chính sách khuyến khích xã
hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao
trái với quy định tại Nghị định này đều bãi bỏ.
Các cơ sở ngoài công lập được thành lập theo Nghị định
số 73/1999NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ phải đăng ký với cơ quan
cấp phép hoạt động và cơ quan thuế để tiếp tục được hưởng các chính sách ưu đãi
quy định tại Nghị định này.
Điều 20. Bộ trưởng các Bộ: Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Lao
động - Thương binh và Xã hội, Y tế, Văn hoá - Thông tin, Khoa học và Công nghệ,
Tài nguyên và Môi trường, Nội vụ và Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao, Ủy ban
Dân số, Gia đình và Trẻ em có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan
hướng dẫn cụ thể việc áp dụng Nghị định này phù hợp với đặc điểm hoạt động và tổ
chức của từng lĩnh vực.
Điều 21. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ
trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trục
thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
Phan Văn Khải
--------------------------------------------------------------------------------
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
Tel: 04-39916057 Fax: 04-39916058
SĐT TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ: & 043- 9916057
SĐT YÊU CẦU DỊCH VỤ PHÁP LUẬT: 0986 11 66 05 & 0986386648
Email: contact@sunlaw.com.vn & guicauhoitructuyen@sunlaw.com.vn
Website: www.sunlaw.com.vn &
www.lawdata.com.vn
--------------------------------------------------------------------------------