NGHỊ ĐỊNH SỐ 71/2010/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ BAN HÀNH NGÀY 23 THÁNG 06 NĂM 2010 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT NHÀ Ở
NGHỊ ĐỊNH
SỐ 71/2010/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ BAN HÀNH NGÀY 23 THÁNG 06 NĂM 2010 QUY ĐỊNH CHI
TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT NHÀ Ở
------------
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật số 34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của
Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai ngày 18 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Luật số 38/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung một số Điều
của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,
NGHỊ ĐỊNH
Chương 1.
NHỮNG QUY
ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung về sở hữu nhà ở, phát triển nhà
ở, quản lý việc sử dụng nhà ở, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở
quy định tại Luật Nhà ở.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Nghị định này được áp
dụng đối với các đối tượng sau đây:
1. Tổ chức, cá nhân
trong nước; người Việt Nam
định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư phát triển nhà ở tại
Việt Nam;
2. Tổ chức, cá nhân sở
hữu nhà ở, sử dụng nhà ở và tham gia giao dịch về nhà ở tại Việt Nam;
3. Cơ quan quản lý nhà
nước các cấp về lĩnh vực nhà ở;
4. Tổ chức, cá nhân
không thuộc diện quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 3 Điều này nhưng có các
hoạt động liên quan đến lĩnh vực nhà ở.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các
từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Nhà ở thương mại là nhà ở do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần
kinh tế đầu tư xây dựng để bán, cho thuê theo nhu cầu và cơ chế thị trường;
2. Nhà ở xã hội là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các
thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại Điều 53, Điều
54 của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này mua, thuê hoặc thuê mua theo cơ
chế do Nhà nước quy định;
3. Nhà ở công vụ là nhà ở do Nhà nước đầu tư xây dựng cho các đối
tượng quy định tại Điều 60 của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này thuê
trong thời gian đảm nhiệm chức vụ theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này;
4. Nhà biệt thự tại đô thị là nhà ở riêng biệt (hoặc có nguồn gốc là
nhà ở đang được dùng vào mục đích khác) có sân, vườn, hàng rào và lối ra vào
riêng biệt, có số tầng chính không quá ba tầng (không kể tầng mái che cầu
thang, tầng mái và tầng hầm), có ít nhất ba mặt nhà trông ra sân hoặc vườn, có
diện tích xây dựng không vượt quá 50% diện tích khuôn viên đất, được xác định
là khu chức năng trong quy hoạch đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
5. Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang
và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân.
Nhà chung cư có phần diện tích thuộc sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá
nhân, của chủ đầu tư và phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu
nhà chung cư;
6. Thuê mua nhà ở xã hội là việc người thuê mua nhà ở thanh toán trước
một khoản tiền nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng, số tiền còn lại được
tính thành tiền thuê nhà và người thuê mua phải trả hàng tháng hoặc trả theo
định kỳ. Sau khi hết hạn thuê mua và người thuê mua đã trả hết tiền thuê nhà
thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối
với nhà ở đó.
Chương 2.
PHÁT TRIỂN NHÀ Ở
MỤC 1. DỰ ÁN PHÁT TRIỂN NHÀ Ở
Điều 4. Các loại dự án phát triển nhà ở
Dự án phát triển nhà ở
bao gồm hai loại sau đây:
1. Dự án phát triển nhà
ở với mục đích đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, đầu
tư xây dựng nhà ở và các công trình kiến trúc khác theo quy hoạch được duyệt
(sau đây gọi chung là dự án phát triển khu nhà ở - dự án cấp I), trong đó các
công trình hạ tầng kỹ thuật do chủ đầu tư cấp I thực hiện đầu tư xây dựng; nhà
ở và các công trình kiến trúc khác (dự án cấp II) do chủ đầu tư cấp I hoặc chủ
đầu tư cấp II thực hiện đầu tư xây dựng;
2. Dự án phát triển nhà
ở với mục đích chỉ đầu tư xây dựng một công trình nhà ở độc lập hoặc một cụm
công trình nhà ở, kể cả công trình có mục đích sử dụng hỗn hợp làm nhà ở, văn
phòng, trung tâm thương mại, dịch vụ (sau đây gọi chung là công trình nhà ở có
mục đích sử dụng hỗn hợp) trên đất đã có hệ thống hạ tầng kỹ thuật (dự án cấp
II trong dự án phát triển khu nhà ở quy định tại khoản 1 Điều này hoặc trong
khu đô thị mới) hoặc dự án phát triển nhà ở độc lập trong khu đô thị cải tạo
(sau đây gọi chung là dự án phát triển nhà ở độc lập).
Điều 5. Yêu cầu đối với dự án phát triển nhà ở
1. Trước khi đầu tư xây
dựng nhà ở (bao gồm cả nhà ở được xây dựng trong khu đô thị mới), chủ đầu tư
phải đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận đầu tư (trừ trường hợp
phải đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này),
tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự án phát triển nhà ở theo quy định của Luật
Nhà ở, Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan.
2. Trước khi lập dự án
phát triển nhà ở, chủ đầu tư phải tổ chức lập và trình Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền nơi có dự án phát triển nhà ở phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng
tỷ lệ 1/500 theo quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng, trừ trường hợp
nơi có dự án đã có quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 được duyệt và chủ
đầu tư không có đề xuất điều chỉnh hoặc trường hợp không phải lập quy hoạch chi
tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 theo quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng.
Trình tự, thủ tục lập,
thẩm định và phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 được thực hiện
theo quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng và đồ án quy hoạch này phải
được công bố công khai theo quy định tại Điều 81 của Nghị định này.
3. Dự án phát triển nhà
ở phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch
điểm dân cư nông thôn, thiết kế đô thị, phù hợp với chương trình phát triển nhà
ở trong từng giai đoạn của địa phương và đáp ứng các yêu cầu về phát triển nhà
ở quy định tại Điều 24, Điều 25 và Điều 26 của Luật Nhà ở.
4. Việc thiết kế nhà ở
trong dự án phát triển nhà ở phải phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng và
tiêu chuẩn thiết kế nhà chung cư, nhà ở riêng lẻ, nhà biệt thự quy định tại
Luật Nhà ở và Nghị định này.
5. Đối với dự án phát
triển khu nhà ở thì phải được xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hệ
thống hạ tầng xã hội; đối với dự án phát triển nhà ở độc lập thì phải bảo đảm
kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật chung của khu vực.
6. Nội dung hồ sơ dự án
phát triển nhà ở bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở được lập theo
quy định tại Điều 6 của Nghị định này.
Điều 6. Nội dung hồ sơ dự án phát triển nhà ở
1. Nội dung hồ sơ dự án
phát triển khu nhà ở bao gồm:
a) Phần thuyết minh của
dự án:
- Tên dự án;
- Sự cần thiết và cơ sở
pháp lý của dự án;
- Mục tiêu, hình thức
đầu tư; địa điểm xây dựng; quy mô dự án; nhu cầu sử dụng đất; điều kiện tự
nhiên của khu vực có dự án;
- Các giải pháp thực
hiện: phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư (nếu có); phương
án sử dụng công nghệ xây dựng; quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng áp dụng đối với
dự án; đánh giá tác động môi trường; phương án phòng cháy, chữa cháy; các giải
pháp về hạ tầng kỹ thuật và đấu nối với hạ tầng kỹ thuật chung của khu vực; khả
năng sử dụng hạ tầng xã hội của khu vực;
- Nơi để xe công cộng và
nơi để xe cho các hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong khu vực dự án sau khi
hoàn thành việc đầu tư xây dựng nhà ở (gồm xe đạp, xe cho người tàn tật, xe
động cơ hai bánh, xe ô tô);
- Khu vực đầu tư xây
dựng hệ thống hạ tầng xã hội (nhà trẻ, trường học, y tế, dịch vụ, thể thao, vui
chơi, giải trí, công viên), trừ trường hợp khu vực của dự án đã có công trình
hạ tầng xã hội;
- Diện tích đất dành để
xây dựng nhà ở xã hội (nếu có);
- Số lượng và tỷ lệ các
loại nhà ở (bao gồm nhà biệt thự, nhà ở riêng lẻ, căn hộ chung cư), tổng diện
tích sàn nhà ở; phương án tiêu thụ sản phẩm (số lượng nhà ở bán, cho thuê hoặc
cho thuê mua);
- Các đề xuất về cơ chế
áp dụng đối với dự án (về sử dụng đất, tài chính và các cơ chế khác);
- Thời gian, tiến độ
thực hiện dự án (tiến độ theo từng giai đoạn) và hình thức quản lý dự án;
- Tổng mức đầu tư, nguồn
vốn, hình thức huy động vốn, khả năng hoàn trả vốn, khả năng thu hồi vốn;
- Trách nhiệm của Nhà
nước về việc đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào và đi
qua dự án;
- Các công trình chuyển
giao không bồi hoàn;
- Phương án tổ chức quản
lý, khai thác vận hành dự án và các công trình công ích trong dự án (mô hình tổ
chức, hình thức quản lý vận hành, các loại phí dịch vụ).
b) Phần thiết kế cơ sở
của dự án:
- Phần thuyết minh của
thiết kế cơ sở: giới thiệu tóm tắt về địa điểm dự án; hệ thống các công trình
hạ tầng kỹ thuật của dự án, việc đấu nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật chung
của khu vực; phương án bảo vệ môi trường; phương án phòng cháy, chữa cháy;
phương án kiến trúc các công trình của dự án thành phần giai đoạn đầu;
- Phần bản vẽ thiết kế
cơ sở: bản vẽ tổng mặt bằng dự án, bản vẽ mặt cắt, bản vẽ mặt bằng và các giải
pháp kết cấu chịu lực chính của các công trình thuộc dự án thành phần giai đoạn
đầu; bản vẽ hệ thống hạ tầng kỹ thuật của dự án kết nối với hạ tầng kỹ thuật
chung của khu vực.
2. Nội dung hồ sơ dự án
phát triển nhà ở độc lập bao gồm:
a) Phần thuyết minh của
dự án gồm các nội dung quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, trừ nội dung yêu
cầu Nhà nước đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào và đi
qua dự án và việc xác định các công trình chuyển giao không bồi hoàn;
b) Phần thiết kế cơ sở
của dự án được thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng.
3. Việc thẩm định thiết
kế cơ sở của dự án phát triển nhà ở quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này
được thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Điều 7. Thẩm quyền thẩm định, phê duyệt dự án, chấp thuận
đầu tư đối với dự án phát triển nhà ở
1. Đối với dự án phát
triển nhà ở được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước thì thực
hiện theo quy định sau đây:
a) Trường hợp xây dựng
nhà ở bằng nguồn vốn ngân sách địa phương thì chủ đầu tư phải tổ chức lập dự án
để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau
đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thẩm định và phê duyệt. Căn cứ vào
điều kiện cụ thể của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ủy
quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) thẩm định và phê duyệt dự án
phát triển nhà ở có mức vốn đầu tư dưới 30 tỷ đồng.
- Trước khi phê duyệt dự
án phát triển nhà ở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp huyện (nếu được ủy quyền) có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự án.
Thời gian thẩm định và phê duyệt dự án phát triển nhà ở tối đa không quá 45
ngày, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhận được tờ trình của chủ đầu
tư kèm theo hồ sơ dự án.
Sở Xây dựng làm đầu mối
tiếp nhận hồ sơ và chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan của địa phương
tổ chức thẩm định dự án phát triển nhà ở để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh phê duyệt; trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện được ủy quyền phê
duyệt dự án phát triển nhà ở thì cơ quan có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện
làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ và chủ trì tổ chức thẩm định dự án;
b) Trường hợp xây dựng
nhà ở bằng nguồn vốn ngân sách trung ương thì đơn vị được giao làm chủ đầu tư
dự án có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án chấp thuận đầu
tư dự án phát triển nhà ở với các nội dung quy định tại điểm b khoản 2 Điều này
trước khi lập dự án, trừ trường hợp dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu
tư.
Sau khi có văn bản chấp
thuận đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chủ đầu tư có trách nhiệm lập dự án
để trình người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định và phê duyệt dự án. Thời
gian Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản chấp thuận đầu tư tối đa là 30 ngày,
thời gian thẩm định, phê duyệt dự án tối đa là 45 ngày, kể từ ngày cơ quan nhà
nước có thẩm quyền nhận đủ hồ sơ theo quy định;
c) Nội dung quyết định
phê duyệt dự án phát triển nhà ở quy định tại điểm a và điểm b khoản này bao
gồm:
- Tên dự án (dự án phát
triển khu nhà ở hoặc dự án phát triển nhà ở độc lập);
- Tên chủ đầu tư; mục
tiêu đầu tư, hình thức đầu tư;
- Địa điểm dự án; quy mô
dự án, diện tích và ranh giới sử dụng đất, quy mô dân số;
- Các công trình hạ tầng
kỹ thuật: đường giao thông, cấp điện, cấp, thoát nước, xử lý rác thải, thông
tin liên lạc, phòng, chống cháy, nổ; các công trình hạ tầng xã hội: nhà trẻ,
trường học, y tế, dịch vụ, thể thao, vui chơi, giải trí, công viên (nếu có);
- Tỷ lệ và số lượng các
loại nhà ở (bao gồm nhà biệt thự, nhà ở riêng lẻ, căn hộ chung cư); đối tượng
được thuê và giá cho thuê nhà ở;
- Khu vực để xe công
cộng và để xe cho các hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong khu vực dự án sau
khi hoàn thành việc đầu tư xây dựng nhà ở;
- Tổng mức đầu tư của dự
án;
- Thời gian, tiến độ
thực hiện dự án (tiến độ thực hiện theo từng giai đoạn);
- Quyền và nghĩa vụ chủ
yếu của chủ đầu tư;
- Phương án tổ chức quản
lý vận hành, khai thác dự án, quản lý vận hành nhà chung cư sau khi đầu tư xây
dựng (mô hình tổ chức, hình thức quản lý, các loại phí dịch vụ).
2. Đối với dự án phát
triển nhà ở (trừ dự án phát triển nhà ở của chủ đầu tư cấp II) được đầu tư xây
dựng bằng nguồn vốn không phải từ ngân sách nhà nước (không phân biệt quy mô sử
dụng đất) thì thực hiện theo quy định sau đây:
a) Chủ đầu tư phải có tờ
trình gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để có văn bản chấp thuận đầu tư dự án phát
triển nhà ở; trong trường hợp dự án phát triển nhà ở có quy mô dưới 500 căn nhà
(bao gồm nhà biệt thự, nhà ở riêng lẻ, căn hộ chung cư) thì chủ đầu tư trình Ủy
ban nhân dân cấp huyện để có văn bản chấp thuận đầu tư, trừ trường hợp thuộc
diện đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư quy định tại Điều 14 của Nghị định này;
b) Nội dung văn bản chấp
thuận đầu tư dự án phát triển nhà ở quy định tại điểm a khoản này và dự án phát
triển nhà ở quy định tại điểm b khoản 1 Điều này bao gồm:
- Tên dự án (dự án phát
triển khu nhà ở hoặc dự án phát triển nhà ở độc lập);
- Tên chủ đầu tư, trừ
trường hợp đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư quy định tại Điều 14 của Nghị định này;
- Mục tiêu và hình thức
đầu tư; địa điểm và quy mô dự án; diện tích sử dụng đất; quy mô dân số;
- Việc xây dựng các công
trình hạ tầng kỹ thuật; công trình hạ tầng xã hội: nhà trẻ, trường học, y tế,
dịch vụ, thể thao vui chơi, giải trí, công viên (nếu có);
- Tỷ lệ và số lượng các
loại nhà ở (nhà biệt thự, nhà ở riêng lẻ, căn hộ chung cư); tổng diện tích sàn
nhà ở;
- Phương án tiêu thụ sản
phẩm: bán, cho thuê, cho thuê mua (nêu rõ diện tích, số lượng nhà ở được bán,
được cho thuê hoặc cho thuê mua);
- Khu vực để xe công
cộng và để xe cho các hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong khu vực dự án sau
khi hoàn thành việc đầu tư xây dựng nhà ở;
- Diện tích đất dành để
đầu tư xây dựng nhà ở xã hội (nếu có);
- Trách nhiệm của chủ
đầu tư và trách nhiệm của chính quyền địa phương;
- Thời gian, tiến độ
thực hiện dự án (tiến độ thực hiện theo từng giai đoạn);
Đối với dự án phát triển
khu nhà ở thì phải có thêm các nội dung: phương án bàn giao các công trình hạ
tầng kỹ thuật cho địa phương sau khi kết thúc đầu tư xây dựng; trách nhiệm đầu
tư xây dựng các công trình hạ tầng xã hội (nếu do chính quyền địa phương đầu tư
xây dựng thì phải nêu rõ thời hạn chính quyền phải hoàn thành việc xây dựng,
nếu quá thời hạn này thì chủ đầu tư được thực hiện xây dựng hoặc kêu gọi các
chủ đầu tư khác tham gia xây dựng các công trình hạ tầng xã hội);
c) Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra và có văn bản chấp
thuận đầu tư trong thời hạn tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận được tờ trình
của chủ đầu tư kèm theo hồ sơ dự án;
d) Sau khi có văn bản
chấp thuận đầu tư, chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức lập, thẩm định và phê
duyệt dự án phát triển nhà ở theo nội dung văn bản chấp thuận đầu tư, quy định
của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
3. Trường hợp dự án phát
triển nhà ở (không phân biệt nguồn vốn đầu tư và quy mô sử dụng đất) có tổng số
nhà ở từ 2.500 căn trở lên (bao gồm nhà biệt thự, nhà ở riêng lẻ, căn hộ chung
cư, kể cả khu đô thị mới và công trình nhà ở có mục đích sử dụng hỗn hợp) thì
chủ đầu tư có trách nhiệm lập tờ trình đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét
để trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư dự án phát triển nhà
ở (dự án phát triển khu nhà ở hoặc dự án phát triển nhà ở độc lập) trước khi
lập, thẩm định và phê duyệt dự án.
Trong thời hạn 10 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được tờ trình của chủ đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có trách nhiệm kiểm tra và có văn bản lấy ý kiến của Bộ Xây dựng, Bộ Tài
nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính về một số nội dung:
quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, thời gian, tiến độ thực hiện dự án,
tỷ lệ các loại nhà ở, năng lực của chủ đầu tư và các vấn đề có liên quan thuộc
trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ này trước khi trình Thủ tướng Chính
phủ. Thời gian lấy ý kiến của các Bộ quy định tại khoản này là 20 ngày, kể từ
ngày nhận được tờ trình của chủ đầu tư, các Bộ có trách nhiệm trả lời ý kiến
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn quy định tại khoản này.
Hồ sơ trình Thủ tướng
Chính phủ bao gồm: tờ trình của chủ đầu tư đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo
cáo Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư, tờ trình của Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ xin chấp thuận chủ trương đầu tư dự án
phát triển khu nhà ở (hoặc dự án phát triển nhà ở độc lập) thể hiện các nội
dung như quy định tại điểm b khoản 2 Điều này, đồ án quy hoạch xây dựng tỷ lệ
1/2000 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và ý kiến góp ý của các Bộ quy định
tại khoản này.
Trong thời hạn tối đa 10
ngày, sau khi có ý kiến chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có văn bản thông báo để chủ đầu tư tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt dự
án phát triển nhà ở theo quy định của pháp luật về xây dựng và Nghị định này;
trường hợp dự án phát triển nhà ở sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì chủ đầu tư
tổ chức lập dự án để trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt theo
quy định tại khoản 1 Điều này. Trong trường hợp dự án phát triển nhà ở do Thủ
tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì Bộ Xây dựng chủ trì tổ chức thẩm định và
trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
4. Trường hợp dự án phát
triển nhà ở đã được phê duyệt mà chủ đầu tư có đề nghị thay đổi một trong các
nội dung: mục tiêu đầu tư; quy mô dự án; diện tích sử dụng đất; số lượng nhà ở;
tiến độ thực hiện dự án thì chủ đầu tư phải có văn bản đề nghị cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này có văn bản chấp thuận bổ
sung nội dung dự án trước khi thực hiện xây dựng; nếu dự án có tổng số nhà ở từ
2.500 căn trở lên (bao gồm nhà biệt thự, nhà ở riêng lẻ, căn hộ chung cư, kể cả
khu đô thị mới và công trình nhà ở có mục đích sử dụng hỗn hợp) thì chủ đầu tư
phải đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét và có tờ trình xin ý kiến chấp
thuận bổ sung nội dung dự án phát triển nhà ở của Thủ tướng Chính phủ (dự án
phát triển khu nhà ở hoặc dự án phát triển nhà ở độc lập). Thời gian ra văn bản
chấp thuận bổ sung là 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của chủ đầu
tư hoặc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Bộ Xây dựng quy định các
mẫu: tờ trình của chủ đầu tư đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân
dân cấp huyện chấp thuận đầu tư quy định tại khoản 2 Điều này; tờ trình của chủ
đầu tư đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ chấp thuận
chủ trương đầu tư và tờ trình xin chấp thuận chủ trương đầu tư dự án phát triển
nhà ở của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ quy định tại khoản
3 Điều này; mẫu Quyết định phê duyệt dự án, mẫu văn bản chấp thuận đầu tư quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này và hướng dẫn việc thực hiện các quy định
tại Điều này.
Điều 8. Thực hiện dự án phát triển nhà ở
1. Chủ đầu tư dự án phát
triển nhà ở phải tuân thủ các quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này và quy
định của pháp luật về xây dựng khi thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở.
2. Chủ đầu tư dự án phát
triển nhà ở phải xin Giấy phép xây dựng trước khi khởi công xây dựng nhà ở và
các công trình kiến trúc khác của dự án, trừ trường hợp được miễn Giấy phép xây
dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.
3. Đối với dự án phát
triển khu nhà ở thì chủ đầu tư phải xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật
theo nội dung dự án đã được phê duyệt. Trong trường hợp phải xây dựng các công
trình hạ tầng xã hội theo quyết định phê duyệt dự án hoặc theo văn bản chấp
thuận đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì chủ đầu tư phải thực hiện
theo đúng nội dung và tiến độ dự án đã được phê duyệt hoặc được chấp thuận đầu
tư.
4. Chủ đầu tư cấp I của
dự án phát triển khu nhà ở được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hạ
tầng kỹ thuật cho chủ đầu tư cấp II để xây dựng nhà ở sau khi đã có các công
trình hạ tầng kỹ thuật tương ứng với nội dung, tiến độ của dự án và phải tuân
thủ nội dung dự án đã được phê duyệt, nội dung chấp thuận đầu tư của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Chủ đầu tư cấp I có trách nhiệm quản lý hệ thống hạ
tầng kỹ thuật của dự án phát triển khu nhà ở khi chưa bàn giao cho chính quyền
địa phương, thực hiện cung cấp điện, nước để chủ đầu tư cấp II xây dựng nhà ở
và tổ chức kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy hoạch, kiến trúc, nội dung đầu
tư mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cho phép và tiến độ xây dựng các công
trình kỹ thuật trong phạm vi dự án của chủ đầu tư cấp II.
5. Chủ đầu tư cấp II
không phải đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận đầu tư nhưng phải
thực hiện xây dựng nhà ở và các công trình kiến trúc khác theo nội dung hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký với chủ đầu tư cấp I, tuân thủ quy
hoạch, kiến trúc, tiến độ của dự án đã được phê duyệt và nội dung đầu tư mà cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã cho phép với chủ đầu tư cấp I.
Trường hợp chủ đầu tư
cấp II có hành vi vi phạm về quy hoạch, trật tự xây dựng, nội dung đầu tư trong
quá trình thực hiện xây dựng nhà ở và các công trình kiến trúc khác thì chủ đầu
tư cấp I có quyền yêu cầu chủ đầu tư cấp II tạm dừng việc xây dựng và báo cáo
với cơ quan có thẩm quyền để xử lý các hành vi vi phạm này.
Điều 9. Huy động vốn để đầu tư xây dựng nhà ở
1. Trường hợp chủ đầu tư
dự án phát triển khu nhà ở, dự án khu đô thị mới (chủ đầu tư cấp I) có nhu cầu
huy động vốn để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đối với phần diện tích xây
dựng nhà ở và đầu tư xây dựng nhà ở trong khu nhà ở, khu đô thị đó thì chỉ được
huy động vốn theo các hình thức sau đây:
a) Ký hợp đồng vay vốn
của các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tư hoặc phát hành trái phiếu theo quy
định của pháp luật để huy động số vốn còn thiếu cho đầu tư xây dựng nhà ở; bên
cho vay vốn hoặc bên mua trái phiếu không được quyền ưu tiên mua hoặc ưu tiên
đăng ký mua nhà ở;
b) Ký hợp đồng góp vốn
hoặc hợp đồng hợp tác đầu tư với chủ đầu tư cấp II nhằm mục đích chuyển nhượng
quyền sử dụng đất có hạ tầng kỹ thuật cho chủ đầu tư cấp II;
c) Ký hợp đồng, văn bản
góp vốn hoặc hợp đồng, văn bản hợp tác đầu tư với tổ chức, cá nhân để đầu tư
xây dựng nhà ở và bên tham gia góp vốn hoặc bên tham gia hợp tác đầu tư chỉ
được phân chia lợi nhuận (bằng tiền hoặc cổ phiếu) hoặc được phân chia sản phẩm
là nhà ở trên cơ sở tỷ lệ vốn góp theo thỏa thuận; trong trường hợp các bên
thỏa thuận phân chia sản phẩm là nhà ở thì chủ đầu tư chỉ được phân chia cho
các đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà
ở và phải tuân thủ quy định về số lượng nhà ở được phân chia nêu tại điểm d
khoản 3 Điều này;
d) Ký hợp đồng hợp tác
kinh doanh với doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản để đầu tư xây
dựng nhà ở và bên tham gia hợp tác kinh doanh chỉ được phân chia lợi nhuận
(bằng tiền hoặc cổ phiếu) hoặc được phân chia sản phẩm là nhà ở theo thỏa
thuận; trong trường hợp các bên thỏa thuận phân chia sản phẩm là nhà ở thì phải
tuân thủ quy định về số lượng nhà ở được phân chia nêu tại điểm d khoản 3 Điều
này;
đ) Huy động vốn từ tiền
mua nhà ứng trước của các đối tượng được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy
định của Luật Nhà ở thông qua hình thức ký hợp đồng mua bán nhà ở hình thành
trong tương lai.
2. Trường hợp chủ đầu tư
dự án phát triển nhà ở độc lập (kể cả chủ đầu tư cấp II trong dự án phát triển
khu nhà ở, khu đô thị mới, công trình nhà ở có mục đích sử dụng hỗn hợp) có nhu
cầu huy động vốn để đầu tư xây dựng nhà ở thì chỉ được huy động vốn theo các
hình thức quy định tại các điểm a, c, d và điểm đ khoản 1 Điều này.
3. Các chủ đầu tư quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này khi thực hiện huy động vốn để xây dựng nhà
ở phải tuân thủ các điều kiện sau đây:
a) Đối với trường hợp
quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì chủ đầu tư chỉ được ký hợp đồng góp
vốn hoặc hợp đồng hợp tác đầu tư với chủ đầu tư cấp II sau khi đã giải phóng
mặt bằng của dự án và đã thực hiện khởi công xây dựng công trình hạ tầng kỹ
thuật của dự án. Sau khi đã có các công trình hạ tầng kỹ thuật tương ứng với
nội dung và tiến độ của dự án thì chủ đầu tư cấp I được ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho chủ đầu tư cấp II.
Trong trường hợp chủ đầu
tư cấp II có nhu cầu huy động vốn để xây dựng nhà ở trên diện tích đất nhận
chuyển nhượng của chủ đầu tư cấp I thì chỉ được ký hợp đồng huy động vốn sau
khi đã có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký với chủ đầu tư cấp I, có
thỏa thuận trong hợp đồng về việc chủ đầu tư cấp II được huy động vốn để xây
dựng nhà ở và đã có đủ các điều kiện để huy động vốn theo quy định tại khoản này;
trường hợp chưa chuyển quyền sử dụng đất từ chủ đầu tư cấp I sang chủ đầu tư
cấp II theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc huy động vốn phải được
chủ đầu tư cấp I đồng ý bằng văn bản;
b) Đối với trường hợp
quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thì chủ đầu tư chỉ được ký hợp đồng, văn
bản góp vốn hoặc hợp đồng, văn bản hợp tác đầu tư sau khi đã có dự án phát
triển nhà ở được phê duyệt, đã thực hiện khởi công xây dựng công trình nhà ở và
đã thông báo cho Sở Xây dựng nơi có dự án phát triển nhà ở theo quy định tại
điểm e khoản này;
c) Đối với trường hợp
quy định tại điểm d khoản 1 Điều này thì chủ đầu tư chỉ được ký hợp đồng hợp
tác kinh doanh sau khi đã có dự án nhà ở được phê duyệt, đã thực hiện giải
phóng mặt bằng, có biên bản bàn giao mốc giới của dự án và đã thông báo cho Sở
Xây dựng nơi có dự án phát triển nhà ở theo quy định tại điểm e khoản này.
Trường hợp bên tham gia
hợp tác kinh doanh được phân chia sản phẩm là nhà ở mà có nhu cầu bán, cho thuê
nhà ở đó thì không được trực tiếp ký hợp đồng mua bán, cho thuê mà do chủ đầu
tư (bên có quyền sử dụng đất) trực tiếp ký hợp đồng với người mua, người thuê
sau khi có đủ điều kiện quy định tại khoản này; trong trường hợp bên tham gia
hợp tác kinh doanh đã nhận bàn giao nhà ở và đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu
đối với nhà ở được phân chia thì được trực tiếp ký hợp đồng mua bán, cho thuê
nhà ở đó theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này;
d) Đối với trường hợp
huy động vốn theo hình thức quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này mà
trong hợp đồng có thỏa thuận phân chia sản phẩm là nhà ở thì chủ đầu tư chỉ
được phân chia tối đa cho các hình thức huy động vốn không quá 20% số lượng nhà
ở trong mỗi dự án (tính trên tổng số lượng nhà ở thương mại của dự án cấp I
hoặc dự án phát triển nhà ở độc lập không phải là dự án cấp II) không phải
thông qua sàn giao dịch bất động sản, nhưng phải thông báo cho Sở Xây dựng nơi
có dự án phát triển nhà ở để xác nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 60 của
Nghị định này; số lượng nhà ở còn lại trong mỗi dự án này chủ đầu tư phải thực
hiện bán, cho thuê theo đúng quy định tại điểm đ và điểm e khoản này;
đ) Đối với trường hợp
huy động vốn theo hình thức quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thì chủ đầu tư
chỉ được ký hợp đồng mua bán nhà ở sau khi đã có thiết kế kỹ thuật nhà ở được
phê duyệt, đã xây dựng xong phần móng của nhà ở, đã hoàn thành thủ tục mua bán
qua sàn giao dịch bất động sản theo đúng quy định của pháp luật về kinh doanh
bất động sản và đã thông báo cho Sở Xây dựng nơi có dự án phát triển nhà ở theo
quy định tại điểm e khoản này.
Việc xây dựng xong phần
móng của nhà ở (kể cả công trình nhà ở có mục đích sử dụng hỗn hợp) quy định
tại điểm này được xác định là giai đoạn đã thi công xong phần đài giằng móng
(bao gồm cả phần xử lý nền nếu có) hoặc tới độ cao mặt bằng sàn của tầng thấp
nhất của công trình nhà ở đó và được nghiệm thu kỹ thuật theo quy định của pháp
luật về xây dựng;
e) Đối với trường hợp
huy động vốn theo hình thức quy định tại các điểm b, c và điểm đ khoản 1 Điều
này thì chủ đầu tư phải có văn bản thông báo cho Sở Xây dựng nơi có dự án phát
triển nhà ở biết trước ít nhất 15 ngày, tính đến ngày ký hợp đồng huy động vốn.
Trong văn bản thông báo
phải nêu rõ hình thức huy động vốn, số vốn cần huy động; trường hợp huy động
vốn theo hình thức quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì phải nêu rõ diện
tích đất sẽ chuyển nhượng, tên chủ đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
trường hợp huy động vốn theo hình thức quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thì
phải nêu rõ tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn, hợp tác đầu tư,
nếu có thỏa thuận phân chia sản phẩm là nhà ở thì phải nêu rõ số lượng, loại
nhà ở sẽ phân chia, tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân được phân chia nhà ở;
trường hợp huy động vốn theo hình thức quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thì
phải nêu rõ số lượng, loại nhà ở (nhà ở riêng lẻ, nhà biệt thự, căn hộ chung
cư) và địa chỉ của nhà ở sẽ bán. Chủ đầu tư chỉ được ký hợp đồng huy động vốn
hoặc hợp đồng mua bán nhà ở khi đã có đủ các điều kiện quy định tại Điều này.
4. Chủ đầu tư dự án phát
triển nhà ở phải sử dụng vốn đã huy động vào đúng mục đích xây dựng dự án phát
triển nhà ở đó, không được dùng số vốn đã huy động vào mục đích khác hoặc sử
dụng cho các dự án phát triển nhà ở khác. Những trường hợp huy động vốn không
đúng các hình thức và không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều này thì
hợp đồng đã ký không có giá trị pháp lý và bên huy động vốn bị xử lý theo quy
định hiện hành.
Bộ Xây dựng hướng dẫn cụ
thể việc huy động vốn quy định tại Điều này.
Điều 10. Kết thúc giai đoạn đầu tư xây dựng dự án phát triển
nhà ở
Khi kết thúc đầu tư xây
dựng, chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở phải thực hiện các yêu cầu sau đây:
1. Báo cáo Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có dự án về kết quả của dự án;
đối với dự án phát triển nhà ở thuộc diện phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư
của Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Nghị định này thì
chủ đầu tư phải gửi báo cáo thêm cho Bộ Xây dựng;
2. Hoàn thiện các hồ sơ,
tài liệu phục vụ công tác lưu trữ theo quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này
và pháp luật về xây dựng;
3. Thực hiện nghiệm thu
công trình theo quy định tại Điều 11 của Nghị định này;
4. Bàn giao công trình
hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan quản
lý chuyên ngành theo nội dung của dự án đã được phê duyệt hoặc theo văn bản
chấp thuận đầu tư;
5. Báo cáo quyết toán
theo quy định của pháp luật về tài chính;
6. Làm các thủ tục để cơ
quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở, công trình
xây dựng trong phạm vi dự án cho chủ sở hữu;
7. Phối hợp với chính
quyền địa phương giải quyết các vấn đề về quản lý hành chính trong khu vực của
dự án;
8. Tổ chức quản lý vận
hành các công trình không phải bàn giao cho chính quyền địa phương hoặc cho cơ
quan quản lý chuyên ngành.
Điều 11. Nghiệm thu công trình thuộc dự án phát triển nhà ở
1. Đối với dự án phát
triển khu nhà ở thì chủ đầu tư phải thực hiện các quy định sau đây:
a) Tổ chức nghiệm thu
toàn bộ hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội nếu do chủ đầu tư
xây dựng theo nội dung dự án đã được phê duyệt và bảo đảm yêu cầu theo quy định
của pháp luật về xây dựng. Trong trường hợp dự án phát triển nhà ở có các dự án
thành phần thì thực hiện nghiệm thu hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các công trình
theo từng dự án thành phần đó;
b) Làm thủ tục để được
cấp chứng nhận phù hợp về chất lượng công trình theo quy định của pháp luật về
xây dựng;
c) Tổ chức cung cấp các
dịch vụ quản lý của dự án.
2. Đối với dự án phát
triển nhà ở độc lập thì chủ đầu tư phải thực hiện các quy định sau đây:
a) Nghiệm thu toàn bộ hệ
thống công trình hạ tầng kỹ thuật, phòng chống cháy, nổ, hệ thống xử lý nước
thải, rác thải của dự án;
b) Nghiệm thu chất lượng
công trình nhà ở và các công trình kiến trúc khác theo quy định của pháp luật
về xây dựng;
c) Làm thủ tục để được
cấp chứng nhận phù hợp về chất lượng công trình theo quy định của pháp luật về
xây dựng.
3. Hồ sơ dự án phát
triển nhà ở và tài liệu về nghiệm thu, bàn giao các công trình quy định tại
Điều này phải được lưu trữ tại đơn vị quản lý vận hành dự án và tại Sở Xây dựng
(nếu dự án phát triển nhà ở do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt hoặc chấp
thuận đầu tư); tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện nơi có dự án (nếu do Ủy ban
nhân dân cấp huyện phê duyệt hoặc chấp thuận đầu tư) để theo dõi, kiểm tra.
MỤC 2. PHÁT TRIỂN NHÀ Ở THƯƠNG MẠI
Điều 12. Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại
1. Chủ đầu tư dự án phát
triển nhà ở thương mại (chủ đầu tư dự án phát triển khu nhà ở và chủ đầu tư dự
án phát triển nhà ở độc lập) bao gồm:
a) Doanh nghiệp trong
nước được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp;
b) Doanh nghiệp có 100%
vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài; doanh
nghiệp của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoạt động đầu tư tại Việt Nam
theo quy định của Luật Đầu tư;
c) Hợp tác xã được thành
lập và hoạt động theo quy định của Luật Hợp tác xã.
2. Điều kiện để được
đăng ký làm chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại:
a) Phải có đăng ký kinh
doanh bất động sản hoặc Giấy chứng nhận đầu tư có hoạt động đầu tư bất động sản
và có đủ vốn pháp định theo quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Có vốn đầu tư thuộc
sở hữu của mình để thực hiện dự án không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư của dự án
có quy mô sử dụng đất dưới 20ha, không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư của dự án
có quy mô sử dụng đất từ 20ha trở lên.
Điều 13. Lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương
mại
1. Việc lựa chọn chủ đầu
tư dự án phát triển nhà ở thương mại được thực hiện theo các hình thức sau đây:
a) Đấu thầu lựa chọn chủ
đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại tại khu vực chưa thực hiện giải phóng
mặt bằng theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này;
b) Đấu giá quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
c) Chỉ định chủ đầu tư đối
với các trường hợp:
- Một khu đất để phát
triển nhà ở thương mại nhưng trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 14 của
Nghị định này chỉ có một nhà đầu tư có đủ các điều kiện quy định tại Điều 12
của Nghị định này đăng ký làm chủ đầu tư;
- Nhà đầu tư có quyền sử
dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật về đất đai, phù hợp với quy hoạch
xây dựng nhà ở, có đủ các điều kiện quy định tại Điều 12 của Nghị định này và
có văn bản đăng ký làm chủ đầu tư;
- Thuộc trường hợp quy
định tại khoản 5 Điều 73 của Nghị định này.
2. Đối với trường hợp
được lựa chọn làm chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở không phải thông qua hình
thức đấu thầu quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này thì chủ đầu tư
phải làm thủ tục đề nghị chấp thuận đầu tư và tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt
dự án phát triển nhà ở theo quy định tại Điều 7 của Nghị định này.
Điều 14. Đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở
thương mại
1. Căn cứ vào chương
trình phát triển nhà ở của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm
chỉ đạo công bố công khai trên Cổng Thông tin điện tử (Website) của Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh và của Sở Xây dựng các nội dung sau đây để các nhà đầu tư có cơ sở
đăng ký tham gia làm chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại:
a) Quy hoạch xây dựng đô
thị, điểm dân cư nông thôn tỷ lệ 1/2000;
b) Địa điểm, ranh giới
và diện tích các khu đất để phát triển nhà ở thương mại trên phạm vi địa bàn;
c) Các điều kiện về sử
dụng đất (được giao hoặc thuê, thời hạn thuê, quỹ đất bố trí tái định cư; bảng
giá đất của từng khu vực và các nghĩa vụ tài chính mà chủ đầu tư phải nộp theo
quy định);
d) Yêu cầu về quy hoạch,
kiến trúc, số lượng và các loại nhà ở, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã
hội và công trình kiến trúc khác trong phạm vi dự án; tiến độ thực hiện dự án;
đ) Phương án tổng thể về
bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư (nếu có);
e) Yêu cầu về quản lý
vận hành và khai thác dự án sau khi đầu tư xây dựng xong;
g) Các điều kiện tham
gia đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở;
h) Thời gian tiếp nhận
hồ sơ dự thầu.
2. Trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố công khai các thông tin theo
quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có từ hai nhà đầu tư trở lên có đủ điều kiện
theo quy định tại Điều 12 của Nghị định này có văn bản gửi Sở Xây dựng đăng ký
làm chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thì Sở Xây dựng phải công bố công khai
trên Website của Sở danh sách các nhà đầu tư, thông báo cho các nhà đầu tư biết
để chuẩn bị hồ sơ dự thầu và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức đấu thầu lựa
chọn chủ đầu tư theo quy định tại Điều này.
3. Điều kiện để nhà đầu
tư tham gia dự thầu:
a) Phải có đủ điều kiện
theo quy định tại Điều 12 của Nghị định này;
b) Có tổng mức đầu tư
của dự án do nhà đầu tư tự đề xuất trong hồ sơ dự thầu không thấp hơn tổng mức
đầu tư tạm tính của dự án nêu trong hồ sơ mời thầu (sau đây gọi chung là giá
sàn);
c) Có các đề xuất về nội
dung dự án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 của Nghị định này;
d) Có khả năng huy động
vốn và các nguồn lực khác để thực hiện dự án;
đ) Có hồ sơ dự thầu theo
quy định tại khoản 4 Điều này;
e) Nộp kinh phí bảo đảm
dự thầu tương đương 3% giá sàn quy định trong hồ sơ mời thầu.
4. Hồ sơ dự thầu bao gồm
các loại giấy tờ sau đây:
a) Giấy tờ chứng minh cơ
sở pháp lý, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm, khả năng tài chính và các điều
kiện khác theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Bản thuyết minh và sơ
đồ thể hiện các giải pháp về kinh tế - kỹ thuật để thực hiện các yêu cầu quy
định tại khoản 1 Điều này; các nội dung theo văn bản chấp thuận đầu tư của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền nếu thuộc diện quy định tại khoản 11 Điều này;
c) Năng lực và những lợi
thế khác của chủ đầu tư (nếu có) khi được giao làm chủ đầu tư dự án phát triển
nhà ở.
5. Căn cứ vào quy định
tại các khoản 1, 3 và khoản 4 Điều này, Sở Xây dựng có trách nhiệm lập và phát
hành hồ sơ mời thầu; hồ sơ mời thầu phải nêu rõ các yêu cầu theo quy định tại
khoản 1 Điều này, giá sàn của dự án và các yêu cầu khác có liên quan.
Nhà đầu tư mua hồ sơ mời
thầu, chuẩn bị hồ sơ dự thầu và nộp hồ sơ dự thầu kèm theo kinh phí bảo đảm dự
thầu tại Sở Xây dựng nơi có dự án phát triển nhà ở. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ dự
thầu là 20 ngày, sau khi hết hạn công bố thông tin quy định tại khoản 2 Điều
này và được ghi trong hồ sơ mời thầu; trong trường hợp thuộc diện quy định tại
điểm a khoản 11 Điều này thì thời hạn tiếp nhận hồ sơ dự thầu được tính kể từ
sau khi Ủy ban nhân dân cấp huyện có văn bản chấp thuận đầu tư.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ
dự thầu, Sở Xây dựng có trách nhiệm trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Tổ
chuyên gia lựa chọn chủ đầu tư, ban hành quy định cụ thể về tổ chức đấu thầu và
quy chế làm việc của Tổ chuyên gia. Tổ chuyên gia có trách nhiệm xây dựng tiêu
chí đánh giá, các thang điểm cụ thể trên cơ sở nội dung của hồ sơ mời thầu và
các yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này để xem xét, chấm điểm đối với từng hồ
sơ mời thầu.
6. Điều kiện để tổ chức
đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở:
a) Có từ hai nhà đầu tư
trở lên có đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này tham gia dự thầu;
b) Có quy hoạch xây dựng
tỷ lệ 1/2000 đã được phê duyệt;
c) Có phương án tổng thể
về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư;
d) Có phương án tổ chức
đấu thầu.
7. Việc lựa chọn chủ đầu
tư dự án phát triển nhà ở thương mại được thực hiện thông qua hình thức đấu
thầu quốc tế hoặc đấu thầu trong nước. Phương thức và quy trình tổ chức đấu
thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở được áp dụng như đối với trường
hợp đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất khác.
8. Sau khi có kết quả đấu
thầu, Tổ chuyên gia có văn bản thông báo kết quả cho Sở Xây dựng để báo cáo Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, ban hành quyết định lựa chọn chủ đầu tư dự án
phát triển nhà ở. Trong trường hợp dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận đầu tư của
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì trong quyết định lựa chọn chủ đầu tư, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh thực hiện luôn việc chấp thuận đầu tư; nếu dự án không thuộc thẩm
quyền chấp thuận đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì thực hiện theo quy
định tại khoản 11 Điều này.
Thời hạn tổ chức đấu
thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở tối đa là 90 ngày, kể từ ngày
Sở Xây dựng tiếp nhận hồ sơ dự thầu.
9. Trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày có quyết định lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở, Sở
Xây dựng có trách nhiệm hoàn trả kinh phí bảo đảm dự thầu cho các nhà đầu tư đã
tham gia dự thầu nhưng không được lựa chọn làm chủ đầu tư; đối với nhà đầu tư
được lựa chọn làm chủ đầu tư thì được hoàn trả kinh phí bảo đảm dự thầu trong
thời hạn không quá 10 ngày, kể từ ngày Bên mời thầu nhận được bảo đảm thực hiện
đầu tư dự án của nhà đầu tư (tương đương từ 5% đến 10% tổng mức đầu tư của nhà
đầu tư được lựa chọn). Trong trường hợp nhà đầu tư vi phạm các quy định của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh về tổ chức đấu thầu thì khoản kinh phí bảo đảm dự thầu
được chuyển vào ngân sách nhà nước.
10. Trường hợp sau ba
tháng, kể từ ngày có quyết định lựa chọn chủ đầu tư mà chủ đầu tư không thực
hiện các quy định tại Điều 7 của Nghị định này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hủy
kết quả đấu thầu để tổ chức đấu thầu lại.
11. Trường hợp dự án
không thuộc thẩm quyền chấp thuận đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì thực
hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với dự án thuộc
thẩm quyền chấp thuận đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp huyện thì sau khi hết hạn
công bố thông tin quy định tại khoản 2 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có
trách nhiệm gửi lấy ý kiến chấp thuận đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Thời hạn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi lấy ý kiến và Ủy ban nhân dân cấp huyện
có văn bản chấp thuận đầu tư tối đa là 30 ngày, kể từ khi hết hạn công bố thông
tin quy định tại khoản 2 Điều này.
Sau khi có văn bản chấp
thuận đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp huyện thì Sở Xây dựng tiếp nhận hồ sơ dự
thầu và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Tổ chuyên gia lựa chọn chủ đầu
tư để thực hiện việc đấu thầu theo quy định tại Điều này; thời hạn tiếp nhận hồ
sơ dự thầu được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều này, thời hạn tổ chức
đấu thầu được thực hiện theo quy định tại khoản 8 Điều này;
b) Đối với dự án thuộc
thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ thì Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh phải gửi lấy ý kiến của các Bộ quy định tại khoản 3 Điều 7 của
Nghị định này. Thời hạn lấy ý kiến và các Bộ có ý kiến trả lời là 20 ngày, kể
từ sau khi hết hạn công bố thông tin quy định tại khoản 2 Điều này.
Sau khi có ý kiến của
các Bộ liên quan thì Sở Xây dựng tiếp nhận hồ sơ dự thầu theo thời hạn quy định
tại khoản 5 Điều này. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ khi kết thúc thời hạn tiếp
nhận hồ sơ dự thầu, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có tờ trình đề nghị Thủ tướng
Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư dự án phát triển nhà ở kèm theo ý kiến
góp ý của các Bộ liên quan, danh sách nhà đầu tư tham gia dự thầu và đồ án quy
hoạch xây dựng tỷ lệ 1/2000.
Sau khi có ý kiến chấp
thuận của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức đấu thầu theo
quy định tại Điều này và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả đấu thầu.
12. Đơn vị được lựa chọn
làm chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở có trách nhiệm tổ chức lập và trình thẩm
định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 theo quy định tại Điều
5 của Nghị định này, tổ chức lập thẩm định và phê duyệt dự án phát triển nhà ở
theo quy định tại Điều 7 của Nghị định này và theo nội dung chấp thuận đầu tư
của cơ quan có thẩm quyền.
Điều 15. Quyền của chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương
mại
1. Được yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền cung cấp các thông tin phục vụ thực hiện dự án phát triển nhà ở
thương mại.
2. Được thực hiện các
quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Đối với chủ
đầu tư cấp I thì được chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã có các công trình hạ
tầng kỹ thuật cho chủ đầu tư cấp II để đầu tư xây dựng nhà ở theo đúng quy định
của Nghị định này.
3. Được lựa chọn hình
thức quản lý dự án.
4. Được hưởng chính sách
ưu đãi theo quy định của pháp luật.
5. Được bán, cho thuê
nhà ở và các công trình xây dựng trong phạm vi dự án theo quy định của Luật Nhà
ở, Nghị định này và pháp luật về kinh doanh bất động sản, trừ các công trình hạ
tầng phải chuyển giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
6. Được thực hiện các
quyền khác theo quy định của pháp luật.
Điều 16. Nghĩa vụ của chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở
thương mại
1. Tổ chức lập, thẩm
định, phê duyệt dự án phát triển nhà ở và thực hiện việc xây dựng nhà ở theo
đúng quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật
có liên quan do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; triển khai thực hiện
dự án đúng tiến độ và nội dung dự án đã được phê duyệt hoặc cho phép bổ sung.
2. Công khai các thông
tin liên quan đến dự án phát triển nhà ở theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của
Luật Nhà ở sau khi có quyết định phê duyệt dự án.
3. Huy động vốn để xây
dựng nhà ở theo đúng quy định tại Điều 9 và Điều 60 của Nghị định này.
4. Trường hợp tổ chức,
cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê theo Giấy chứng nhận đầu
tư do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp và theo nội dung dự án phát
triển nhà ở đã được phê duyệt thì chủ đầu tư không được bán nhà ở đó.
Trong trường hợp chủ đầu
tư cấp I thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chủ đầu tư cấp II thì
chỉ được ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau khi đã có các công
trình hạ tầng kỹ thuật tương ứng với nội dung và tiến độ của dự án đã được phê
duyệt.
5. Đối với những dự án
phát triển nhà ở tại các thành phố, thị xã hoặc các khu đô thị mới được quy
hoạch phát triển thành thành phố, thị xã thì chủ đầu tư không được chuyển
nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức bán nền chưa xây dựng nhà ở cho các hộ
gia đình, cá nhân mà chủ đầu tư phải thực hiện xây dựng nhà ở để bán theo quy
định của Nghị định này; đối với những trường hợp khác thì thực hiện theo quy
định của pháp luật về đất đai.
6. Dành diện tích đất
xây dựng nhà ở đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong các dự án
phát triển nhà ở thương mại, khu đô thị mới để xây dựng nhà ở xã hội theo quy
định tại khoản 2 Điều 32 của Nghị định này.
7. Làm thủ tục để cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp nhà ở được xây dựng
để bán và bàn giao các giấy tờ có liên quan đến nhà ở cho bên mua trong thời
gian tối đa là 50 ngày, kể từ ngày bàn giao nhà ở cho người mua, trừ trường hợp
bên mua tự nguyện làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận.
Trong trường hợp được
phép xây dựng nhà ở trên đất thuê của Nhà nước để bán cho các đối tượng là tổ
chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được
sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì phải làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm
quyền công nhận quyền sử dụng đất ở ổn định lâu dài cho người mua và chủ đầu tư
phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước theo quy định của pháp luật.
8. Bảo hành nhà ở theo
quy định tại Điều 74 của Luật Nhà ở và của Nghị định này.
9. Bảo trì quỹ nhà ở cho
thuê thuộc quyền sở hữu của mình (nếu có) và các công trình hạ tầng kỹ thuật,
hạ tầng xã hội chưa chuyển giao hoặc không phải chuyển giao trong phạm vi dự án
theo quy định của pháp luật.
10. Tổ chức thực hiện
các hoạt động dịch vụ quản lý sử dụng nhà ở, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các
dịch vụ khác có liên quan trong phạm vi dự án theo quy định của pháp luật; quản
lý vận hành các công trình đã đưa vào khai thác theo nhiệm vụ được giao hoặc
khi chưa chuyển giao cho các tổ chức dịch vụ công ích hoặc tổ chức quản lý
chuyên ngành.
11. Tổ chức quản lý an
ninh trật tự khu vực dự án đã đưa vào khai thác sử dụng và kinh doanh khi chưa
chuyển giao việc quản lý hành chính cho chính quyền địa phương.
12. Chủ trì thành lập
Ban quản trị nhà chung cư theo quy định của Luật Nhà ở và quy định về quản lý
việc sử dụng nhà chung cư do Bộ Xây dựng ban hành.
13. Thực hiện các quy
định tại Điều 10 và Điều 11 của Nghị định này.
14. Thực hiện các nghĩa
vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của Nghị định này và pháp luật có
liên quan.
MỤC 3. PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ QUỸ NHÀ Ở CÔNG VỤ
Điều 17. Phát triển nhà ở công vụ
1. Dự án phát triển nhà
ở công vụ bao gồm ba loại sau đây:
a) Dự án phát triển nhà
ở công vụ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đầu tư để cho các đối tượng thuộc
diện địa phương quản lý thuê;
b) Dự án phát triển nhà
ở công vụ do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư để cho các đối tượng thuộc
diện trung ương quản lý thuê;
c) Dự án phát triển nhà
ở công vụ do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quyết định đầu tư để cho các đối tượng
thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý thuê sau khi được Thủ tướng Chính phủ
cho phép đầu tư.
2. Lựa chọn chủ đầu tư
dự án phát triển nhà ở công vụ:
a) Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quyết định lựa chọn chủ đầu tư đối với dự án phát triển nhà ở quy định tại
điểm a khoản 1 Điều này;
b) Thủ tướng Chính phủ
quyết định lựa chọn chủ đầu tư đối với dự án phát triển nhà ở quy định tại điểm
b khoản 1 Điều này;
c) Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng quyết định lựa chọn chủ đầu tư đối với dự án phát triển nhà ở quy định
tại điểm c khoản 1 Điều này.
Điều 18. Lập, thẩm định và phê duyệt dự án phát triển nhà ở
công vụ
1. Nội dung dự án phát
triển nhà ở công vụ được lập theo quy định tại Điều 6 của Nghị định này.
2. Đối với dự án phát
triển nhà ở công vụ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đầu tư thì Sở Xây
dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan ở địa phương thẩm định dự
án trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Trường hợp Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
quyết định đầu tư (đối với dự án dưới 30 tỷ đồng) thì thực hiện theo quy định
tại khoản 1 Điều 7 của Nghị định này.
3. Đối với dự án phát
triển nhà ở công vụ do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì Bộ Xây dựng
chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thẩm định dự án để trình Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt.
4. Đối với dự án phát
triển nhà ở công vụ do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quyết định đầu tư thì Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng lấy ý kiến của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ
Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước khi thẩm định và phê duyệt dự án.
5. Nội dung phê duyệt dự
án phát triển nhà ở công vụ được thực hiện theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 7 của Nghị định này.
6. Đối với các khu vực
thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo thì
có thể gộp chung việc đầu tư xây dựng nhà ở công vụ vào dự án đầu tư xây dựng
trụ sở làm việc, trường học hoặc cơ sở y tế và có thể thực hiện xây dựng trong
khuôn viên của trụ sở làm việc, trường học hoặc cơ sở y tế đó, nhưng phải có
hàng rào phân định ranh giới khu vực nhà ở công vụ và nơi làm việc.
Điều 19. Vốn đầu tư xây dựng nhà ở công vụ
1. Đối với nhà ở công vụ
được xây dựng để bố trí cho các đối tượng thuộc diện địa phương quản lý thuê
thì sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách địa phương.
Căn cứ vào nhu cầu về
nhà ở công vụ của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập kế
hoạch vốn trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định. Đối với các địa phương
thuộc diện được hỗ trợ hàng năm từ ngân sách trung ương mà có khó khăn về vốn
xây dựng nhà ở công vụ thì phải báo cáo Bộ Xây dựng để phối hợp với Bộ Tài
chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
2. Đối với nhà ở công vụ
được xây dựng để bố trí cho các đối tượng thuộc diện các cơ quan trung ương
quản lý thuê (bao gồm cả nhà ở của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an) thì sử dụng vốn
đầu tư từ ngân sách trung ương.
Cơ quan được giao xây
dựng nhà ở công vụ cho các đối tượng thuộc diện cơ quan trung ương quản lý thuê
có trách nhiệm gửi thông báo về nhu cầu vốn xây dựng nhà ở công vụ cho Bộ Xây
dựng để chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính lập kế
hoạch vốn trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
3. Vốn đầu tư xây dựng
nhà ở công vụ được bố trí từ các nguồn sau đây:
a) Ngân sách trung ương
theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; ngân sách địa phương theo quyết định
của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
b) Trích từ tiền bán nhà
và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích nhà, đất được bố trí làm
nhà công sở nhưng không còn nhu cầu sử dụng theo quyết định của Thủ tướng Chính
phủ.
Điều 20. Quỹ đất xây dựng nhà ở công vụ
1. Ủy ban nhân dân cấp
có thẩm quyền có trách nhiệm xác định quỹ đất để xây dựng nhà ở công vụ quy
định tại khoản 1 Điều 17 của Nghị định này trên địa bàn khi tổ chức lập, phê
duyệt quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn.
2. Cơ quan được giao xây
dựng nhà ở công vụ cho các đối tượng thuộc diện cơ quan trung ương quản lý thuê
có trách nhiệm thông báo nhu cầu về nhà ở công vụ cho Bộ Xây dựng để phối hợp
với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định quỹ đất xây dựng nhà ở công vụ và đưa vào
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.
Căn cứ vào yêu cầu của
Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập kế hoạch, quy hoạch sử
dụng đất và bố trí quỹ đất để xây dựng nhà ở công vụ theo quy định của Nghị
định này.
3. Miễn tiền sử dụng đất
đối với diện tích đất được giao để thực hiện các dự án phát triển nhà ở công
vụ.
Điều 21. Loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở công vụ
1. Nhà ở công vụ có tiêu
chuẩn diện tích, chất lượng và loại nhà phù hợp với các đối tượng sử dụng, bảo
đảm cho các đối tượng được thuê có điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
2. Cán bộ, công chức đảm
nhiệm các chức vụ lãnh đạo là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng và tương
đương trở lên thuộc đối tượng được thuê nhà ở công vụ được bố trí thuê loại nhà
biệt thự. Các đối tượng khác được bố trí thuê nhà chung cư hoặc nhà ở thấp tầng
(nhà ở riêng lẻ, nhà một tầng nhiều gian) đối với khu vực chưa phát triển nhà
chung cư.
3. Nhà ở công vụ gồm các
loại: nhà biệt thự, nhà chung cư, nhà ở riêng lẻ, nhà một tầng nhiều gian. Tiêu
chuẩn diện tích nhà ở công vụ do Thủ tướng Chính phủ quy định và được điều
chỉnh cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
theo đề xuất của Bộ Xây dựng.
4. Bộ Xây dựng hướng dẫn
cụ thể thiết kế mẫu, thiết kế điển hình các loại nhà ở công vụ quy định tại
Điều này.
Điều 22. Thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở công vụ
1. Việc thiết kế, lập dự
toán, lựa chọn đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị thi công xây dựng nhà ở công vụ
phải tuân thủ các quy định của pháp luật về xây dựng và pháp luật về quản lý,
sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
2. Đơn vị tư vấn thiết
kế nhà ở công vụ phải áp dụng các quy định về tiêu chuẩn thiết kế, các giải
pháp công nghệ thi công và sử dụng vật liệu hợp lý nhằm bảo đảm mục tiêu về
tiến độ, chất lượng và hạ giá thành xây dựng.
Điều 23. Đối tượng được thuê nhà ở công vụ
1. Cán bộ lãnh đạo của
Đảng, Nhà nước thuộc diện ở nhà công vụ trong thời gian đảm nhận chức vụ.
2. Cán bộ, công chức
thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội được luân
chuyển hoặc điều động có thời hạn theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền từ
địa phương về trung ương, từ trung ương về địa phương hoặc từ địa phương này
sang địa phương khác mà có đủ điều kiện quy định tại Điều 24 của Nghị định này
thì được thuê nhà ở công vụ trong thời gian thực hiện công vụ.
3. Sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được điều động, phục vụ theo
yêu cầu quốc phòng, an ninh.
4. Giáo viên được cử đến
công tác tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, khu vực biên
giới, hải đảo.
5. Bác sĩ, nhân viên y
tế được cử đến công tác tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,
khu vực biên giới, hải đảo hoặc được cử luân phiên có thời hạn xuống công tác
tại các bệnh viện, các trung tâm y tế tuyến dưới.
Điều 24. Điều kiện được thuê nhà ở công vụ
1. Đối tượng quy định
tại khoản 1 Điều 23 của Nghị định này được bố trí nhà ở công vụ theo yêu cầu an
ninh.
2. Các đối tượng thuộc
diện quy định tại các khoản 2, 3, 4 và khoản 5 Điều 23 của Nghị định này được
bố trí thuê nhà ở công vụ phải là người chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình,
chưa được mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội tại địa phương nơi đến công tác.
Điều 25. Sắp xếp, bố trí và ký hợp đồng cho thuê nhà ở công
vụ
1. Đối tượng thuộc diện
quy định tại khoản 1 Điều 23 của Nghị định này được bố trí thuê nhà ở công vụ
theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quyết định đối
tượng được thuê nhà ở công vụ thuộc diện quản lý.
2. Các đối tượng thuộc
diện được thuê nhà ở công vụ quy định tại các khoản 2, 3, 4 và khoản 5 Điều 23
của Nghị định này phải có đơn đề nghị thuê nhà ở công vụ có xác nhận của cơ
quan, tổ chức nơi đang công tác.
3. Cơ quan, tổ chức nơi
người có nhu cầu thuê nhà ở công vụ đang công tác tập hợp đơn đề nghị thuê nhà
ở công vụ của các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này và có văn bản gửi đơn
vị được giao quản lý vận hành nhà ở công vụ.
4. Căn cứ quyết định bố trí
nhà ở công vụ của cấp có thẩm quyền, của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đối với
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này; đơn của người thuê nhà ở và văn bản
đề nghị của cơ quan, tổ chức đang trực tiếp quản lý người thuê nhà ở đối với
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, đơn vị được giao quản lý vận hành nhà
ở công vụ thực hiện ký hợp đồng cho thuê nhà ở với người thuê hoặc ký hợp đồng
với cơ quan đang trực tiếp quản lý người thuê nhà ở.
Điều 26. Giá cho thuê nhà ở công vụ
1. Giá cho thuê nhà ở
công vụ được xác định theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tính đủ các chi phí
cần thiết để thực hiện quản lý, vận hành và bảo trì trong quá trình sử dụng nhà
ở (không tính chi phí khấu hao vốn đầu tư xây dựng);
b) Không tính tiền sử
dụng đất;
c) Giá cho thuê nhà ở
công vụ được xem xét, điều chỉnh năm năm một lần.
2. Căn cứ vào các nguyên
tắc quy định tại khoản 1 Điều này và phương pháp xác định giá cho thuê nhà ở
công vụ theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng có trách nhiệm xây dựng và
trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành khung giá cho thuê nhà ở công vụ để áp
dụng thống nhất trên địa bàn. Trên cơ sở khung giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
ban hành, cơ quan quản lý nhà ở công vụ trình người quyết định đầu tư phê duyệt
giá cho thuê nhà ở công vụ do mình quản lý.
Điều 27. Thanh toán tiền thuê nhà ở công vụ
1. Người được thuê nhà ở
công vụ có trách nhiệm trả tiền thuê nhà ở theo đúng nội dung hợp đồng thuê nhà
đã ký kết và phù hợp với thời điểm được Nhà nước thanh toán tiền lương theo quy
định. Trường hợp người thuê không trả tiền thuê trong ba tháng liên tục thì đơn
vị quản lý vận hành nhà ở công vụ có quyền yêu cầu cơ quan đang trực tiếp quản
lý người thuê nhà ở công vụ khấu trừ từ tiền lương của người thuê nhà để trả
tiền thuê nhà; cơ quan đang trực tiếp quản lý người thuê nhà ở có trách nhiệm
khấu trừ tiền lương của người thuê nhà để trả cho đơn vị quản lý vận hành nhà ở
công vụ.
2. Trường hợp đơn vị
quản lý vận hành nhà ở công vụ ký hợp đồng thuê nhà với cơ quan đang trực tiếp
quản lý người thuê nhà ở công vụ thì cơ quan này có trách nhiệm trích từ tiền
lương của người thuê nhà ở để trả cho đơn vị quản lý vận hành nhà ở công vụ.
Điều 28. Quản lý sử dụng nhà ở công vụ
1. Nhà ở công vụ chỉ sử
dụng để cho thuê. Việc quản lý, bảo trì, cải tạo nhà ở công vụ được thực hiện
theo quy định về quản lý, bảo trì, cải tạo nhà ở thuộc sở hữu nhà nước.
2. Người quyết định đầu
tư dự án phát triển nhà ở công vụ quyết định lựa chọn đơn vị quản lý vận hành
nhà ở công vụ sau khi hoàn thành việc đầu tư xây dựng.
3. Hoạt động quản lý vận
hành nhà ở công vụ được hưởng các cơ chế như đối với dịch vụ công ích theo
hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Bộ Xây dựng quy định và
hướng dẫn việc quản lý, sử dụng nhà ở công vụ để áp dụng thống nhất trong cả
nước.
Điều 29. Quyền và nghĩa vụ của người thuê nhà ở công vụ
1. Sử dụng nhà ở đúng
mục đích, có trách nhiệm giữ gìn nhà ở và các tài sản kèm theo; không được tự ý
cải tạo, sửa chữa nhà ở công vụ.
2. Không được chuyển đổi
hoặc cho thuê lại nhà ở dưới bất kỳ hình thức nào và phải trả lại nhà ở cho đơn
vị quản lý vận hành nhà ở công vụ trong thời hạn ba tháng kể từ khi không còn
thuộc đối tượng được thuê nhà ở công vụ hoặc khi không còn nhu cầu thuê nhà ở
công vụ.
3. Đối tượng được bố trí
thuê nhà ở công vụ phải trả tiền thuê nhà ở hàng tháng theo quy định tại Điều
27 của Nghị định này. Việc chi trả các khoản chi phí phục vụ sinh hoạt khác
thực hiện theo quy định của pháp luật.
4. Được sử dụng nhà ở
công vụ để ở cho bản thân và các thành viên trong gia đình.
5. Đối với trường hợp
thuộc diện được thuê nhà ở công vụ nhưng chưa có nhà ở công vụ để bố trí thuê
thì cơ quan, tổ chức đang trực tiếp quản lý cán bộ có trách nhiệm thuê nhà ở
cho họ với tiêu chuẩn tương đương của tiêu chuẩn nhà ở công vụ mà họ được bố
trí thuê và trích từ tiền lương của người thuê nhà để trả tiền thuê nhà.
Trong trường hợp tiền
thuê nhà ở cao hơn giá cho thuê mà người thuê nhà phải trả thì ngân sách nhà
nước chi trả phần chênh lệch đó theo nguyên tắc ngân sách trung ương chi trả
cho cán bộ thuộc diện cơ quan trung ương quản lý, ngân sách địa phương chi trả
cho cán bộ thuộc diện cơ quan địa phương quản lý.
6. Khi người thuê nhà
phải trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 30 của Nghị
định này mà chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình hoặc chưa được mua, được thuê,
thuê mua nhà ở xã hội tại nơi cư trú sau khi trả nhà ở công vụ thì cơ quan, tổ
chức nơi người đó công tác phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người đó
cư trú bố trí cho họ được mua, được thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội hoặc hỗ trợ
bằng hình thức khác để họ có nhà ở.
Điều 30. Trách nhiệm của đơn vị quản lý vận hành nhà ở công
vụ
1. Cho thuê đúng đối
tượng và điều kiện theo quy định tại Điều 23 và Điều 24 của Nghị định này.
2. Tập hợp và lưu giữ
đầy đủ hồ sơ nhà ở công vụ.
3. Phối hợp với các cơ
quan chức năng của địa phương trong việc đảm bảo an ninh, trật tự đối với nhà ở
công vụ. Các cơ quan chức năng về an ninh, trật tự có trách nhiệm phối hợp theo
yêu cầu của đơn vị quản lý nhà ở công vụ.
4. Thực hiện việc bảo
trì, quản lý vận hành nhà ở công vụ theo quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này
và các quy định của pháp luật về xây dựng.
5. Thu tiền thuê nhà ở
của người được bố trí thuê nhà ở công vụ.
6. Thu hồi nhà ở công vụ
trong các trường hợp sau đây:
a) Khi người thuê nhà
hết tiêu chuẩn được thuê nhà ở công vụ;
b) Khi người thuê nhà
chuyển công tác đến địa phương khác.
c) Khi người thuê nhà có
nhu cầu trả lại nhà ở công vụ;
d) Khi người đang thuê
nhà ở công vụ bị chết;
đ) Khi người thuê nhà sử
dụng nhà ở công vụ sai mục đích hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người
thuê nhà ở công vụ.
MỤC 4. PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ NHÀ Ở XÃ HỘI
Điều 31. Phát triển nhà ở xã hội
1. Nhà ở xã hội được xây
dựng để cho các đối tượng quy định tại Điều 37 của Nghị định này mua, thuê hoặc
thuê mua. Nhà ở xã hội có hai loại sau đây:
a) Nhà ở xã hội do Nhà
nước đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách nhà nước để cho thuê;
b) Nhà ở xã hội được đầu
tư xây dựng bằng vốn không phải từ ngân sách nhà nước để bán, cho thuê, cho
thuê mua theo quy định của Nghị định này.
2. Nhà ở xã hội quy định
tại khoản 1 Điều này phải được quản lý chặt chẽ; đơn vị được giao quản lý vận
hành nhà ở xã hội phải bán, cho thuê, cho thuê mua đúng đối tượng, đủ điều kiện
theo quy định của Nghị định này và không được tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng
nhà ở xã hội sang làm mục đích khác.
3. Trách nhiệm của Bộ
Xây dựng trong việc phát triển nhà ở xã hội:
a) Căn cứ vào định
hướng, chiến lược phát triển nhà ở quốc gia và tình hình thực tế, xây dựng và
trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các chương trình mục tiêu quốc gia về hỗ
trợ nhà ở và phát triển nhà ở xã hội cho các đối tượng xã hội có nhu cầu cần sự
hỗ trợ của Nhà nước về nhà ở;
b) Tổ chức chỉ đạo thực
hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về hỗ trợ nhà ở và phát triển nhà ở xã
hội quy định tại điểm a khoản này;
c) Hướng dẫn tiêu chuẩn
thiết kế; đối tượng, điều kiện, quy trình lựa chọn đối tượng mua, thuê, thuê
mua nhà ở; phương thức xác định giá bán, giá cho thuê, giá cho thuê mua nhà ở
và việc quản lý nhà ở xã hội quy định tại Mục này.
4. Trách nhiệm của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh trong việc phát triển nhà ở xã hội:
a) Phê duyệt và công bố
công khai quy hoạch chi tiết xây dựng, quy hoạch phát triển nhà ở, quỹ đất và
địa điểm cụ thể dành để phát triển nhà �� xã hội bảo đảm sự gắn kết với dự án
phát triển nhà ở thương mại, khu đô thị mới hoặc khu kinh tế, khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu công nghệ cao;
b) Lập kế hoạch, chương
trình phát triển nhà ở xã hội năm năm và hàng năm, trong đó xác định cụ thể
loại nhà ở; nhu cầu về diện tích nhà ở, cơ cấu căn hộ dành để bán, cho thuê,
cho thuê mua, cân đối cụ thể các nguồn vốn đầu tư phù hợp với các quy định tại
Điều 52 của Luật Nhà ở; cơ chế khuyến khích để kêu gọi các tổ chức, cá nhân
thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển nhà ở xã hội;
c) Phê duyệt theo thẩm
quyền hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt các dự án phát
triển nhà ở xã hội được xây dựng bằng vốn ngân sách địa phương; chấp thuận đầu
tư đối với dự án phát triển nhà ở được xây dựng bằng các nguồn vốn không phải
từ ngân sách nhà nước và chỉ đạo, kiểm tra việc triển khai thực hiện.
Điều 32. Quỹ đất dành cho phát triển nhà ở xã hội
1. Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xác định và bố trí quỹ đất
để xây dựng nhà ở xã hội khi lập, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch
xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao trên địa bàn.
2. Đối với những địa
phương có nhu cầu về nhà ở xã hội thì căn cứ vào điều kiện cụ thể, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh xem xét, quyết định yêu cầu chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở
thương mại, khu đô thị mới trên địa bàn có quy mô sử dụng đất từ 10ha trở lên
có trách nhiệm dành 20% diện tích đất xây dựng nhà ở đã đầu tư xây dựng hệ
thống hạ tầng kỹ thuật của các dự án này để xây dựng nhà ở xã hội.
Trường hợp chủ đầu tư
bàn giao diện tích đất quy định tại khoản này cho chính quyền địa phương để xây
dựng nhà ở xã hội thì được hoàn trả hoặc được trừ vào các nghĩa vụ tài chính mà
chủ đầu tư phải nộp vào ngân sách nhà nước các khoản chi phí bồi thường giải
phóng mặt bằng và chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của diện tích đất
dành để xây dựng nhà ở xã hội.
3. Đối với quỹ đất để
xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế,
khu công nghệ cao (sau đây gọi chung là khu công nghiệp) thì thực hiện theo quy
định sau đây:
a) Trường hợp khu công
nghiệp đang trong giai đoạn hình thành thì Ban quản lý khu công nghiệp của địa
phương hoặc doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp có trách nhiệm tổ
chức giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu nhà ở công
nhân phục vụ cho khu công nghiệp đó và chuyển giao cho chủ đầu tư dự án để xây
dựng nhà ở công nhân. Chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, đầu tư cơ sở hạ
tầng khu nhà ở công nhân được phân bổ vào tiền thuê đất tại khu công nghiệp;
b) Trường hợp khu công
nghiệp đã hình thành thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm rà soát, bổ
sung quy hoạch, tổ chức thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng để giao
cho doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp hoặc doanh nghiệp có chức
năng kinh doanh bất động sản để xây dựng nhà ở cho công nhân thuê. Chi phí giải
phóng mặt bằng được trích từ nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất để
lại cho địa phương.
Điều 33. Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở xã hội
1. Đối với dự án phát
triển nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước thì
người quyết định đầu tư lựa chọn chủ đầu tư
2. Đối với dự án phát
triển nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn không phải từ ngân sách
nhà nước thì việc lựa chọn chủ đầu tư dự án được thực hiện theo quy định sau
đây:
a) Trường hợp xây dựng
nhà ở xã hội trong dự án phát triển nhà ở thương mại, khu đô thị mới quy định
tại khoản 2 Điều 32 của Nghị định này thì chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở
thương mại, khu đô thị mới đồng thời đảm nhận làm chủ đầu tư dự án phát triển
nhà ở xã hội; nếu chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, khu đô thị mới
không đảm nhận làm chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở xã hội thì Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh giao cho chủ đầu tư khác đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê
hoặc cho thuê mua.
b) Trường hợp nhà đầu tư
đã có quỹ đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình, phù hợp với quy hoạch xây
dựng nhà ở và đăng ký làm chủ đầu tư thì nhà đầu tư đó được làm chủ đầu tư dự
án phát triển nhà ở xã hội;
c) Trường hợp nhà đầu tư
được Nhà nước giao đất để xây dựng nhà ở xã hội thì nhà đầu tư đó được làm chủ
đầu tư dự án phát triển nhà ở xã hội.
Điều 34. Ưu đãi chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở xã hội
Chủ đầu tư dự án phát
triển nhà ở xã hội được xây dựng bằng nguồn vốn không phải từ ngân sách nhà
nước được hưởng các ưu đãi sau đây:
1. Được miễn tiền sử
dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất trong phạm vi dự án xây dựng nhà
ở xã hội đã được phê duyệt;
2. Được áp dụng thuế
suất ưu đãi thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về thuế giá trị
gia tăng;
3. Được miễn, giảm và
hưởng các ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp
luật về thuế thu nhập doanh nghiệp;
4. Được hỗ trợ tín dụng
đầu tư từ các nguồn: vay vốn tín dụng ưu đãi hoặc bù lãi suất theo quy định;
vay từ Quỹ phát triển nhà ở hoặc Quỹ tiết kiệm nhà ở (nếu có); được Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh xem xét hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ lãi vay;
5. Được xem xét hỗ trợ
một phần hoặc toàn bộ kinh phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong phạm vi
dự án phát triển nhà ở xã hội;
6. Được Bộ Xây dựng cung
cấp miễn phí thiết kế mẫu, thiết kế điển hình về nhà ở và các tiến bộ khoa học
kỹ thuật về thi công, xây lắp nhằm giảm giá thành xây dựng; được áp dụng hình
thức chỉ định thầu đối với các hợp đồng tư vấn, thi công xây lắp hoặc mua sắm
thiết bị;
7. Đối với doanh nghiệp
tự đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân khu công nghiệp nhưng không thu tiền
thuê nhà hoặc thu tiền thuê với giá thuê không vượt quá mức giá cho thuê nhà ở
xã hội do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và các doanh nghiệp thuê nhà để bố
trí cho công nhân ở thì chi phí xây dựng nhà ở hoặc chi phí tiền thuê nhà ở
được tính là chi phí hợp lý trong giá thành sản xuất khi tính thuế thu nhập
doanh nghiệp.
Bộ Tài chính có trách
nhiệm hướng dẫn theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền quy định chế
độ miễn, giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 35. Lập, thẩm định, phê duyệt dự án phát triển nhà ở xã
hội
1. Đối với dự án phát
triển nhà ở được xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước thì đơn vị được
giao làm chủ đầu tư tổ chức lập dự án và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ủy
ban nhân dân cấp huyện thẩm định và phê duyệt theo quy định tại Điều 7 của Nghị
định này. Trường hợp xây dựng nhà ở bằng nguồn vốn ngân sách trung ương thì
thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 của Nghị định này.
2. Đối với dự án phát
triển nhà ở được xây dựng bằng nguồn vốn không phải từ ngân sách nhà nước thì
chủ đầu tư phải trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện
có văn bản chấp thuận đầu tư theo quy định tại Điều 7 của Nghị định này. Sau
khi có văn bản chấp thuận đầu tư, chủ đầu tư tổ chức lập, thẩm định và phê
duyệt dự án theo quy định của Nghị định này và pháp luật về xây dựng.
Trường hợp dự án phát
triển nhà ở xã hội có quy mô từ 2.500 căn nhà trở lên thì thực hiện theo quy
định tại khoản 3 Điều 7 của Nghị định này.
Điều 36. Tiêu chuẩn thiết kế nhà ở xã hội
1. Tiêu chuẩn thiết kế
nhà ở xã hội được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với nhà ở xã hội
tại khu vực đô thị được xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước thì tiêu
chuẩn thiết kế nhà ở được thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
47 của Luật Nhà ở. Tại các khu vực khác không phải là đô thị thì có thể xây
dựng nhà ở riêng lẻ hoặc nhà ở một tầng nhiều gian;
b) Đối với nhà ở được
đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn không phải từ ngân sách nhà nước để phục vụ cho
các đối tượng là công nhân, người lao động trong khu công nghiệp, người thu
nhập thấp tại khu vực đô thị thì tiêu chuẩn thiết kế diện tích sàn mỗi căn hộ
chung cư không quá 70m2, không khống chế số tầng, chủ đầu tư được
điều chỉnh tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất lên 1,5 lần so với quy
chuẩn xây dựng hiện hành, phù hợp với quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt.
2. Việc lựa chọn đơn vị
tư vấn thiết kế, đơn vị thi công xây dựng nhà ở xã hội được thực hiện theo quy
định của pháp luật.
3. Đơn vị tư vấn thiết
kế phải căn cứ vào quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn thiết kế nhà ở xã
hội để thiết kế nhà ở, bảo đảm chất lượng và hạ giá thành xây dựng, khuyến
khích áp dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình về nhà ở xã hội.
Điều 37. Đối tượng được mua, được thuê, thuê mua nhà ở xã
hội
1. Cán bộ, công chức,
viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
2. Sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân hưởng lương từ ngân sách nhà
nước.
3. Công nhân làm việc
tại khu công nghiệp.
4. Các đối tượng đã trả
lại nhà ở công vụ quy định tại điểm a khoản 6 Điều 30 của Nghị định này.
5. Học sinh, sinh viên
các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp
nghề không phân biệt công lập hay dân lập được thuê nhà ở trong thời gian học
tập.
6. Người thu nhập thấp
tại khu vực đô thị theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Điều 38. Điều kiện được mua, được thuê, thuê mua nhà ở xã
hội
1. Đối tượng được thuê
nhà ở xã hội do Nhà nước đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách nhà nước phải đáp
ứng các điều kiện sau đây:
a) Chưa có nhà ở thuộc
sở hữu của mình và chưa được mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được
Nhà nước hỗ trợ nhà ở, đất ở dưới mọi hình thức hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của
mình nhưng diện tích bình quân trong hộ gia đình dưới 5m2 sàn/người
hoặc là nhà ở tạm bợ, hư hỏng, dột nát;
b) Có mức thu nhập bình
quân hàng tháng của hộ gia đình thuộc diện thu nhập thấp theo quy định của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 37 của Nghị
định này.
2. Đối tượng được mua,
được thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng bằng vốn không phải
từ ngân sách nhà nước phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có các điều kiện quy
định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Có mức thu nhập bình
quân hàng tháng của hộ gia đình dưới mức thu nhập bình quân của địa phương theo
quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
c) Đối với trường hợp
mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú dài hạn
tại địa phương nơi có dự án phát triển nhà ở xã hội;
d) Đối với trường hợp
thuê mua nhà ở xã hội thì ngoài các điều kiện quy định tại các điểm a, b và
điểm c khoản này còn phải có khả năng thanh toán lần đầu bằng 20% giá trị của
nhà ở thuê mua.
3. Căn cứ vào Nghị định
này, hướng dẫn của Bộ Xây dựng và điều kiện cụ thể của từng địa phương, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xác định mức thu nhập bình quân và thu nhập
thấp tại địa phương, điều kiện được mua, được thuê, thuê mua nhà ở xã hội trên
phạm vi địa bàn trong từng thời kỳ và công bố công khai trên phương tiện thông
tin đại chúng của địa phương, trên Website của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và của
Sở Xây dựng.
Điều 39. Giá bán, cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội
1. Giá cho thuê nhà ở xã
hội do Nhà nước đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách được xác định theo nguyên
tắc:
a) Tính đủ các chi phí
bảo đảm thu hồi vốn đầu tư xây dựng, chi phí bảo trì, quản lý, vận hành quỹ nhà
ở xã hội;
b) Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh ban hành khung giá cho thuê nhà ở xã hội để áp dụng trên địa bàn.
2. Giá bán, cho thuê,
cho thuê mua nhà ở xã hội đầu tư xây dựng bằng vốn không phải từ ngân sách nhà
nước được xác định theo nguyên tắc:
a) Giá bán nhà ở xã hội
do chủ đầu tư dự án xây dựng bảo đảm tính đủ các chi phí để thu hồi vốn đầu tư
xây dựng, kể cả lãi vay (nếu có) và lợi nhuận định mức theo quy định; không
tính các khoản ưu đãi của Nhà nước quy định tại Điều 34 của Nghị định này vào
giá bán. Trong trường hợp bán trả chậm, trả dần thì người mua phải nộp tiền lần
đầu không quá 20% giá nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; thời
hạn mua nhà trả chậm, trả dần tối thiểu là 10 năm, kể từ ngày ký hợp đồng mua
bán nhà ở;
b) Giá cho thuê, cho
thuê mua nhà ở xã hội do chủ đầu tư dự án xây dựng bảo đảm tính đủ các chi phí
thu hồi vốn đầu tư xây dựng, kể cả lãi vay (nếu có), chi phí bảo trì, quản lý,
vận hành và lợi nhuận định mức theo quy định; không tính các khoản ưu đãi của
Nhà nước vào giá thuê, thuê mua. Thời hạn thu hồi vốn đối với nhà ở cho thuê
tối thiểu là 20 năm, kể từ ngày ký hợp đồng thuê.
Trong trường hợp cho
thuê mua thì người thuê mua phải nộp tiền lần đầu bằng 20% giá trị nhà ở; thời
hạn thuê mua tối thiểu là 10 năm, kể từ ngày ký hợp đồng thuê mua nhà ở;
c) Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định giá bán, giá cho thuê, cho thuê mua đối
với nhà ở xã hội đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn không phải từ ngân sách nhà
nước trên phạm vi địa bàn.
Điều 40. Quản lý sử dụng nhà ở xã hội
1. Đối với nhà ở xã hội
do Nhà nước đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách nhà nước thì người quyết định
đầu tư lựa chọn đơn vị quản lý vận hành và khai thác nhà ở; trường hợp có từ
hai đơn vị trở lên đăng ký tham gia thì việc lựa chọn đơn vị quản lý vận hành và
khai thác nhà ở xã hội được thực hiện theo nguyên tắc đấu thầu.
2. Đối với nhà ở xã hội
được đầu tư xây dựng bằng vốn không phải từ ngân sách nhà nước thì chủ đầu tư
có trách nhiệm tổ chức quản lý việc sử dụng, vận hành và khai thác nhà ở xã
hội.
3. Các dịch vụ quản lý
vận hành nhà ở xã hội được hưởng các cơ chế như đối với dịch vụ công ích theo
hướng dẫn của Bộ Tài chính.
4. Đơn vị quản lý vận
hành và khai thác nhà ở xã hội được quyền kinh doanh các dịch vụ khác trong khu
nhà ở xã hội để tạo nguồn bù đắp chi phí quản lý vận hành, bảo trì nhằm giảm
giá cho thuê nhà ở.
5. Người thuê, thuê mua
nhà ở xã hội không được chuyển nhượng nhà ở dưới bất kỳ hình thức nào trong
thời gian thuê, thuê mua nhà ở xã hội. Trường hợp mua, thuê mua nhà ở xã hội
thìchỉ được phép bán, cho thuê nhà ở đó sau khi đã trả hết tiền cho chủ đầu tư
và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở nhưng phải bảo đảm
thời gian tối thiểu là 10 năm, kể từ thời điểm ký hợp đồng mua bán, hợp đồng
thuê mua nhà ở xã hội.
Trong trường hợp mua nhà
ở mà chưa đủ thời gian 10 năm, kể từ thời điểm ký kết hợp đồng mua bán nhưng
bên mua có nhu cầu bán thì chỉ được bán cho Nhà nước hoặc cho chủ đầu tư hoặc
cho đối tượng được mua nhà ở xã hội theo quy định của địa phương; giá bán không
cao hơn mức giá nhà ở xã hội cùng loại tại thời điểm bán. Trường hợp mua bán
nhà ở vi phạm quy định tại khoản này thì hợp đồng mua bán đã ký không có giá
trị pháp lý và bị xử lý theo quy định tại khoản 4 Điều 58 của Nghị định này.
MỤC 5. XÂY DỰNG NHÀ Ở RIÊNG LẺ CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
Điều 41. Yêu cầu về việc xây dựng nhà ở riêng lẻ của hộ gia
đình, cá nhân
1. Hộ gia đình, cá nhân
chỉ được xây dựng nhà ở trên diện tích đất đã có giấy tờ về quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật về đất đai và không thuộc diện bị cấm xây dựng theo
quy định của pháp luật về xây dựng.
2. Trước khi xây dựng
nhà ở riêng lẻ, hộ gia đình, cá nhân phải làm thủ tục để cơ quan có thẩm quyền
cấp Giấy phép xây dựng, trừ trường hợp được miễn Giấy phép xây dựng theo quy
định của pháp luật về xây dựng.
3. Cơ quan có thẩm quyền
cấp Giấy phép xây dựng nhà ở phải căn cứ vào tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng và
quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 hoặc quy hoạch điểm dân cư nông thôn
đối với khu vực đã có quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt để thực hiện
cấp Giấy phép xây dựng nhà ở cho hộ gia đình, cá nhân theo đúng thời hạn quy
định của pháp luật về xây dựng.
Điều 42. Khảo sát, thiết kế và xây dựng nhà ở riêng lẻ của
hộ gia đình, cá nhân
1. Việc khảo sát, thiết
kế nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân được thực hiện theo quy định của
pháp luật về xây dựng. Đối với nhà ở riêng lẻ tại khu vực đô thị có tổng diện
tích sàn xây dựng từ 250m2 trở lên hoặc cao từ ba tầng trở lên (tính
cả tầng hầm) thì phải do các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động thiết kế
xây dựng hoặc năng lực hành nghề thiết kế xây dựng thực hiện thiết kế.
2. Trường hợp xây dựng
nhà ở riêng lẻ tại khu vực đô thị mà có tổng diện tích sàn xây dựng từ 250 m2
trở lên hoặc có chiều cao từ ba tầng trở lên (tính cả tầng hầm) thì hộ gia
đình, cá nhân phải thuê nhà thầu có đủ năng lực theo quy định của pháp luật về
xây dựng thực hiện thi công xây dựng.
3. Hộ gia đình, cá nhân
phải xây dựng nhà ở theo đúng thiết kế và Giấy phép xây dựng đã được cấp, chấp
hành các quy định của pháp luật về xây dựng trong quá trình xây dựng nhà ở và
chịu trách nhiệm về chất lượng nhà ở.
Việc xây dựng nhà ở phải
bảo đảm an toàn về người và tài sản; trường hợp gây thiệt hại cho người khác
thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 43. Quản lý chất lượng nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình,
cá nhân
1. Việc xây dựng nhà ở
riêng lẻ tại khu vực đô thị của hộ gia đình, cá nhân phải bảo đảm yêu cầu kết
nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật chung của khu vực.
2. Hộ gia đình, cá nhân
xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị có tổng diện tích sàn xây dựng từ 1.000 m2
trở lên hoặc có chiều cao từ sáu tầng trở lên (tính cả tầng hầm) thì bắt buộc
phải có chứng nhận bảo đảm an toàn chịu lực do đơn vị có chức năng cấp theo quy
định của pháp luật về xây dựng trước khi đưa vào sử dụng.
3. Trường hợp hộ gia
đình, cá nhân xây dựng nhà ở tại đô thị từ hai tầng trở lên mà tại mỗi tầng có
từ hai căn hộ trở lên và mỗi căn hộ được thiết kế, xây dựng theo kiểu khép kín
(có phòng ở riêng, khu bếp riêng, nhà vệ sinh, nhà tắm riêng) thì diện tích sàn
xây dựng mỗi căn hộ tối thiểu là 30 m2 và phải đáp ứng các quy định
về nhà chung cư theo quy định tại Điều 70 của Luật Nhà ở.
4. Đối với nhà ở thuộc
diện quy định tại khoản 2 Điều này mà không có chứng nhận bảo đảm an toàn chịu
lực do đơn vị có chức năng cấp; nhà ở có nhiều căn hộ mà không đủ các điều kiện
quy định tại khoản 3 Điều này hoặc nhà ở thuộc diện phải xin Giấy phép xây dựng
mà không có Giấy phép xây dựng thì không được Nhà nước cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu đối với nhà ở đó.
5. Đối với nhà ở có đủ
điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này mà hộ gia đình, cá nhân có yêu cầu thì
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với
từng căn hộ trong nhà ở đó; hộ gia đình, cá nhân chỉ được bán, cho thuê các căn
hộ này sau khi đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với các căn hộ đó. Khi
bán căn hộ thì hộ gia đình, cá nhân phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất
cho người mua theo hình thức đất sử dụng chung.
6. Việc quản lý sử dụng
nhà ở chung có nhiều chủ sở hữu hoặc có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng
được thực hiện theo quy định về quản lý sử dụng nhà ở chung tại đô thị.
Chương 3.
SỞ HỮU, QUẢN LÝ SỬ DỤNG
NHÀ Ở
MỤC 1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 44. Quy định về việc tạo lập hợp pháp nhà ở
Nhà ở được tạo lập hợp
pháp thông qua các hình thức sau đây:
1. Đầu tư xây dựng nhà ở
mới theo quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này và pháp luật về xây dựng;
2. Mua, nhận tặng cho,
đổi, nhận thừa kế nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này, pháp luật
về kinh doanh bất động sản và pháp luật về dân sự;
3. Thông qua các hình
thức khác theo quy định của pháp luật.
Điều 45. Quy định về việc công nhận quyền sở hữu đối với nhà
ở
1. Các tổ chức, cá nhân
thuộc đối tượng có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở
và có giấy tờ chứng minh về việc tạo lập hợp pháp nhà ở quy định tại Điều 44
của Nghị định này thì được Nhà nước công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đó mà
không bắt buộc phải có điều kiện về hộ khẩu thường trú, đăng ký kinh doanh tại
nơi có nhà ở, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 38 của Nghị định
này.
Trường hợp hộ gia đình,
cá nhân tạo lập nhà ở thông qua việc nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở
hình thành trong tương lai trong các dự án phát triển nhà ở trước ngày Nghị
định này có hiệu lực thi hành việc công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đó được
thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng.
2. Cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thực hiện công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở thông qua việc cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phải căn cứ vào quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và quy định tại Nghị định
này để thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở cho chủ sở hữu.
Những trường hợp nhà ở không đủ điều kiện để được công nhận quyền sở hữu nhà ở
theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này thì không được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Điều 46. Bảo hành nhà ở
1. Trong thời hạn bảo
hành nhà ở theo quy định tại Điều 74 của Luật Nhà ở, bên bán có trách nhiệm bảo
hành nhà ở, trừ trường hợp nhà ở bị hư hỏng do thiên tai, địch họa hoặc do
người sử dụng gây ra.
2. Nội dung bảo hành nhà
ở (kể cả công trình nhà ở có mục đích sử dụng hỗn hợp) bao gồm sửa chữa, khắc
phục các hư hỏng về kết cấu chính của nhà ở (dầm, cột, sàn, trần, mái, tường,
các phần ốp, lát, trát), các thiết bị gắn liền với nhà ở như hệ thống các loại
cửa, hệ thống cung cấp chất đốt, đường dây cấp điện sinh hoạt, cấp điện chiếu
sáng, hệ thống cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải, khắc phục các trường hợp
nghiêng, lún, sụt nhà ở. Đối với các thiết bị khác gắn với nhà ở thì bên bán
thực hiện bảo hành theo thời hạn quy định của nhà sản xuất.
3. Trường hợp tổ chức,
cá nhân thi công xây dựng hoặc bán nhà ở mà không thực hiện nghĩa vụ bảo hành
nhà ở theo quy định tại Điều 74 của Luật Nhà ở và quy định tại Điều này thì chủ
sở hữu nhà ở có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết; nếu gây
thiệt hại cho người khác thì tổ chức, cá nhân gây thiệt hại phải bồi thường
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 47. Bảo trì nhà ở
1. Chủ sở hữu nhà ở có
trách nhiệm thực hiện bảo trì nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở và các quy
định của pháp luật có liên quan, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu và người sử
dụng có thỏa thuận khác. Đối với trường hợp chưa xác định được chủ sở hữu thì
người đang sử dụng có trách nhiệm bảo trì nhà ở đó.
2. Đối với nhà ở có
nhiều chủ sở hữu thì các chủ sở hữu có trách nhiệm bảo trì phần sở hữu riêng và
thỏa thuận đóng góp kinh phí để bảo trì phần sở hữu chung; trong trường hợp
không thỏa thuận được thì kinh phí bảo trì phần sở hữu chung được phân bổ tương
ứng với phần diện tích thuộc sở hữu riêng của từng chủ sở hữu.
Việc đóng góp kinh phí
bảo trì nhà chung cư được thực hiện theo quy định tại Điều 51 của Nghị định
này.
3. Nội dung, quy trình
và việc quản lý hồ sơ bảo trì nhà ở được thực hiện theo quy định của pháp luật
về bảo trì công trình xây dựng.
Điều 48. Cải tạo nhà ở
1. Chủ sở hữu có quyền
cải tạo nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình. Việc cải tạo nhà ở phải bảo đảm an
toàn cho người, tài sản, giữ vệ sinh môi trường xung quanh và thực hiện theo
đúng quy định của pháp luật về xây dựng.
2. Trường hợp cải tạo
nhà ở mà thuộc diện phải xin phép xây dựng thì chủ sở hữu chỉ được thực hiện
cải tạo sau khi đã có Giấy phép xây dựng.
3. Việc cải tạo nhà ở
thuộc sở hữu chung phải được các chủ sở hữu đồng ý bằng văn bản. Các chủ sở hữu
có trách nhiệm đóng góp kinh phí để thực hiện cải tạo phần diện tích thuộc sở
hữu chung.
Trường hợp cải tạo nhà
chung cư cũ thì thực hiện theo quy định tại Điều 52 của Nghị định này.
MỤC 2. QUẢN LÝ SỬ DỤNG NHÀ CHUNG CƯ
Điều 49. Phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung trong nhà
chung cư có nhiều chủ sở hữu
1. Phần sở hữu riêng và
các thiết bị sử dụng riêng trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm:
a) Phần diện tích bên
trong căn hộ (kể cả diện tích ban công, lô gia gắn liền với căn hộ đó) của chủ
sở hữu căn hộ; phần diện tích khác trong nhà chung cư mà chủ đầu tư bán cho
riêng từng chủ sở hữu căn hộ hoặc bán cho các tổ chức, cá nhân khác;
b) Phần diện tích thuộc
sở hữu riêng của chủ đầu tư (chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân
bổ giá trị phần diện tích thuộc sở hữu riêng này vào giá bán căn hộ cho các chủ
sở hữu căn hộ);
c) Các thiết bị sử dụng
riêng trong căn hộ, trong phần diện tích khác thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu
căn hộ hoặc của các chủ sở hữu khác.
Chủ sở hữu căn hộ, chủ
sở hữu các phần diện tích khác trong nhà chung cư quy định tại điểm a và điểm b
khoản này được gọi chung là các chủ sở hữu nhà chung cư.
2. Phần sở hữu chung nhà
chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm phần diện tích và các thiết bị sử dụng
chung cho nhà chung cư được quy định như sau:
a) Phần diện tích thuộc
sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư bao gồm: không gian, hành lang,
cầu thang bộ, cầu thang máy, sân thượng, khung, cột, tường chịu lực, tường bao
ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, đường thoát hiểm, hệ thống bể
phốt, lối đi bộ, sân chơi chung và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của
các chủ sở hữu nhà chung cư;
b) Phần diện tích khác
không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư
quy định tại khoản 1 Điều này;
c) Nơi để xe (xe đạp, xe
cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh) được xây dựng theo quy chuẩn xây dựng
và có thể bố trí tại tầng hầm hoặc tại tầng một hoặc tại phần diện tích khác
trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đối với khu vực để xe ô tô thì phải xây dựng
theo quy chuẩn xây dựng nhưng do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung
của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà
chung cư quy định tại khoản 1 Điều này;
d) Các thiết bị sử dụng
chung cho nhà chung cư quy định tại khoản 3 Điều 70 của Luật Nhà ở.
Phần diện tích thuộc sở
hữu chung quy định tại khoản này được dùng để sử dụng chung cho các chủ sở hữu
nhà chung cư theo quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này và quy định về quản lý
sử dụng nhà chung cư.
3. Phần sở hữu riêng và
phần sở hữu chung nhà chung cư quy định tại Điều này phải được ghi rõ trong hợp
đồng mua bán căn hộ chung cư.
Điều 50. Quản lý vận hành nhà chung cư
1. Nhà chung cư có nhiều
chủ sở hữu phải có Ban quản trị do các chủ sở hữu và người sử dụng nhà chung cư
bầu theo quy định tại Điều 71 của Luật Nhà ở và quy định về quản lý sử dụng nhà
chung cư. Chủ đầu tư có trách nhiệm chuẩn bị nội dung để thành lập Ban quản trị
nhà chung cư theo quy định của Luật Nhà ở.
2. Ban quản trị nhà
chung cư có quyền và trách nhiệm theo quy định tại Điều 72 của Luật Nhà ở và
quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư. Đối với nhà chung cư là nhà ở xã hội
thì quyền hạn và trách nhiệm của Ban Quản trị nhà chung cư được thực hiện theo
hướng dẫn của Bộ Xây dựng.
3. Việc quản lý vận hành
nhà chung cư do doanh nghiệp có năng lực chuyên môn về quản lý vận hành nhà
chung cư thực hiện.
4. Dịch vụ quản lý vận
hành nhà chung cư được hưởng các cơ chế như đối với dịch vụ công ích theo hướng
dẫn của Bộ Tài chính.
5. Các chi phí dịch vụ
khi sử dụng nhà chung cư, kể cả phí dịch vụ trông giữ xe ô tô không được cao
hơn mức giá dịch vụ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận khác.
6. Đối với nhà chung cư
chỉ có một chủ sở hữu thì chủ sở hữu có trách nhiệm tổ chức quản lý vận hành
nhà chung cư đó.
Bộ Xây dựng ban hành quy
định về quản lý sử dụng nhà chung cư để áp dụng thống nhất trong cả nước.
Điều 51. Kinh phí bảo trì phần sở hữu chung của nhà chung cư
có nhiều chủ sở hữu
1. Kinh phí bảo trì phần
sở hữu chung của nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu được quy định như sau:
a) Trường hợp chủ đầu tư
ký hợp đồng bán căn hộ kể từ ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành thì chủ đầu
tư có trách nhiệm nộp các khoản kinh phí sau đây:
- Đối với diện tích nhà
bán phải nộp 2% tiền bán, khoản tiền này được tính vào tiền bán căn hộ hoặc
diện tích khác mà người mua phải trả và được quy định rõ trong hợp đồng mua
bán;
- Đối với phần diện tích
nhà mà chủ đầu tư giữ lại, không bán (không tính phần diện tích thuộc sử dụng
chung) thì chủ đầu tư phải nộp 2% giá trị của phần diện tích đó; phần giá trị
này được tính theo giá bán căn hộ có giá cao nhất của nhà chung cư đó.
b) Khoản kinh phí quy
định tại điểm a khoản này được trích trước thuế để nộp (Nhà nước không thu thuế
đối với khoản kinh phí này) và được gửi vào ngân hàng thương mại do Ban quản
trị nhà chung cư quản lý để phục vụ cho công tác bảo trì phần sở hữu chung theo
quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư;
c) Trường hợp chủ đầu tư
ký hợp đồng bán căn hộ trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành mà chủ đầu tư
chưa thu 2% tiền bán thì các chủ sở hữu căn hộ chung cư có trách nhiệm đóng góp
khoản kinh phí để bảo trì phần sở hữu chung. Kinh phí đóng góp chỉ được thu khi
phát sinh công tác bảo trì và được xác định đối với từng công việc bảo trì cụ
thể.
2. Trường hợp kinh phí
bảo trì quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này không đủ để thực hiện
bảo trì phần sở hữu chung thì các chủ sở hữu nhà chung cư có trách nhiệm đóng
góp thêm kinh phí tương ứng với phần diện tích thuộc sở hữu riêng của từng chủ
sở hữu. Trong trường hợp nhà chung cư phải phá dỡ mà kinh phí bảo trì quy định
tại khoản 1 Điều này chưa sử dụng hết thì được sử dụng để hỗ trợ tái định cư
khi xây dựng lại nhà chung cư hoặc đưa vào quỹ bảo trì nhà chung cư sau khi xây
dựng lại.
Điều 52. Cải tạo, phá dỡ nhà chung cư
1. Nhà chung cư cũ bị hư
hỏng nghiêm trọng, xuống cấp có nguy cơ sập đổ đã có kết luận của cơ quan có
thẩm quyền về kiểm định chất lượng công trình xây dựng thì Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có trách nhiệm tổ chức di chuyển các hộ gia đình đang sống trong nhà chung
cư tới địa điểm khác để thực hiện phá dỡ nhà ở đó.
Các hộ gia đình có trách
nhiệm di chuyển theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và được hưởng các
quyền và lợi ích như đối với trường hợp giải phóng mặt bằng.
2. Đối với nhà chung cư
có nhiều chủ sở hữu mà thực hiện phá dỡ theo yêu cầu của các chủ sở hữu để xây
dựng lại thì phải được hai phần ba tổng số chủ sở hữu nhà chung cư đó đồng ý.
Số chủ sở hữu còn lại không đồng ý phá dỡ thì sẽ bị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
cưỡng chế di chuyển và phải chi trả các chi phí cho việc cưỡng chế phá dỡ nhà
ở.
Nhà nước có chính sách
ưu đãi và khuyến khích đối với trường hợp chủ sở hữu tự nguyện di chuyển đến
nơi ở khác (không tái định cư tại chỗ) sau khi xây dựng lại nhà chung cư.
3. Trường hợp nhà chung
cư cũ chưa thuộc diện phải phá dỡ theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng các
chủ sở hữu có nhu cầu cải tạo nâng cấp hoặc mở rộng thêm diện tích thì phải
được hai phần ba tổng số chủ sở hữu nhà chung cư đó đồng ý. Việc cải tạo nhà
chung cư phải phù hợp quy hoạch xây dựng và tuân thủ các quy định của pháp luật
về xây dựng.
Việc cải tạo nhà chung
cư được thực hiện theo nguyên tắc xã hội hóa, bảo đảm nơi ở mới phải tốt hơn
nơi ở cũ về chất lượng nhà ở và môi trường sống. Nhà nước khuyến khích việc
thực hiện cải tạo các khu chung cư cũ đã xuống cấp theo dự án tổng thể đồng bộ
về hạ tầng của cả khu vực.
4. Căn cứ vào quy định
của Luật Nhà ở và Nghị định này, Bộ Xây dựng trình Chính phủ ban hành chính
sách riêng về việc cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư cũ.
MỤC 3. QUẢN LÝ SỬ DỤNG NHÀ BIỆT THỰ TẠI ĐÔ THỊ
Điều 53. Nguyên tắc quản lý sử dụng nhà biệt thự
1. Việc quản lý sử dụng
nhà biệt thự phải tuân thủ quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, theo
quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
2. Việc bảo trì, cải tạo
và xây dựng lại nhà biệt thự phải phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan có thẩm
quyền phê duyệt, tuân thủ các quy định về bảo trì công trình xây dựng, Nghị
định này và pháp luật về quản lý di sản văn hóa.
3. Đối với nhà biệt thự
thuộc sở hữu nhà nước thì còn phải thực hiện quản lý theo quy định về quản lý
tài sản thuộc sở hữu nhà nước; trong trường hợp được sử dụng làm nhà ở công vụ
thì phải tuân thủ các quy định về quản lý, sử dụng nhà ở công vụ quy định tại
Luật Nhà ở và Nghị định này.
4. Bộ Xây dựng ban hành
quy định về quản lý sử dụng nhà biệt thự để áp dụng thống nhất trong cả nước.
Điều 54. Phân loại nhà biệt thự
Nhà biệt thự được phân
thành ba nhóm sau đây:
1. Biệt thự nhóm một là
biệt thự được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của pháp luật về
di sản văn hóa; biệt thự có giá trị điển hình về kiến trúc, nhà cổ do các cơ
quan có thẩm quyền về xây dựng, kiến trúc và văn hóa cấp tỉnh phối hợp xác
định, lập danh sách và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Các biệt thự
thuộc nhóm một phải được giữ nguyên hình dáng kiến trúc bên ngoài, cấu trúc bên
trong, mật độ xây dựng, số tầng và chiều cao.
2. Biệt thự nhóm hai là
biệt thự không thuộc nhóm một nhưng có giá trị về kiến trúc do cơ quan có thẩm
quyền về xây dựng, kiến trúc cấp tỉnh phối hợp xác định, lập danh sách trình Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Các biệt thự thuộc nhóm hai phải được giữ
nguyên kiến trúc bên ngoài;
3. Biệt thự nhóm ba là
biệt thự không thuộc diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 55. Bảo trì nhà biệt thự
1. Trường hợp bảo trì
nhà biệt thự là di tích lịch sử - văn hóa thì phải tuân thủ các quy định về sửa
chữa, tu bổ, bảo quản và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa.
2. Trường hợp bảo trì
nhà biệt thự thuộc nhóm một mà có thay đổi về màu sắc, vật liệu xây dựng thì
phải được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có biệt thự trước khi
thực hiện bảo trì.
Điều 56. Cải tạo, xây dựng lại nhà biệt thự
1. Đối với trường hợp
cải tạo, xây dựng lại nhà biệt thự mà thuộc diện phải xin Giấy phép xây dựng
thì chỉ được thực hiện cải tạo, xây dựng lại sau khi đã có Giấy phép xây dựng.
2. Đối với biệt thự
thuộc nhóm một và nhóm hai còn phải tuân thủ các quy định sau đây:
a) Đối với biệt thự nhóm
một:
- Không được làm thay
đổi nguyên trạng ban đầu của nhà biệt thự;
- Không được phá dỡ nhà
biệt thự cũ. Trường hợp phải phá dỡ để xây dựng lại do bị hư hỏng nặng có nguy
cơ sập đổ theo kết luận của đơn vị có chức năng về kiểm định chất lượng công
trình xây dựng thì phải xây dựng theo đúng kiến trúc ban đầu, sử dụng đúng loại
vật liệu và phải tuân thủ quy hoạch (đúng mật độ xây dựng, đúng số tầng và
chiều cao) của biệt thự cũ;
- Đối với nhà biệt thự
là di tích lịch sử - văn hóa thì phải thực hiện đúng quy định về bảo quản, tu
bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa;
- Không được tạo thêm
kết cấu bằng các loại vật liệu khác để làm tăng diện tích hoặc cơi nới, chiếm
dụng không gian bên ngoài nhà biệt thự.
b) Đối với biệt thự nhóm
hai:
- Phải giữ nguyên kiến
trúc bên ngoài;
- Trường hợp phải phá dỡ
để xây dựng lại do bị hư hỏng nặng có nguy cơ sập đổ theo kết luận của đơn vị
có chức năng về kiểm định chất lượng công trình xây dựng thì phải xây dựng theo
đúng kiểu dáng kiến trúc bên ngoài của biệt thự cũ, phải tuân thủ quy hoạch
(đúng mật độ xây dựng, đúng số tầng và chiều cao).
Chương 4.
GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở
Điều 57. Mua bán nhà ở thuộc sở hữu chung nhưng có chủ sở
hữu chung vắng mặt
1. Việc mua bán nhà ở
thuộc sở hữu chung phải tuân thủ các quy định tại Điều 96 của Luật Nhà ở.
2. Trường hợp mua bán
nhà ở có chủ sở hữu chung vắng mặt và không xác định được nơi cư trú của người
đó thì các chủ sở hữu chung còn lại phải có đơn yêu cầu tòa án tuyên bố người
đó bị mất tích theo quy định của pháp luật trước khi thực hiện bán nhà ở đó.
Căn cứ vào giá bán nhà ở
ghi trong hoạt động mua bán nhà ở, các chủ sở hữu chung còn lại có trách nhiệm
gửi tiền bán nhà tương ứng với phần giá trị quyền sở hữu nhà ở của người bị
tuyên bố mất tích vào ngân hàng thương mại nơi có nhà ở được bán; khi người bị
tuyên bố mất tích trở về và có yêu cầu thì ngân hàng đã nhận tiền gửi có trách
nhiệm thanh toán lại cho họ cả tiền gốc và tiền lãi theo quy định về lãi suất
không kỳ hạn tại thời điểm người được tuyên bố mất tích nhận lại tiền.
3. Trường hợp người bị
tuyên bố mất tích chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết thì phần tiền đã gửi
vào ngân hàng nêu tại khoản 2 Điều này được chia cho những người thừa kế hợp
pháp của họ theo quy định của pháp luật về dân sự.
Điều 58. Thuê mua nhà ở xã hội
1. Việc thuê mua nhà ở
xã hội phải thực hiện thông qua hợp đồng được ký giữa chủ đầu tư và người thuê
mua.
2. Sau khi trả trước 20%
giá trị nhà ở thuê mua, bên thuê mua được quyền trả số tiền còn lại theo thời
gian do chủ đầu tư và bên thuê mua thỏa thuận, nhưng tối thiểu là 10 năm, kể từ
ngày ký hợp đồng thuê mua nhà ở.
3. Khi hết thời hạn thuê
mua nhà ở và bên thuê mua đã trả hết số tiền còn lại theo quy định tại khoản 2
Điều này, chủ đầu tư có trách nhiệm làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất cho người thuê mua.
4. Chủ đầu tư được quyền
đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội và thu hồi nhà ở
đang cho thuê mua khi phát sinh một trong các trường hợp sau đây:
a) Người thuê mua không
trả tiền thuê nhà liên tục trong ba tháng mà không có lý do chính đáng;
b) Người thuê mua tự ý
sửa chữa, đục phá kết cấu, cải tạo hoặc cơi nới nhà ở thuê mua;
c) Người thuê mua bán
nhà ở thuê mua trái với quy định tại Điều 40 của Nghị định này hoặc chuyển
quyền thuê mua cho người khác mà không được sự đồng ý của bên cho thuê mua.
Các trường hợp vi phạm
quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì người thuê mua được thanh toán lại
20% tiền thuê mua (không tính lãi); trường hợp vi phạm quy định tại điểm c
khoản này thì bên thuê mua không được thanh toán lại số tiền 20% mà mình đã trả
trước đây.
5. Các tranh chấp về hợp
đồng thuê mua nhà ở được giải quyết thông qua hòa giải. Trong trường hợp hòa
giải không thành thì các bên có quyền yêu cầu tòa án giải pháp theo quy định
của pháp luật.
Điều 59. Đổi nhà ở
1. Giao dịch đổi nhà ở
quy định tại Luật Nhà ở chỉ được áp dụng trong trường hợp các bên đổi nhà ở và
chuyển quyền sở hữu nhà ở cho nhau, không áp dụng đối với trường hợp đổi quyền
sử dụng nhà ở.
2. Các bên đổi nhà ở có
trách nhiệm thực hiện đúng trình tự, thủ tục đổi nhà ở và nộp đầy đủ các nghĩa
vụ tài chính cho Nhà nước theo quy định.
Điều 60. Giao dịch về nhà ở thông qua sàn giao dịch bất động
sản
1. Đối với trường hợp
được phân chia tối đa không quá 20% sản phẩm nhà ở không phải qua sàn giao dịch
bất động sản theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 9 của Nghị định này thì chủ
đầu tư phải có văn bản thông báo về số lượng, địa chỉ nhà ở và loại nhà ở được
phân chia kèm theo danh sách tên, địa chỉ các đối tượng được phân chia nhà ở để
Sở Xây dựng nơi có dự án nhà ở xác nhận thay cho giấy xác nhận đã bán qua sàn
giao dịch bất động sản.
Sở Xây dựng có trách
nhiệm căn cứ vào quy định tại Điều 9 của Nghị định này và đối chiếu với số
lượng nhà ở theo thiết kế, quy hoạch của dự án đã được phê duyệt để xác nhận
danh sách các đối tượng, loại nhà ở và địa chỉ, diện tích của nhà ở được phân
chia trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của chủ đầu tư;
danh sách này chỉ được xác nhận một lần và phải được lưu tại Sở Xây dựng để
theo dõi, kiểm tra. Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở phải phân chia đúng số
lượng, địa chỉ, loại, diện tích nhà ở và đúng tên các đối tượng đã được Sở Xây
dựng xác nhận. Bên được phân chia nhà ở không được chuyển nhượng quyền được
phân chia nhà ở cho tổ chức, cá nhân khác.
Đối với số lượng nhà ở
còn lại trong mỗi dự án sau khi phân chia, chủ đầu tư phải thực hiện bán, cho
thuê thông qua sàn giao dịch bất động sản theo đúng trình tự, thủ tục quy định
của pháp luật về kinh doanh bất động sản và quy định của Nghị định này.
2. Sau khi đã xây dựng
xong phần móng của nhà ở theo quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 9 của Nghị định
này thì chủ đầu tư được ký hợp đồng mua bán nhà ở với các đối tượng đã được
phân chia sản phẩm nhà ở quy định tại khoản 1 Điều này để thay thế cho các hợp
đồng, văn bản đã ký trước đó. Hợp đồng mua bán nhà ở trong trường hợp này và
giấy xác nhận của Sở Xây dựng quy định tại khoản 1 Điều này là cơ sở pháp lý để
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người mua nhà ở.
Những trường hợp nhà ở
thuộc diện phải bán, cho thuê qua sàn giao dịch bất động sản thì chủ đầu tư chỉ
được ký hợp đồng mua bán, cho thuê nhà ở sau khi đã có đủ các điều kiện quy
định tại điểm đ và điểm e khoản 3 Điều 9 của Nghị định này.
3. Tổ chức, cá nhân có
nhà ở do được phân chia hoặc đã mua thông qua sàn giao dịch bất động sản theo
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà bán lại nhà ở đó cho người khác thì
phải thực hiện theo quy định sau đây:
a) Chỉ được bán cho các
đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở
sau khi đã có hợp đồng mua bán ký với chủ đầu tư.
b) Trường hợp là doanh
nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản thì phải thực hiện bán qua sàn giao
dịch bất động sản theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản;
c) Trường hợp là hộ gia
đình, cá nhân hoặc tổ chức khác thì không phải bán qua sàn giao dịch bất động
sản mà thực hiện bán theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này. Trong
trường hợp chưa nhận bàn giao nhà ở và chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy
chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đó thì thực hiện bán nhà ở theo hướng dẫn
của Bộ Xây dựng.
4. Các sàn giao dịch bất
động sản không được tham gia đầu tư, mua bán, cho thuê nhà ở mà chỉ được làm
trung gian để thực hiện bán, cho thuê nhà ở theo ủy quyền của chủ đầu tư và
hưởng phí giao dịch qua sàn theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động
sản, nếu vi phạm thì bị Nhà nước rút chức năng kinh doanh sàn giao dịch bất
động sản và bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản.
5. Các trường hợp mua
bán, cho thuê nhà ở không đúng với quy định tại Điều này thì hợp đồng mua bán,
cho thuê nhà ở đó không có giá trị pháp lý và bên mua không được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối
với nhà ở đã mua; bên bán, bên cho thuê có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
người mua, người thuê nhà ở.
Điều 61. Thế chấp nhà ở
1. Việc thế chấp nhà ở
phải được lập thành hợp đồng, tuân thủ quy định của Luật Nhà ở và các quy định
của pháp luật có liên quan.
2. Tổ chức, cá nhân mua
nhà ở hình thành trong tương lai của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản được
quyền thế chấp nhà ở tại tổ chức tín dụng để vay vốn. Thủ tục thế chấp nhà ở
hình thành trong tương lai được thực hiện theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà
nước.
Điều 62. Giao dịch về nhà ở có người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia các giao dịch
về mua bán, tặng cho, thừa kế nhà ở tại Việt Nam phải thực hiện các yêu cầu sau
đây:
a) Thuộc diện được sở
hữu nhà ở và có đủ điều kiện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy
định của Luật Nhà ở;
b) Thực hiện việc mua
bán, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở theo đúng các quy định của Luật Nhà ở và quy
định tại Nghị định này;
c) Những người không
thuộc diện quy định tại Điều 1 của Luật số 34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung
Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai hoặc những người thuộc
diện được sở hữu một nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở nhưng đang
có sở hữu nhà ở tại Việt Nam nếu được tặng cho hoặc được thừa kế nhà ở khác thì
chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó theo quy định tại Điều 72 của Nghị định
này.
2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước
ngoài khi thuê nhà ở tại Việt Nam
phải thực hiện các quy định sau đây:
a) Phải có đủ điều kiện
được thuê nhà ở tại Việt Nam
theo quy định tại Điều 131 của Luật Nhà ở;
b) Hợp đồng thuê nhà ở
phải được lập thành văn bản theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở và quy
định của Nghị định này;
c) Bên thuê nhà ở phải
thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người thuê theo quy định của Luật
Nhà ở, Bộ luật Dân sự và quy định của Nghị định này.
3. Chủ sở hữu nhà ở là
người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được quyền ký hợp đồng cho thuê hoặc ký hợp đồng ủy quyền
cho người khác quản lý nhà ở thuộc sở hữu của mình trong thời gian không sử
dụng nhà ở đó.
Chủ sở hữu phải xuất
trình văn bản điều động, luân chuyển công tác đến địa phương khác hoặc cử đi
làm việc ngoài lãnh thổ Việt Nam của cơ quan, tổ chức nơi đang làm việc; trong
trường hợp không thuộc diện điều động hoặc cử đi công tác tại nơi khác thì phải
làm đơn cam kết tạm thời không sử dụng nhà ở đó khi thực hiện công chứng hoặc
chứng thực hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng ủy quyền quản lý nhà ở.
Điều 63. Các loại hợp đồng về nhà ở
1. Việc mua bán, cho
thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thể chấp, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản
lý nhà ở phải lập thành văn bản (gọi chung là hợp đồng về nhà ở). Hợp đồng về
nhà ở phải phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 93 của Luật Nhà ở, quy định
của Bộ luật Dân sự và Nghị định này. Trường hợp tổ chức tặng cho nhà ở thì phải
có văn bản tặng cho.
2. Đối với hợp đồng mua
bán nhà ở do được đầu tư xây dựng mới (bao gồm mua bán nhà ở có sẵn và mua bán
nhà ở hình thành trong tương lai) thì ngoài yêu cầu phải tuân thủ quy định tại
khoản 1 Điều này, trong hợp đồng mua bán còn phải nêu rõ các nội dung, thời hạn
và trách nhiệm bảo hành nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này;
giá trị quyền sử dụng đất trong giá bán nhà ở và trách nhiệm nộp tiền sử dụng đất
cho Nhà nước của bên bán nhà ở; trong trường hợp mua bán căn hộ chung cư thì
còn phải ghi rõ thêm phần diện tích thuộc quyền sở hữu chung, phần diện tích
thuộc quyền sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư, khoản kinh phí bảo trì 2%
tiền bán nhà ở và cách tính diện tích căn hộ mua bán. Hợp đồng mua bán nhà ở
được ký với bên bán là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản thì
không phải công chứng, chứng thực.
Trường hợp mua bán nhà ở
thông qua hình thức đấu giá thì nội dung của hợp đồng mua bán nhà ở ngoài yêu
cầu phải tuân thủ các quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này, còn phải tuân
thủ các quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
3. Hợp đồng thuê, thuê
mua nhà ở xã hội quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của hai bên và không phải
công chứng, chứng thực.
Hợp đồng thuê nhà ở xã
hội được ký theo định kỳ nhưng tối đa không vượt quá năm năm. Hết thời hạn, bên
thuê được cơ quan có thẩm quyền xem xét gia hạn hợp đồng nếu thực hiện đầy đủ
các quy định về thuê nhà trong quá trình thuê nhà và vẫn thuộc đối tượng, điều
kiện được thuê nhà ở xã hội. Hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội được ký theo thỏa
thuận giữa chủ đầu tư và người thuê mua trên cơ sở quy định của Nghị định này.
4. Hợp đồng thuê nhà ở
công vụ quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan và không
phải công chứng, chứng thực. Hợp đồng thuê nhà ở công vụ được ký định kỳ theo
thời gian người thuê đảm nhận chức vụ theo quyết định điều động hoặc luân
chuyển cán bộ nhưng tối đa không vượt quá năm năm. Trường hợp hết thời hạn cho thuê
mà đối tượng đang thuê nhà vẫn đủ tiêu chuẩn về đối tượng, điều kiện và diện
tích thuê nhà ở công vụ theo quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này và trả đầy
đủ tiền thuê nhà ở thì đơn vị quản lý nhà ở công vụ tiếp tục ký hợp đồng thuê
theo thời hạn quy định tại khoản này.
5. Hợp đồng thuê nhà ở
thương mại quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của hai bên theo quy định của
Luật Nhà ở và Bộ luật Dân sự. Trường hợp cá nhân cho thuê nhà ở dưới sáu tháng
hoặc bên cho thuê là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thì không phải công
chứng, chứng thực hợp đồng thuê nhà ở.
6. Hợp đồng ủy quyền
quản lý, trông coi, sử dụng nhà ở, ủy quyền bán, cho thuê nhà ở phải có công
chứng hoặc chứng thực. Các bên chỉ được ký kết hợp đồng ủy quyền và cơ quan có
thẩm quyền công chứng, chứng thực chỉ được thực hiện công chứng, chứng thực các
hợp đồng ủy quyền quy định tại khoản này khi nhà ở đã được xây dựng xong (áp
dụng đối với nhà ở có sẵn).
7. Các hợp đồng đổi,
tặng cho, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở được lập theo quy định của Luật
Nhà ở và Bộ luật Dân sự.
8. Thẩm quyền công
chứng, chứng thực các hợp đồng về nhà ở quy định tại Điều này được thực hiện
theo quy định hiện hành của pháp luật.
9. Bộ Xây dựng quy định
và ban hành mẫu hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng cho thuê nhà ở (gồm cho thuê
nhà ở thương mại, nhà ở công vụ và thuê nhà ở xã hội), hợp đồng thuê mua nhà ở,
hợp đồng về tặng cho và hợp đồng đổi nhà theo quy định tại Điều này.
Điều 64. Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với các
giao dịch về mua bán, tặng cho, đổi, thuê mua, thừa kế nhà ở
1. Thời điểm chuyển
quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp mua bán nhà ở được tính từ ngày hợp đồng
mua bán nhà ở được công chứng hoặc chứng thực. Trường hợp mua bán nhà ở mà bên
bán là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản thì thời điểm chuyển
quyền sở hữu nhà ở là thời điểm bên bán bàn giao nhà ở cho bên mua theo thỏa
thuận trong hợp đồng.
2. Thời điểm chuyển
quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp tặng cho nhà ở được tính từ ngày hợp đồng
tặng cho nhà ở được công chứng hoặc chứng thực. Trường hợp pháp nhân tặng cho
nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở cho bên được tặng cho được tính
từ ngày bên tặng cho ký văn bản tặng cho.
3. Thời điểm chuyển
quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp đổi nhà ở được tính từ ngày hợp đồng đổi
nhà ở được công chứng hoặc chứng thực. Trường hợp hai bên đổi nhà ở là doanh
nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản thì thời điểm chuyển quyền sở hữu
đối với nhà ở nhận đổi là thời điểm bàn giao nhà ở theo thỏa thuận trong hợp
đồng đổi nhà ở.
4. Thời điểm chuyển
quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp thuê mua nhà ở được tính từ thời điểm bên
thuê mua được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở thuê mua theo quy
định tại khoản 3 Điều 58 của Nghị định này.
5. Thời điểm chuyển
quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp thừa kế nhà ở được tính từ thời điểm mở
thừa kế. Việc xác định tổ chức, cá nhân thừa kế nhà ở được thực hiện theo quy
định của pháp luật về dân sự.
6. Thời điểm chuyển
quyền sở hữu đối với trường hợp mua nhà ở trả chậm, trả dần được tính từ ngày
bên mua thanh toán hết tiền mua nhà ở cho bên bán, trừ trường hợp các bên có
thỏa thuận khác.
Chương 5.
QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI
VIỆT NAM CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở
NƯỚC NGOÀI VÀ CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NƯỚC NGOÀI
Điều 65. Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài và của tổ chức, cá nhân nước ngoài
1. Người Việt Nam định
cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam nếu thuộc các đối tượng và có đủ
điều kiện quy định tại Điều 1 của Luật số 34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung Điều
126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai. Thời hạn sở hữu nhà ở của
người Việt Nam
định cư ở nước ngoài là ổn định, lâu dài.
2. Tổ chức, cá nhân nước
ngoài khi thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư
thì được sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở. Trường hợp mua nhà ở tại
Việt Nam thì được sở hữu nhà ở theo quy định của Nghị quyết số 19/2008/QH12
ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân
nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi
hành Nghị quyết này.
Điều 66. Giấy tờ chứng minh đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại
Việt Nam
1. Người Việt Nam định
cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định tại Điều 1 của
Luật số 34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121
của Luật Đất đai phải có các giấy tờ sau đây để chứng minh về đối tượng:
a) Đối với người có quốc
tịch Việt Nam thì phải có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị; trong trường hợp mang
hộ chiếu nước ngoài thì phải có một trong các giấy tờ chứng minh còn quốc tịch
Việt Nam theo quy định của pháp luật về quốc tịch;
b) Đối với người gốc
Việt Nam thì phải có hộ chiếu nước ngoài kèm theo giấy tờ xác nhận là người gốc
Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp để chứng minh có gốc Việt
Nam.
2. Người Việt Nam định
cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng dưới đây thì có quyền sở hữu (không hạn chế
số lượng nhà ở tại Việt Nam) thông qua hình thức mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế,
đổi nhà ở hoặc được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án phát
triển nhà ở của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (đối với dự án tại các
khu vực được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức bán nền theo
quy định của pháp luật về đất đai) để người mua xây dựng nhà ở cho bản thân và
các thành viên trong gia đình tại Việt Nam:
a) Các đối tượng quy
định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Các đối tượng quy
định tại điểm b khoản 1 Điều này nhưng phải thuộc một trong các diện:
- Người về đầu tư trực
tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư có Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;
- Người có công đóng góp
với đất nước, bao gồm: người được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp
lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng có giấy tờ chứng minh được hưởng chế độ
ưu đãi do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp; người có thành tích đóng góp
trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước được Chủ tịch nước tặng thưởng
Huân chương, Huy chương, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; người tham
gia vào Ban Chấp hành các tổ chức chính trị - xã hội của Việt Nam; của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam từ cấp tỉnh trở lên được các tổ chức này xác nhận; người được
bầu vào Ban Chấp hành Trung ương hội, người là nòng cốt các phong trào, tổ chức
của kiều bào có quan hệ với trong nước và người có những đóng góp, giúp đỡ tích
cực cho các cơ quan đại diện hoặc các hoạt động đối ngoại của Việt Nam ở nước
ngoài được Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan đại diện
ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài xác nhận;
- Nhà văn hóa, nhà khoa
học, bao gồm: người được phong học hàm, học vị về khoa học, giáo dục, văn hóa –
nghệ thuật, thể dục – thể thao của Việt Nam hoặc của nước ngoài, các chuyên gia
trong lĩnh vực kinh tế - xã hội đang làm việc tại Việt Nam. Các đối tượng này
phải được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng các trường đại
học, cao đẳng, học viện, viện nghiên cứu của Việt Nam mời về làm chuyên gia,
cộng tác viên, giảng dạy và có xác nhận của cơ quan, tổ chức mời về việc đối
tượng này đang làm việc tại cơ quan, tổ chức đó;
- Người có chuyên môn,
kỹ năng đặc biệt có giấy xác nhận về chuyên môn, kỹ năng của hiệp hội, hội nghề
nghiệp Việt Nam hoặc của cơ quan cấp Bộ phụ trách lĩnh vực chuyên môn, kỹ năng
kèm theo giấy phép hành nghề chuyên môn tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam cấp (đối với trường hợp pháp luật yêu cầu phải có giấy phép hành
nghề) hoặc Giấy phép lao động do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (đối
với trường hợp pháp luật không yêu cầu phải có giấy phép hành nghề);
- Người có vợ hoặc chồng
là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước có giấy tờ chứng nhận kết hôn do cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp kèm theo hộ khẩu thường
trú và giấy chứng minh nhân dân của một bên vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam
ở trong nước.
Đối với trường hợp có
các giấy tờ do nước ngoài cấp thì phải dịch ra Tiếng Việt và có chứng nhận của
cơ quan công chứng của Việt Nam.
3. Người Việt Nam định
cư ở nước ngoài gốc Việt Nam nhưng không thuộc các đối tượng quy định tại điểm
b khoản 2 Điều này nếu có giấy tờ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và Giấy
miễn thị thực do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp thì có quyền sở hữu một
nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam.
Trường hợp đối tượng này
đang có sở hữu nhà ở tại Việt Nam mà được thừa kế hoặc được tặng cho nhà ở khác
thì chỉ được chọn sở hữu một nhà ở; đối với nhà ở còn lại thì được quyền tặng
cho hoặc bán cho các đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam để
hưởng giá trị theo quy định tại Điều 72 của Nghị định này.
Điều 67. Giấy tờ chứng minh điều kiện cư trú tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
1. Đối với người Việt
Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu Việt Nam thì phải có một trong các giấy
tờ sau đây do công an phường, xã, thị trấn (sau đây gọi chung là công an cấp
phường) nơi người đó cư trú cấp:
a) Sổ tạm trú;
b) Giấy tờ xác nhận về
việc đăng ký tạm trú tại địa phương.
Người Việt Nam định cư ở
nước ngoài mang hộ chiếu Việt Nam phải có đơn đề nghị và xuất trình hộ chiếu
tại cơ quan công an cấp phường khi đề nghị cấp giấy tờ quy định tại khoản này.
Trong thời hạn tối đa là ba ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, công an cấp
phường có trách nhiệm cấp một trong các giấy tờ quy định tại khoản này cho
người Việt Nam
định cư ở nước ngoài.
2. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài
thì phải có một trong các giấy tờ sau đây do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của
Việt Nam
cấp:
a) Thẻ tạm trú;
b) Có dấu chứng nhận tạm
trú đóng vào hộ chiếu với thời hạn được tạm trú tại Việt Nam từ ba tháng
trở lên.
Điều 68. Thủ tục quản lý việc sở hữu một nhà ở của người
Việt Nam định cư ở nước
ngoài tại Việt Nam
Đối với trường hợp người
Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu một nhà ở theo quy định
của Luật Nhà ở thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải thực hiện các quy định
sau đây:
1. Trước khi cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải kiểm tra thông tin về tình trạng sở hữu nhà
ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam đăng trên Website của Bộ
Xây dựng.
Trường hợp người đề nghị
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất không có tên trên Website của Bộ Xây dựng thì Ủy ban nhân dân cấp
huyện ký giấy chứng nhận và làm thủ tục trao giấy chứng nhận cho chủ sở hữu;
trường hợp người đề nghị cấp giấy chứng nhận đang có tên đăng trên Website của
Bộ Xây dựng thì Ủy ban nhân dân cấp huyện trả lại hồ sơ và có văn bản trả lời để
đương sự biết rõ lý do;
2. Trong thời hạn hai
ngày làm việc, kể từ ngày ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải có văn
bản gửi Bộ Xây dựng thông báo các thông tin về họ tên, số hộ chiếu, nơi cấp,
ngày cấp hộ chiếu của người mua, được tặng cho, được thừa kế nhà ở, địa chỉ nhà
ở được cấp giấy chứng nhận, số giấy chứng nhận và ngày cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để Bộ
Xây dựng đăng tải các thông tin này trên Website của Bộ;
3. Trường hợp chủ sở hữu
nhà ở quy định tại Điều này đã bán, tặng cho hoặc làm thủ tục để thừa kế nhà ở
cho người khác thì Ủy ban nhân dân cấp huyện phải có văn bản thông báo cho Bộ
Xây dựng biết để xóa tên khỏi danh sách đăng trên Website của Bộ;
4. Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp huyện phải chịu trách nhiệm về việc chậm thông báo hoặc không thông báo
cho Bộ Xây dựng biết khi các đối tượng quy định tại Điều này có chủ sở hữu nhà
ở tại Việt Nam
hoặc chuyển quyền sở hữu nhà ở cho người khác.
Bộ Xây dựng ban hành mẫu
báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi Bộ Xây dựng theo quy định tại Điều
này.
Điều 69. Xử lý hành vi vi phạm quy định về việc sở hữu một
nhà ở tại Việt Nam của người
Việt Nam
định cư ở nước ngoài
1. Người Việt Nam định
cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu một nhà ở tại Việt Nam theo quy định của
Luật Nhà ở nếu giả mạo giấy tờ hoặc có các hành vi vi phạm khác để được sở hữu
nhiều hơn một nhà ở tại Việt Nam thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sở
hữu đối với nhà ở đó; nếu đã được cấp giấy chứng nhận thì phải thực hiện bán
nhà ở đó trong thời hạn 120 ngày, kể từ ngày hành vi vi phạm bị phát hiện, đồng
thời bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực quản lý, phát triển nhà ở.
2. Trường hợp quá thời
hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người có hành vi vi phạm chưa bán nhà ở
thì bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đã được cấp; nhà ở
chưa bán thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Việt Nam.
3. Cán bộ, công chức và
những người có liên quan nếu có hành vi vi phạm các quy định của Luật Nhà ở và
Nghị định này thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và
các quy định của pháp luật có liên quan.
Điều 70. Sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại
Việt Nam
1. Tổ chức, cá nhân nước
ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua hình thức đầu tư xây
dựng nhà ở để cho thuê hoặc được mua căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà
ở thương mại.
2. Tổ chức, cá nhân nước
ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất đối với nhà ở đó. Thời hạn được sở hữu nhà ở là thời hạn quy định trong
Giấy chứng nhận đầu tư và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
3. Trường hợp đầu tư xây
dựng nhà ở để bán thì Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho chủ đầu tư. Sau khi
hoàn thành việc xây dựng nhà ở, chủ đầu tư được quyền bán nhà ở này cho tổ
chức, cá nhân thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật
Nhà ở, pháp luật về kinh doanh bất động sản và Nghị định này.
Chủ đầu tư có trách
nhiệm làm thủ tục đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho
người mua trong thời hạn 50 ngày, kể từ ngày bàn giao nhà ở cho người mua nhà,
trừ trường hợp người mua nhà tự nguyện làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận.
4. Trình tự, thủ tục cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất cho tổ chức, cá nhân nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp
luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất.
Điều 71. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá
nhân nước ngoài thuê nhà ở tại Việt Nam
1. Đối tượng và điều
kiện được thuê nhà ở tại Việt Nam
bao gồm:
a) Tổ chức nước ngoài
được phép hoạt động tại Việt Nam;
b) Cá nhân nước ngoài
được phép vào Việt Nam
có thời hạn từ ba tháng liên tục trở lên;
c) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang ở Việt Nam có nhu cầu
thuê nhà ở.
2. Trình tự, thủ tục
thuê nhà ở, quyền và nghĩa vụ của bên thuê nhà ở thực hiện theo quy định tại
khoản 2 Điều 62 Nghị định này.
Điều 72. Các trường hợp được hưởng giá trị của nhà ở
1. Tổ chức, cá nhân nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các diện sau đây được tặng cho
hoặc được thừa kế nhà ở tại Việt Nam thì không được cấp giấy chứng nhận quyền
sở hữu đối với nhà ở và chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó:
a) Tổ chức, cá nhân nước
ngoài không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam;
b) Cá nhân nước ngoài
thuộc diện chỉ được sở hữu một căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở
thương mại và tại thời điểm được tặng cho, được thừa kế đang có sở hữu căn hộ
tại Việt Nam;
c) Tổ chức, cá nhân nước
ngoài thuộc diện được sở hữu căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở
thương mại nhưng được tặng cho hoặc được thừa kế nhà ở không phải là căn hộ
chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại;
d) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép về Việt Nam cư trú có
thời hạn dưới ba tháng;
đ) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện chỉ được sở
hữu một nhà ở và tại thời điểm được tặng cho, được thừa kế đang có sở hữu nhà ở
tại Việt Nam.
2. Tổ chức, cá nhân được
tặng cho, được thừa kế nhà ở quy định tại khoản 1 Điều này được trực tiếp hoặc
ủy quyền cho người khác bán nhà ở khi đã có các giấy tờ sau đây:
a) Hợp đồng tặng cho,
giấy tờ về thừa kế nhà ở được lập theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở,
Nghị định này và pháp luật về dân sự Việt Nam;
b) Một trong các giấy tờ
chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên tặng cho, bên để thừa kế nhà ở theo quy
định sau đây:
- Giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở đã được cấp theo quy định của Luật Nhà ở;
- Giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp theo quy định tại Nghị định số
60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử
dụng đất ở tại đô thị;
- Giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở đã được cấp theo quy định tại Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15
tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở,
quyền sở hữu công trình xây dựng;
- Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai mà trong nội
dung giấy chứng nhận đã có ghi nhận về nhà ở của bên tặng cho, bên để thừa kế;
- Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp theo
quy định của pháp luật về đất đai.
c) Văn bản ủy quyền bán
nhà ở được lập theo quy định của pháp luật về dân sự Việt Nam (nếu ủy
quyền cho người khác bán nhà ở).
Chương 6.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NHÀ
Ở
Điều 73. Xây dựng định hướng phát triển nhà ở quốc gia
1. Căn cứ vào chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từng thời kỳ, Bộ Xây dựng có trách
nhiệm xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành định hướng và chiến lược
phát triển nhà ở quốc gia cho từng giai đoạn mười năm làm cơ sở cho việc nghiên
cứu, hoạch định chính sách về nhà ở và làm căn cứ cho các địa phương xây dựng
chương trình phát triển nhà ở của từng địa phương.
2. Định hướng, chiến
lược phát triển nhà ở quốc gia bao gồm các nội dung:
a) Khái quát hiện trạng
nhà ở toàn quốc;
b) Phân tích, đánh giá
kết quả, tồn tại, nguyên nhân công tác phát triển, quản lý nhà ở;
c) Xác định rõ quan
điểm, mục tiêu, nhu cầu phát triển nhà ở trong giai đoạn tới, trong đó xác định
rõ các chương trình trọng điểm, các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, các chỉ tiêu
cơ bản về phát triển nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở cho
các đối tượng chính sách xã hội;
d) Xác định rõ các giải
pháp thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu phát triển nhà ở, bao gồm các cơ chế chính
sách về quy hoạch, đất đai, hạ tầng kỹ thuật, tài chính, tín dụng và biện pháp
tổ chức triển khai thực hiện;
đ) Các nội dung có liên
quan khác.
3. Căn cứ vào chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội, định hướng, chiến lược phát triển nhà ở quốc gia,
Bộ Xây dựng nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách phát
triển nhà ở trọng điểm để giải quyết nhà ở cho các đối tượng có khó khăn về nhà
ở theo các vùng, miền.
4. Các chỉ tiêu cơ bản
về phát triển nhà ở trong định hướng, chiến lược phát triển nhà ở quốc gia phải
được đưa vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai
đoạn. Trong quá trình triển khai thực hiện phải sơ kết đánh giá, rà soát, sửa
đổi, điều chỉnh, bổ sung kịp thời định hướng, chương trình đã đề ra cho phù hợp
thực tế. Kết thúc kỳ thực hiện phải có tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện.
5. Căn cứ vào tình hình
phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và vùng kinh tế trọng điểm, Bộ Xây dựng
đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định các cơ chế đặc thù và lựa chọn
chủ đầu tư có đủ năng lực tài chính và kinh nghiệm để thực hiện đầu tư xây dựng
dự án phát triển nhà ở có quy mô lớn hoặc có liên quan đến nhiều địa phương,
nhằm góp phần thúc đẩy các khu vực phát triển, bảo đảm an sinh xã hội. Trong
trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất thì phải có ý kiến của Bộ Xây dựng
trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Điều 74. Xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở
của các địa phương
1. Trên cơ sở định
hướng, chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ban
hành, các cơ chế, chính sách về phát triển, quản lý nhà ở hiện hành của trung
ương và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch phát
triển nhà ở cho từng giai đoạn năm năm và mười năm hoặc dài hơn trên địa bàn để
trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi ban hành.
2. Chương trình, kế
hoạch phá triển nhà ở của địa phương bao gồm các nội dung chính sau đây:
a) Khái quát hiện trạng
nhà ở của địa phương;
b) Phân tích, đánh giá
kết quả, tồn tại, nguyên nhân công tác phát triển, quản lý nhà ở của địa
phương;
c) Xây dựng chương
trình, kế hoạch phát triển nhà ở, trong đó nêu rõ từng khu vực, từng loại đối
tượng trên địa bàn theo quy định sau đây:
- Đối với nhà ở tại khu
vực đô thị: phải nêu rõ thực trạng các loại nhà ở (các nhà chung cư xuống cấp
nguy hiểm, các khu nhà ở tạm bợ, nhà ổ chuột, khu nhà ở có hạ tầng kỹ thuật
không đáp ứng yêu cầu), các khó khăn vướng mắc trong việc xây dựng, cải tạo nhà
ở, nhu cầu về nhà ở của từng loại đối tượng và xây dựng kế hoạch phát triển nhà
ở trong từng năm.
Trong chương trình phải
đề xuất hướng giải quyết về quỹ đất, công tác giải phóng mặt bằng, bố trí tái
định cư, về quy hoạch các khu dự án phát triển nhà ở, về nguồn vốn cho đầu tư
phát triển nhà ở, cơ chế, chính sách về tài chính đất đai cho phát triển nhà ở,
về chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân đầu người và phương án giải quyết chỗ ở
cho từng loại đối tượng tại đô thị;
- Đối với nhà ở khu vực
nông thôn: phải nêu rõ thực trạng về nhà ở của từng khu vực, nhà ở của đồng bào
các dân tộc (nếu có), phong tục tập quán về xây dựng nhà ở của người dân, diện
tích đất bình quân để xây dựng nhà ở, những khó khăn vướng mắc trong việc phát
triển nhà ở, nhu cầu về nhà ở của người dân và kế hoạch phát triển nhà ở trong
từng năm.
Trong chương trình phải
đề xuất quỹ đất, lập quy hoạch các khu vực xây dựng nhà ở, phương án huy động
các nguồn vốn tham gia xây dựng nhà ở, các hình thức hỗ trợ xây dựng nhà ở, chỉ
tiêu diện tích nhà ở bình quân đầu người.
- Đối với nhà ở công
nhân khu công nghiệp (nếu có): phải nêu rõ thực trạng và nhu cầu về nhà ở cho
công nhân khu công nghiệp, lập quy hoạch, tạo quỹ đất xây dựng nhà ở, kế hoạch
huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng nhà ở, kế hoạch bố trí nhà ở cho công
nhân trong từng năm;
- Đối với nhà ở của các
đối tượng khác trên địa bàn, bao gồm: nhà ở cho học sinh, sinh viên, nhà ở cho
người nghèo tại đô thị và nông thôn, nhà cho cán bộ, công chức, nhà ở công vụ,
nhà ở cho người có công với cách mạng thì phải nêu rõ thực trạng và nhu cầu về
nhà ở của từng loại đối tượng, nêu rõ kế hoạch xây dựng nhà ở cho từng loại đối
tượng, phương thức tạo điều kiện hỗ trợ về nhà ở (bố trí cho thuê, cho thuê mua
nhà ở, hỗ trợ kinh phí, nguyên vật liệu để xây dựng nhà ở, cấp đất xây dựng nhà
ở, ưu đãi về tín dụng);
d) Các nội dung có liên
quan khác;
đ) Chương trình phát
triển nhà ở phải xác định rõ tiến độ thực hiện; nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể
của các Sở, Ban, ngành, các cấp chính quyền trong quá trình triển khai thực
hiện.
3. Các chỉ tiêu cơ bản
về phát triển nhà ở trong chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở phải được đưa
vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong từng giai đoạn.
Hàng năm phải có sơ kết, đánh giá và thực hiện sửa đổi, điều chỉnh những điểm
chưa phù hợp với thực tế. Kết thúc chương trình, kế hoạch phải có tổng kết,
đánh giá kết quả thực hiện.
4. Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ và gửi Bộ Xây dựng Chương trình,
kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương để theo dõi, kiểm tra. Đối với các
thành phố trực thuộc Trung ương thì sau khi Hội đồng nhân dân thành phố thông
qua Chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở, Ủy ban nhân dân thành phố phải
trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước khi triển khai thực hiện.
5. Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương cho việc điều tra, khảo sát,
xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương mình.
Điều 75. Lập Quỹ phát triển nhà ở
1. Quỹ phát triển nhà ở
của địa phương được hình thành từ các nguồn sau đây:
a) Tiền thu từ việc bán,
cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn;
b) Trích tối thiểu 10%
từ tiền sử dụng đất của các dự án phát triển nhà ở thương mại và các dự án khu
đô thị mới trên địa bàn. Mức thu cụ thể do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét,
quyết định;
c) Ngân sách địa phương
hỗ trợ hàng năm theo quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
d) Tiền huy động từ các
nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật;
đ) Tiền hỗ trợ, đóng góp
tự nguyện từ các tổ chức, cá nhân khác trong và ngoài nước.
2. Căn cứ tình hình thực
tế của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định thành
lập Quỹ phát triển nhà ở của địa phương trên cơ sở các nguồn vốn huy động quy
định tại khoản 1 Điều này và ban hành quy chế quản lý Quỹ này bảo đảm các
nguyên tắc sau đây:
a) Quỹ phát triển nhà ở
là tổ chức tài chính nhà nước hoạt động theo nguyên tắc bảo toàn vốn, bù đắp
chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động và không vì mục đích lợi nhuận;
b) Quỹ phát triển nhà ở
được quản lý, điều hành và tổ chức hoạt động theo Điều lệ tổ chức và hoạt động
của Quỹ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và tuân thủ các quy định của pháp
luật có liên quan;
c) Quỹ phát triển nhà ở
được miễn, giảm các loại thuế và nộp ngân sách nhà nước theo hướng dẫn của Bộ
Tài chính;
d) Quỹ phát triển nhà ở
của địa phương được sử dụng để phát triển nhà ở xã hội thuộc sở hữu nhà nước
trên phạm vi địa bàn.
Giao Bộ Tài chính chủ
trì, phối hợp với Bộ Xây dựng hướng dẫn việc tổ chức, hoạt động đối với Quỹ
phát triển nhà ở của các địa phương.
3. Căn cứ vào điều kiện
của từng địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ủy thác cho Quỹ đầu tư
phát triển của địa phương thực hiện quản lý các hoạt động của Quỹ phát triển
nhà ở quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Ngoài Quỹ phát triển
nhà ở quy định tại Điều này, giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành liên quan nghiên cứu, trình Th��� tướng Chính phủ ban hành quyết định về
việc thành lập, hoạt động, cơ chế quản lý, nguồn đóng góp, cơ chế cho vay, đối
tượng cho vay của Quỹ tiết kiệm nhà ở để phục vụ cho các đối tượng gặp khó khăn
về nhà ở được vay vốn mua nhà ở hoặc để hỗ trợ cho các doanh nghiệp vay vốn xây
dựng nhà ở xã hội.
Điều 76. Quản lý và cung cấp thông tin về nhà ở
1. Cơ quan có trách
nhiệm quản lý hồ sơ về nhà ở:
a) Sở Xây dựng quản lý
hồ sơ về nhà ở của tổ chức; người Việt Nam
định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Việt Nam; cá nhân
nước ngoài; nhà ở thuộc sở hữu chung của tổ chức và cá nhân;
b) Phòng có chức năng
quản lý nhà ở cấp huyện quản lý hồ sơ về nhà ở của cá nhân (gồm cá nhân trong
nước và người Việt Nam
định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất).
2. Hồ sơ nhà ở bao gồm
các nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 66 của Luật Nhà ở và các giấy tờ
khác liên quan đến nhà ở.
3. Cơ quan quản lý hồ sơ
nhà ở có trách nhiệm cung cấp các thông tin về nhà ở cho các cơ quan quy định
tại khoản 7 Điều này và các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến
nhà ở đó khi họ có yêu cầu.
4. Thông tin về nhà ở là
các thông tin liên quan đến hiện trạng và tình trạng pháp lý của nhà ở, đất ở
có trong hồ sơ nhà ở.
5. Tổ chức, cá nhân đề
nghị cung cấp thông tin về nhà ở phải có văn bản đề nghị cung cấp thông tin. Văn
bản đề nghị phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người yêu cầu cung cấp thông tin,
nội dung các thông tin đề nghị cung cấp và mục đích của việc đề nghị cung cấp
thông tin.
6. Hình thức cung cấp
thông tin có thể bằng văn bản trả lời, cung cấp thông tin qua mạng điện tử, sao
chụp hoặc trích lục hồ sơ.
7. Tổ chức, cá nhân yêu
cầu cung cấp thông tin về nhà ở phải trả phí cung cấp thông tin cho cơ quan
quản lý hồ sơ nhà ở, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị cung
cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về nhà ở và cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân đề nghị cung cấp thông tin phục vụ
cho công tác điều tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, các vụ án về
nhà ở.
Bộ Tài chính phối hợp
với Bộ Xây dựng quy định mức thu, tỷ lệ trích nộp ngân sách và chế độ sử dụng
phí cung cấp thông tin quy định tại Điều này.
Điều 77. Điều tra, thống kê, xây dựng dữ liệu về nhà ở
1. Điều tra, thống kê về
nhà ở được thực hiện định kỳ năm năm và mười năm một lần theo quy định sau đây:
a) Định kỳ mười năm một
lần, Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
tổ chức điều tra, thống kê nhà ở cùng với tổng điều tra số và nhà ở trong cả
nước;
b) Định kỳ năm năm một
lần (tính giữa mỗi kỳ tổng điều tra dân số và nhà ở), Bộ Xây dựng chủ trì, phối
hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra
điểm, điều tra mẫu về nhà ở tại một số xã, phường, thị trấn của một số tỉnh,
thành phố thuộc các vùng, miền khác nhau trong cả nước để thống kê số liệu về
tình hình phát triển nhà ở phục vụ cho công tác hoạch định chính sách phát
triển nhà ở trong cả nước.
Trước khi tổ chức thực
hiện điều tra nhà ở quy định tại điểm này, Bộ Xây dựng có trách nhiệm lập kế
hoạch điều tra và đề xuất kinh phí điều tra báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem
xét, quyết định.
2. Kinh phí điều tra,
thống kê và xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở quy định tại Điều này được bố trí
từ ngân sách nhà nước.
Điều 78. Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về phát triển, quản lý
nhà ở và thị trường bất động sản
1. Cán bộ, công chức làm
việc trong lĩnh vực quản lý, phát triển nhà ở và thị trường bất động sản của
các cấp, các ngành ít nhất ba năm một lần phải tham dự lớp đào tạo, bồi dưỡng
kiến thức về phát triển, quản lý nhà ở và thị trường bất động sản. Các cơ quan,
đơn vị có liên quan đến lĩnh vực nhà ở và thị trường bất động sản có trách
nhiệm bố trí và tạo điều kiện để cán bộ, công chức tham gia các lớp đào tạo,
bồi dưỡng theo quy định tại Điều này.
Đối với các cá nhân,
doanh nghiệp tham gia hoạt động quản lý vận hành nhà chung cư (kể cả các công
trình nhà ở có mục đích sử dụng hỗn hợp) thì phải tham dự khóa đào tạo, bồi
dưỡng kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý vận hành nhà chung cư theo
hướng dẫn của Bộ Xây dựng.
2. Bộ Xây dựng quy định
về kế hoạch, chương trình, nội dung đào tạo và phối hợp với các cơ quan liên
quan, các địa phương tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về
phát triển, quản lý nhà ở và thị trường bất động sản cho đội ngũ cán bộ, công
chức làm việc trong lĩnh vực quản lý, phát triển nhà ở và các cá nhân, tổ chức
tham gia hoạt động quản lý vận hành nhà chung cư quy định tại Điều này.
3. Kinh phí đào tạo do
các cơ quan, đơn vị cử học viên tham dự khóa học thanh toán cho cơ sở đào tạo.
Điều 79. Trách nhiệm của Bộ Xây dựng
1. Giúp Chính phủ thực
hiện thống nhất quản lý nhà nước về nhà ở trên phạm vi cả nước
2. Nghiên cứu, trình Thủ
tướng Chính phủ ban hành định hướng, chiến lược phát triển nhà ở quốc gia cho
từng giai đoạn theo quy định của Nghị định này.
3. Nghiên cứu, trình
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ
sung, ban hành theo thẩm quyền các văn bản liên quan đến quản lý và phát triển
nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này.
4. Trực tiếp chỉ đạo
việc thực hiện chiến lược, các chương trình, mục tiêu quốc gia về nhà ở do Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt.
5. Kiểm tra, thanh tra,
giải quyết theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải quyết
các khó khăn, vướng mắc của các Bộ, ngành, các cơ quan, tổ chức và cá nhân
trong quá trình triển khai thực hiện Luật Nhà ở và Nghị định này; theo dõi,
kiểm tra việc thực hiện các quy định có liên quan đến nhà ở nhưng được giao cho
các Bộ, ngành khác triển khai thực hiện.
6. Thực hiện các nhiệm
vụ được giao theo quy định của Nghị định này và theo chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ.
7. Định kỳ hàng năm và
theo yêu cầu đột xuất báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tình hình triển
khai Luật Nhà ở và Nghị định này trên phạm vi cả nước.
Điều 80. Trách nhiệm quản lý nhà nước về nhà ở của các Bộ,
ngành liên quan
1. Các Bộ, cơ quan ngang
Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ
Xây dựng thực hiện quản lý nhà nước về nhà ở.
2. Nghiên cứu sửa đổi,
bổ sung, ban hành các văn bản liên quan đến quản lý, phát triển nhà ở theo chức
năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao hoặc phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc
nghiên cứu soạn thảo chính sách, tham gia chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện
và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý và
phát triển nhà ở của các ngành, các cấp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan.
Điều 81. Trách nhiệm quản lý nhà nước về nhà ở của địa
phương
1. Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có trách nhiệm:
a) Thực hiện quản lý nhà
nước về nhà ở trên địa bàn;
b) Xây dựng và tổ chức
triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương,
bao gồm chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở nói chung và các chương trình
mục tiêu của địa phương về hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng xã hội gặp khó khăn
về nhà ở;
c) Công bố công khai
trên Website của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và của Sở Xây dựng quy hoạch xây dựng
tỷ lệ 1/2000 và quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500, các dự án phát triển
nhà ở đang được triển khai thực hiện, các trường hợp chuyển nhượng dự án, thay
đổi chủ đầu tư và tiến độ thực hiện các dự án phát triển nhà ở trên địa bàn;
d) Lập quy hoạch và bố
trí quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở công vụ theo quy định của Nghị định
này;
đ) Tổ chức thực hiện
quản lý quỹ nhà ở công vụ và nhà ở xã hội được xây dựng bằng vốn ngân sách của
địa phương;
e) Xác định danh mục nhà
biệt thự để thực hiện quản lý theo quy định của Nghị định này và pháp luật có
liên quan;
g) Chỉ đạo, hướng dẫn,
tổ chức thực hiện, kiểm tra, thanh tra công tác quản lý và phát triển nhà ở
trên địa bàn theo chức năng nhiệm vụ được giao;
h) Tuyên truyền, vận
động các tổ chức, cá nhân chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý và
phát triển nhà ở;
i) Xử lý theo thẩm quyền
hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về nhà
ở;
k) Chủ trì hoặc phối hợp
với các Bộ, ngành thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của Luật Nhà ở và
Nghị định này;
l) Định kỳ hàng năm hoặc
theo yêu cầu đột xuất báo cáo cấp trên về tình hình triển khai Luật Nhà ở và
Nghị định này trên địa bàn.
2. Giúp Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nhà ở và thị trường bất động
sản trên địa bàn là Sở Xây dựng.
3. Ủy ban nhân dân cấp
huyện có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về nhà ở và thị trường bất
động sản trên địa bàn theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm trước pháp
luật nếu chậm trễ thực hiện hoặc không thực hiện các quy định của Luật Nhà ở và
Nghị định này.
Điều 82. Ban Chỉ đạo về chính sách nhà ở và thị trường bất
động sản
1. Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập Ban Chỉ đạo trung ương về chính sách nhà ở và thị trường
bất động sản để giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo và phối hợp giải
quyết những vẫn đề quan trọng, liên ngành có liên quan đến chính sách quản lý,
phát triển nhà ở và thị trường bất động sản trên phạm vi toàn quốc.
2. Ban Chỉ đạo trung
ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản có nhiệm vụ, quyền hạn: chỉ
đạo, đôn đốc, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các chương trình phát triển
nhà ở, các chủ trương, chính sách về nhà ở và thị trường bất động sản tại các
Bộ, ngành và các địa phương; tham gia góp ý các chính sách lớn, quan trọng liên
quan đến nhà ở và thị trường bất động sản; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và các
cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc đình chỉ việc thi hành các
văn bản có liên quan đến nhà ở và thị trường bất động sản do các Bộ, ngành và
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành trái với quy định của pháp luật về nhà ở và
thị trường bất động sản.
3. Căn cứ vào nhiệm vụ,
quyền hạn của Ban Chỉ đạo trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động
sản, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Ban Chỉ đạo về
chính sách nhà ở và thị trường bất động sản cấp tỉnh để giúp Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện các chính sách liên quan đến
lĩnh vực nhà ở và thị trường bất động sản tại địa phương.
4. Các thành viên của
Ban Chỉ đạo và Tổ chuyên gia giúp việc Ban Chỉ đạo về chính sách nhà ở và thị
trường bất động sản làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và được hưởng phụ cấp theo
quy định của Thủ tướng Chính phủ. Kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo do ngân
sách nhà nước cùng cấp cấp.
5. Chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo và các tổ chức giúp việc Ban Chỉ
đạo ở Trung ương do Thủ tướng Chính phủ quy định, ở địa phương do Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Chương 7.
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 83. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu
lực thi hành từ ngày 08 tháng 8 năm 2010.
2. Nghị định này thay
thế Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.
3. Đối với dự án phát
triển nhà ở đã được lập và trình phê duyệt theo quy định của Nghị định số
90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Luật Nhà ở nhưng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp
huyện chưa phê duyệt hoặc trường hợp đã được phê duyệt (kể cả nhà ở được xây
dựng trong khu đô thị mới) nhưng có đề nghị thay đổi một trong các nội dung của
dự án phát triển nhà ở theo quy định tại khoản 4 Điều 7 của Nghị định này thì
thực hiện lập, thẩm định, phê duyệt, chấp thuận đầu tư hoặc chấp thuận bổ sung
nội dung dự án phát triển nhà ở (dự án phát triển khu nhà ở hoặc dự án phát
triển nhà ở độc lập) theo quy định của Nghị định này.
4. Bãi bỏ các nội dung
liên quan đến phát triển nhà ở, công nhận quyền sở hữu nhà ở, quản lý sử dụng
nhà ở, giao dịch về nhà ở, quản lý nhà nước về nhà ở được quy định trong các
Nghị định của Chính phủ, các văn bản pháp luật do các Bộ, ngành và Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà trái với
quy định của Nghị định này.
Điều 84. Trách nhiệm thi hành
Các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị
định này.
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
Nguyễn Tấn Dũng
--------------------------------------------------------------------------------
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
Tel: 04-39916057 Fax: 04-39916058
SĐT TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ: & 043- 9916057
SĐT YÊU CẦU DỊCH VỤ PHÁP LUẬT: 0986 11 66 05 & 0986386648
Email: contact@sunlaw.com.vn & guicauhoitructuyen@sunlaw.com.vn
Website: www.sunlaw.com.vn &
www.lawdata.com.vn
--------------------------------------------------------------------------------