1. GIỚI THIỆU CHUNG
Nguyên
tắc cân bằng - hợp lý (proportionality) là một nguyên tắc cơ bản trong
hệ thống các nguyên tắc pháp lý chung. Trong nhiều hệ thống pháp luật
liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế như pháp luật của Cộng đồng Châu
Âu (EC), pháp luật của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nguyên tắc
này là công cụ pháp lý quan trọng để kiểm tra quyền tự do ban hành văn
bản quy phạm pháp luật cũng như văn bản thực thi pháp luật của các
chính phủ (là thành viên của các liên kết kinh tế đó) trong mối tương
quan với các cam kết tự do hóa thương mại và các cam kết khác có liên
quan đến tự do hóa thương mại, mở cửa thị trường. Trong pháp luật EC,
nguyên tắc cân bằng - hợp lý thường được viện dẫn trước Tòa án Tư pháp
Châu Âu (ECJ) nhằm thách thức các biện pháp mà các quốc gia thành viên
hay các thiết chế (institution) của EC áp dụng. Trong pháp luật của
WTO, nó là một trong những nguyên tắc chính của hệ thống thương mại đa
phương, thường được sử dụng trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
nhằm xác định một biện pháp của quốc gia thành viên có phù hợp với pháp
luật WTO hay không.[1]
Tuy
nhiên đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về nguyên tắc cân
bằng - hợp lý bởi vì nguyên tắc này có thể được áp dụng và giải thích
khác nhau tùy từng cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế. Nhìn sơ bộ, việc
xác định chính xác các yêu cầu cụ thể cũng như ranh giới của nguyên tắc
này là một công việc khó khăn vì đặc trưng của nguyên tắc này là tính
toàn vẹn và linh hoạt. Nó có thể được coi như là nguyên tắc pháp lý
phức tạp nhất, mơ hồ nhất, không có tính hệ thống nhất nhưng lại được
sử dụng nhiều nhất trong tố tụng, và là một công cụ hiệu quả nhất để
xem xét lại (review) và được vận dụng hết sức linh hoạt.[2] Tuy
nhiên, ECJ thông qua các án lệ của nó đã dần dần thiết lập các tiêu chí
cho nguyên tắc cân bằng-hợp lý trong pháp luật EC- mô hình pháp luật
của liên kết kinh tế quốc tế cao nhất hiện nay trên cơ sở bốn tự do di
chuyển (freedoms of movement: hàng hóa, dịch vụ, lao động và thiết lập
doanh nghiệp, vốn). Trong khuôn khổ WTO, công việc tương tự như vậy
trong một chừng mực nhất định cũng đã được thực hiện bởi Cơ quan phúc
thẩm (Appellate Body: AB) trên cơ sở cơ chế giải quyết tranh chấp (DSU)
của WTO.
Việt Nam,
hiện nay là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), sẽ
gia nhập WTO (vào cuối năm nay hoặc đầu năm 2007) và sẽ gia nhập Cộng
đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2020 theo mô hình ban đầu của EC.[3] Trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ Việt Nam cần xem xét
nghiêm túc nguyên tắc cân bằng-hợp lý nhằm tránh tình trạng luật, quy
định dưới luật cũng như các biện pháp mà Chính phủ áp dụng mâu thuẫn,
vi phạm với pháp luật WTO, hay các cam kết trong ASEAN, hay Cộng đồng
kinh tế ASEAN trong tương lai. Chính vì vậy, mục đích của bài viết này
là xác định các nội dung cơ bản của nguyên tắc cân bằng - hợp lý trong
pháp luật EC và WTO, sau đó rút ra một số kinh nghiệm về việc vận dụng
nguyên tắc này cho Việt Namtrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2. NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG - HỢP LÝ TRONG PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU
Nguyên
tắc cân bằng - hợp lý được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong
pháp luật EC, liên quan đến các vấn đề từ tự do di chuyển, nhân quyền
đến chính sách nông nghiệp chung. Kể từ đầu những năm 1980, nguyên tắc
này thường được sử dụng để chống lại nỗ lực của các quốc gia thành viên
vi phạm các khía cạnh tự do kinh tế trong Cộng đồng. Do đó, nó đã trở
thành một công cụ thúc đẩy hội nhập kinh tế. Trong giai đoạn đầu,
nguyên tắc này được sử dụng nhiều trong lĩnh vực tự do di chuyển hàng
hóa (tất nhiên sau đó cũng phát triển trong lĩnh vực tự do di chuyển về
dịch vụ và con người) nhằm đánh giá tính hợp lý của của việc áp dụng
các ngoại lệ của các quốc gia thành viên trên cơ sở Điều 30 Hiệp định
thành lập Cộng đồng Châu Âu (TEC), ví dụ như các ngoại lệ liên quan đến
chính sách công cộng, an ninh quốc gia, sức khỏe cộng đồng.
Điều
quan trọng là lập luận của ECJ thường không thay đổi khi áp dụng nguyên
tắc này. Cho dù nguyên tắc cân bằng - hợp lý có thể tìm thấy ở hệ thống
pháp luật một số quốc gia thành viên, ECJ luôn nêu rõ nó có bản chất
xuất phát từ pháp luật EC, thuần túy là một nguyên tắc với các quy tắc
áp dụng được xác định bởi các thẩm phán của EC nhằm phù hợp với bối
cảnh của EC.
Trong
trật tự pháp lý của EC, ECJ kiểm tra tính hợp pháp của các biện pháp
của quốc gia thành viên hay của các thiết chế Cộng đồng trên cơ sở xem
xét ba yếu tố (three-pronged test). Tuy nhiên ECJ thường vận dụng rất
linh hoạt ba yếu tố này, và có thể chỉ áp dụng một hay hai yếu tố mặc
dù rõ ràng là việc xem xét cùng một lúc ba yếu tố thể hiện đòi hỏi cao
hơn so với việc xem xét chỉ một hay hai yếu tố.[4]
2.1 Các yêu cầu của nguyên tắc cân bằng - hợp lý
Để
xem xét một vấn đề trên cơ sở nguyên tắc cân bằng - hợp lý trong pháp
luật EC, ba bước kiểm tra cần được tiến hành là kiểm tra: (i) tính phù
hợp (suitability/appropriateness), (ii) tính cần thiết (necessity), và
tính cân bằng lợi ích (proportionality stricto sensu).[5]
2.1.1 Tính phù hợp
Yêu
cầu này liên quan đến mối quan hệ giữa công cụ, tức biện pháp áp dụng
(measure), và mục tiêu (objective). Biện pháp áp dụng phải phù hợp
(suitable, appropriate, reasonably likely) nhằm đạt được mục tiêu.
Nghĩa là ở đây có mối quan hệ nhân quả giữa biện pháp áp dụng và mục
tiêu theo đuổi.[6] Như
vậy, việc xác định tính phù hợp là nhằm đánh giá biện pháp áp dụng là
có tùy ý, không có ràng buộc gì cả (arbitrary) hay không [7];
vì biện pháp áp dụng có thể là biện pháp của quốc gia thành viên hay
biện pháp của thiết chế Cộng đồng. Nếu là biện pháp của thiết chế Cộng
đồng thì mục tiêu cần đạt đến ở đây phải là mục tiêu của Cộng đồng và
ECJ phải tự đánh giá vấn đề này. Nếu là biện pháp của quốc gia thành
viên, thì mục tiêu cần đạt đến phải là sự kết hợp giữa mục tiêu của
Cộng đồng và mục tiêu của quốc gia thành viên đó. Điều đó có nghĩa khi
một quốc gia thành viên áp dụng một hay một số biện pháp nhằm thực thi
một chính sách quốc gia (bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ người tiêu
dùng hay bảo vệ môi trường...) thì biện pháp đó cũng phải phù hợp với
mục tiêu chung của Cộng đồng (như tự do di chuyển trong Cộng đồng).
Trong trường hợp này ECJ hoặc có thể tự mình đánh giá tính phù hợp của
biện áp áp dụng hay giao việc đó cho tòa án của quốc gia thành viên.[8]
2.1.2 Tính cần thiết
Kiểm
tra tính cần thiết là để xác định xem biện pháp áp dụng là có cần thiết
nhằm đạt được mục tiêu hướng đến hay không. Nói một cách khác, yêu cầu
này được dùng để đánh giá xem có tồn tại hay không một biện pháp ít hạn
chế hơn nhưng vẫn có khả năng đạt được mục tiêu đề ra.
Tương
tự như yêu cầu về tính phù hợp, khi kiểm tra yêu cầu về tính cần thiết,
ECJ cũng phân biệt biện pháp của quốc gia thành viên hay biện pháp của
các thiết chế Cộng đồng. Thông thường khi xem xét một biện pháp pháp lý
của các thiết chế của Cộng đồng có liên quan đến chính sách kinh tế của
Cộng đồng, ECJ thường chỉ kiểm tra xem biện pháp đó có rõ ràng là không
thích hợp hay không (manifestly inappropriate test) thay vì phải kiểm
tra xem có tồn tại hay không một biện pháp ít hạn chế hơn. Phép thử
“không thích hợp một cách rõ ràng” này được áp dụng trong các lĩnh vực
mà các thiết chế của Cộng đồng có thẩm quyền rộng,[9] hay trong các vụ việc có liên quan đến các yếu tố kỹ thuật, kinh tế phức tạp.[10] Gần đây, trong án lệ Commission v. ECB,[11] ECJ
cho rằng vì lợi ích tài chính của Cộng đồng, các thiết chế của Cộng
đồng phải được phép có quyền quyết định rộng. Do đó một biện pháp mà
thiết chế đó ban hành chỉ không hợp pháp khi biện pháp đó rõ ràng là
không thích hợp với mục tiêu mà thiết chế đó mong muốn đạt đến. Việc áp
dụng phép thử “không thích hợp một cách rõ ràng” này dẫn đến việc xem
xét lại các quy định pháp lý của Cộng đồng chỉ giới hạn ở mức tối thiểu
mà thôi.
Như
vậy, có thể khẳng định là phép thử “biện pháp ít hạn chế hơn” chỉ được
sử dụng khi kiểm tra tính cần thiết của các biện pháp của quốc gia
thành viên. Nhìn chung, theo quy trình thủ tục quy định tại Điều 234
TEC và hướng dẫn của ECJ, các tòa án quốc gia sử dụng phép thử “biện
pháp ít hạn chế hơn” để xem xét một vụ việc cụ thể.[12]
Trước
khi đi vào phân tích tiêu chí cuối cùng (tính cân bằng lợi ích), cần
lưu ý là yêu cầu về tính cần thiết và yêu cầu về tính cân bằng lợi ích
thường được xem xét cùng một lúc.[13] Hai yêu cầu này nằm trong phân tích gắn liền với các dữ kiện thực tế và pháp lý.[14] Điều này được thể hiện trong án lệ De Peijper.[15] Trong
án lệ này, một thương nhân Hà Lan bị truy tố ra tòa án hình sự của Hà
Lan vì đã nhập khẩu dược phẩm từ Anh mà không có sự cho phép của cơ
quan có thẩm quyền của Hà Lan mặc dù loại dược phẩm đó đã được phép lưu
hành ở Hà Lan. Án lệ này cho thấy nếu một biện pháp của quốc gia thành
viên rõ ràng là không cần thiết, thì biện pháp đó là không cân bằng về
mặt lợi ích, tức không thỏa mãn nguyên tắc cân bằng - hợp lý. Điều đó
có nghĩa là lợi ích của quốc gia thành viên (bảo vệ sức khỏe cộng đồng)
sẽ không thể cao hơn (vượt quá) lợi ích của EC (tự do di chuyển). Như
vậy, trong trường hợp này, việc xem xét kỹ lưỡng yêu cầu về tính cân
bằng lợi ích là không cần thiết.
2.1.3 Tính cân bằng lợi ích
Việc kiểm tra tính cân bằng lợi ích (proportionality stricto sensu)
liên quan đến việc xem xét các lợi ích khác nhau. Việc kiểm tra tính
cân bằng lợi ích đối với các biện pháp của các thiết chế Cộng đồng
(tính hợp pháp của các biện pháp pháp lý của Cộng đồng: các nghị định,
chỉ thị) cũng có sự khác biệt so với việc kiểm tra tính cân bằng lợi
ích của các biện pháp của các quốc gia thành viên khi biện pháp đó
không tuân thủ pháp luật EC.[16]
Khi
kiểm tra tính cân bằng lợi ích đối với các biện pháp của các thiết chế
Cộng đồng, việc đánh giá cân bằng các lợi ích ở trường hợp này là cân
bằng giữa quyền cá nhân và lợi ích của Cộng đồng. Mischo, người tư vấn
pháp lý cho ECJ (Advocate General) trong án lệ Fedesa,
cho rằng việc đánh giá tính cân bằng lợi ích có nghĩa là định lượng, so
sánh các thiệt hại ảnh hưởng đến quyền cá nhân so với các lợi ích thu
được để phục vụ lợi ích chung.[17] Điều này được thể hiện rõ trong án lệ Hauer,
khi tính hợp pháp của một nghị định của EC bị cho là vi phạm quyền về
tài sản và quyền tự do kinh doanh hay quyền thực hiện một nghề nghiệp
nhất định. ECJ trong án lệ này khẳng định các quyền cơ bản không bị vi
phạm, thậm chí còn cho rằng việc thực thi các quyền cơ bản có thể có
những giới hạn nhất định. Những giới hạn này được biện minh hợp lý bằng
các mục tiêu là các lợi ích chung của cả Cộng đồng.[18] Theo
công thức chuẩn này, các quyền cơ bản có thể bị hạn chế, đặc biệt trong
một thị trường chung, miễn là các giới hạn đó trên thực tế phù hợp với
các mục tiêu là các lợi ích chung mà Cộng đồng hướng đến, và chúng
không tạo nên sự can thiệp bất hợp lý và không thể chấp nhận được, g��y
ảnh hưởng đến nội dung cơ bản của các quyền được bảo đảm.[19]
Khi
kiểm tra tính cân bằng lợi ích đối với biện pháp của quốc gia thành
viên, ECJ đánh giá biện pháp đó qua việc cân bằng, so sánh giữa lợi ích
quốc gia và lợi ích của Cộng đồng.[20] Như
Van Gerven lập luận, việc kiểm tra như vậy liên quan đến việc có tồn
tại mối quan hệ cân bằng giữa một bên là hạn chế mà biện pháp đó gây ra
với một bên là mục tiêu mà biện pháp đó hướng tới cũng như kết quả thực
sự đạt được trên thực tế. Việc kiểm tra tính cân bằng hợp lý như vậy
chỉ được thực hiện sau khi đã kiểm tra tính phù hợp và tính cần thiết.
Điều đó có nghĩa là nếu một biện pháp có mối quan hệ nhân quả với mục
tiêu mà nó hướng đến, và không tồn tại một biện pháp khác có thể thay
thế nhưng lại ít hạn chế hơn, thì bước tất yếu tiếp theo là biện pháp
đó phải được đánh giá trên cơ sở có sự cân bằng hay không giữa hạn chế
mà nó gây ra và mục tiêu mà nó hướng đến cũng như/hoặc kết quả thực tế
đạt được. [21] Như
vậy việc áp dụng yêu c��u về tính cân bằng lợi ích là tiêu chí cuối cùng
trong quá trình kiểm tra toàn diện trên cơ sở ba tiêu chí. Tuy nhiên
trong một số trường hợp cụ thể như đã trình bày, yêu cầu về tính cân
bằng lợi ích có thể được xem xét đồng thời với yêu cầu về tính cần
thiết và tính phù hợp.
2.2 Áp dụng linh hoạt các yêu cầu của nguyên tắc cân bằng - hợp lý
Việc
phân tích khái niệm của các yếu tố cấu thành nguyên tắc cân bằng - hợp
lý có thể giúp đưa ra một số kết luận trong quá trình áp dụng việc kiểm
tra trên cơ sở nguyên tắc này của ECJ. Trước hết, có thể thấy có sự
khác biệt giữa việc đánh giá một biện pháp của quốc gia thành viên với
một biện pháp của thiết chế Cộng đồng theo nguyên tắc này. Đối với biện
pháp của thiết chế Cộng đồng, cách kiểm tra biện pháp đó không thích
hợp một cách rõ ràng (manifestly inappropriate test) có thể thay thế
cho cách kiểm tra có biện pháp khác ít hạn chế hơn (test of less
restrictive means). Đối với biện pháp của quốc gia thành viên, yếu tố
liên quan đến việc cân bằng và đối trọng lợi ích thay đổi tùy theo từng
vụ việc cụ thể. Bên cạnh đó, ECJ không phải lúc nào cũng áp dụng đồng
thời cả ba bước kiểm tra trên. Điều có có nghĩa việc áp dụng các yêu
cầu của nguyên tắc cân bằng - hợp lý là hết sức linh hoạt. Các phán
quyết của ECJ cho thấy nhiều lúc Tòa án này chỉ áp dụng một bước kiểm
tra, ví dụ như chỉ kiểm tra yêu cầu về tính cân bằng lợi ích. Điều này
được khẳng định trong án lệ Hauer và Stoke-onTrent.[22] Và
tất nhiên khi một biện pháp được tòa án xem xét không vượt qua được
bước kiểm tra đầu tiên (tính phù hợp), tòa án không cần phải tiến hành
tiếp các bước kiểm tra còn lại vì biện pháp đó dù sao đi nữa sẽ được
coi là không cân đối, không hợp lý (disproportionate).[23]
Tuy
nhiên ECJ thường vận dụng yêu cầu về tính phù hợp và tính cần thiết.
Cách kiểm tra với hai tiêu chí này đã được sử dụng trong các vụ việc
liên quan đến các khiếu kiện về các quy định pháp lý của Cộng đồng và
các biện pháp nhằm yêu cầu quốc gia thành viên thu hồi các khoản trợ
cấp vi phạm pháp luật EC.[24] Tương
tự, ECJ cũng đề cập đến cách kiểm tra với hai tiêu chí như vậy khi nó
đưa ra các hướng dẫn cho tòa án quốc gia thành viên trong bối cảnh liên
quan đến tự do di chuyển, hay phân biệt giới tính.[25] Trong án lệ Commission v. ECB,
ECJ cho rằng để bảo đảm các lợi ích chung trong lĩnh vực tài chính của
Cộng đồng, nguyên tắc cân bằng - hợp lý (với tư cách là một trong những
nguyên tắc cơ bản của pháp luật EC) buộc các biện pháp mà các thiết chế
Cộng đồng quy định (i) phải phù hợp nhằm đạt được mục tiêu hướng đến,
và (ii) không được vượt quá những gì được coi là cần thiết để đạt được
mục tiêu đó.[26]
Tất
nhiên cũng có nhiều ý kiến cho rằng việc áp dụng nguyên tắc cân bằng -
hợp lý đòi hỏi phải trải qua ba bước kiểm tra. Quan điểm này được xây
dựng và phát triển cụ thể trong các ý kiến của nhiều người tư vấn pháp
lý cho ECJ.[27],
Tuy nhiên như đã đề cập ở trên, ECJ hiếm khi phân biệt rõ ràng giữa
việc kiểm tra yêu cầu về tính cần thiết và việc kiểm tra yêu cầu về
tính cân bằng lợi ích.[28] Mặc dù vậy một số vụ việc liên quan đến các khiếu kiện chống lại các biện pháp của Cộng đồng như Fedesa, Crispoltoni, vàJippes, ECJ đã áp dụng cả ba bước kiểm tra.[29] Gần đây, việc kiểm tra qua ba bước này cũng được ECJ sử dụng trong các vụ việc liên quan đến phân biệt giới tính.
Có
thể khẳng định rằng việc áp dụng cách kiểm tra nghiêm ngặt thể hiện
việc xem xét lại biện pháp áp dụng ở mức độ cao hơn. Việc áp dụng cách
kiểm tra về tính phù hợp và tính cần thiết cho phép ECJ xem xét lại giá
trị của các biện pháp được áp dụng. Như vậy nguyên tắc cân bằng - hợp
lý có thể được coi là một công cụ thực hiện việc xem xét lại dưới góc
độ tư pháp (hay tư pháp giám sát: judicial review) có hiệu quả.[30] Thông
thường ECJ chỉ xem xét lại các biện pháp của Cộng đồng trên cơ sở
nguyên tắc cân bằng - hợp lý ở mức thấp nhất (marginal review), trong
khi đó lại đòi hỏi việc xem xét lại các biện pháp của quốc gia thành
viên có ảnh hưởng đến pháp luật Cộng đồng (trên cơ sở nguyên tắc này)
với yêu cầu cao hơn.
3. NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG - HỢP LÝ TRONG PHÁP LUẬT WTO
Trong
các hiệp định của WTO, các thuật ngữ như “thích hợp” (appropriate),
“cần thiết” (necessary), “hợp lý” (reasonable) và thậm chí là “cân bằng
- hợp lý” (proportionality) thường được sử dụng khi điều khoản trong
các hiệp định cho phép các thành viên của WTO được quyền quyết định
những vấn đề là ngoại lệ của các nghĩa vụ trong WTO.[31] Chúng có mục đích phản ánh sự
cân bằng giữa việc đảm bảo cho các thành viên của WTO có quyền tự do tự
xác định cũng như đạt được các mục tiêu thông qua các biện pháp cụ thể
của mình với việc ngăn cản các thành viên ban hành và thực hiện các
biện pháp hạn chế thương mại quá mức.[32] Điều
đó có nghĩa là các ngoại lệ được quy định trong các hiệp định của WTO
phải đáp ứng được yêu cầu của việc kiểm tra sự cần thiết (necessity
test) hay nguyên tắc cân bằng - hợp lý của WTO được Cơ quan phúc thẩm
giải thích thông qua các báo cáo giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.[33]
3.1 Biện pháp ít hạn chế thương mại nhất
Theo
quy định tại Điều XX Hiệp định GATT 1947/1994, các bên tham gia
(contracting parties: thuật ngữ được dùng trong Hiệp định GATT 1947)
hay các thành viên của WTO (Members: thuật ngữ được dùng trong Hiệp
định GATT 1994) có thể ban hành hay thực thi các biện pháp cần thiết để
đạt được các mục tiêu, như: cần thiết để đảm bảo tuân thủ các quy định
pháp lý phù hợp với các điều khoản của Hiệp định GATT, cần thiết để bảo
vệ các giá trị đạo đức chung, bảo vệ đời sống con người, động thực vật,
bảo vệ sức khỏe cộng đồng... Chính vì vậy, hệ thống giải quyết tranh
chấp trên cơ sở quy định tại Điều XXII và XXIII Hiệp định GATT 1947 đã
nhiều lần phải giải thích thuật ngữ “cần thiết”. Trong vụ US-Section 337,[34] Ban
hội thẩm của Hiệp định GATT (GATT Panel) khẳng định một bên tham gia
(Hiệp định GATT 1947) không thể biện minh rằng một biện pháp mâu thuẫn
với các điều khoản khác của Hiệp định GATT là cần thiết theo quy định
tại Điều XX(d) nếu tồn tại một biện pháp khác không mâu thuẫn với các
điều khoản khác của Hiệp định GATT và có thể (được kỳ vọng một cách hợp
lý) được áp dụng trên thực tế. Và nếu không tồn tại một cách hợp lý một
biện pháp tuân thủ các điều khoản khác của Hiệp định GATT thì bên tham
gia có nghĩa vụ sử dụng biện pháp ít mâu thuẫn nhất với các điều khoản
khác của Hiệp định GATT trong số các biện pháp có thể áp dụng được.
Việc giải thích này được xác nhận lại một năm sau trong vụ Thailand - Cigarettes.[35]Ban
hội thẩm của Hiệp định GATT kết luận rằng các hạn chế về nhập khẩu mà
Thái Lan áp dụng chỉ được coi là “cần thiết” theo quy định tại Điều
XX(b) khi và chỉ khi không tồn tại một biện pháp khác có thể thay thế
nhưng vẫn tuân thủ Hiệp định GATT hoặc ít mâu thuẫn với Hiệp định GATT
hơn, và nếu tồn tại thì biện pháp đó phải có thể được Thái Lan áp dụng
một cách hợp lý để đạt được mục tiêu liên quan đến chính sách bảo vệ
sức khỏe cộng đồng của Thái Lan.
Như
vậy, việc kiểm tra liên quan đến tính cần thiết ở đây bao gồm hai bước
kiểm tra với đòi hỏi về khả năng tồn tại và áp dụng hợp lý trên thực
tế: (i) có biện pháp nào khác tuân thủ quy định của Hiệp định GATT?, và
(ii) có biện pháp nào ít mâu thuẫn hơn (hay mâu thuẫn ít nhất) với Hiệp
định GATT? Nếu đáp án cho câu hỏi (i) hoặc câu hỏi (ii) là khẳng định
(tức tồn tại), miễn là biện pháp khác với biện pháp đang bị khiếu nại
có thể tồn tại một cách hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu theo đuổi,
thì biện pháp đang bị khiếu nại là không cần thiết, và không thể được
miễn trừ.
Vì
mục đích của Hiệp định GATT 1947/1994 là giảm mạnh thuế quan cũng như
các hàng rào đối với thương mại, và xóa bỏ phân biệt đối xử trong
thương mại quốc tế, biện pháp ít mâu thuẫn với Hiệp định GATT hơn trong
việc kiểm tra tính cần thiết nêu trên chính là biện pháp ít hạn chế
thương mại hơn. Điều này được Ban hội thẩm của Hiệp định GATT thừa nhận
trong vụ US - Alcoholic & Malt Beverages[36] khi
cho rằng yêu cầu bia rượu do nước ngoài sản xuất chỉ được vận chuyển
trên các phương tiện vận tải công cộng ở Mỹ không thể được biện minh
theo Điều XX(d), bởi vì trong khi Mỹ không chứng minh được rằng biện
pháp đó mà Mỹ đang áp dụng là biện pháp ít hạn chế thương mại nhất có
thể có, Ban hội thẩm lại thấy có những biện pháp ít hạn chế thương mại
hơn hoặc phù hợp với Hiệp định GATT đang được áp dụng ở một số tiểu
bang của Mỹ.
Biện
pháp tuân thủ quy định của Hiệp định GATT trong một chừng mực nhất định
có thể được coi như là biện pháp ít mâu thuẫn với Hiệp định GATT hơn
(ít hạn chế thương mại hơn) so với biện pháp đang bị khiếu nại. Do đó,
việc kiểm tra tính cần thiết trong Hiệp định GATT 1947/1994 tương tự
như yếu tố thứ hai (yêu cầu về tính cần thiết) trong ba yêu cầu khi xem
xét một biện pháp trên cơ sở nguyên tắc cân bằng-hợp lý trong pháp luật
EC. Do đó việc kiểm tra tính cần thiết như vậy bị chỉ trích vì nó chủ
yếu tập trung vào nghĩa vụ chứng minh (burden of proof) nhằm chứng minh
hay phản bác sự tồn tại hợp lý của biện pháp khác ít hạn chế thương mại
hơn hay hạn chế thương mại ít nhất ngoài biện pháp đang bị khiếu nại,
mà không tính đến mối quan hệ nhân quả giữa biện pháp khác đó với mục
tiêu hướng đến, tức không tính đến hiệu quả của biện pháp đó. Điều này
dẫn đến sự không chắc chắn về mặc pháp lý (legal uncertainty) bởi vì
bên tham gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển do giới hạn về
nhân lực và tài lực, không thể xác định được trước biện pháp nào là ít
mâu thuẫn nhất với các điều khoản khác của Hiệp định GATT nhằm áp dụng
nó.[37]
3.2 Phân tích hai bước
Với thành công của vòng đàm phán Uruguay (1986-1994), WTO được thành lập vào ngày 1/1/1995 trên
cơ sở kế thừa Hiệp định GATT 1947. Theo cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO (DSU), các nguyên tắc, thủ tục giải quyết tranh chấp trong Hiệp
định GATT 1947 được tiếp tục sử dụng trong cơ chế giải quyết tranh chấp
mới mang tính bắt buộc của hệ thống thương mại đa phương này.[38] Chính
vì vậy, khi Ban hội thẩm (WTO Panel) và Cơ quan phúc thẩm (WTO
Appellate Body: AB) của WTO xem xét về tính cần thiết của biện pháp mâu
thuẫn với các quy định của WTO mà Mỹ áp dụng trong vụ US - Reformulated Gasoline,[39] họ
đã viện dẫn đến giải thích của Ban hội thẩm của Hiệp định GATT 1947.
Không những thế, AB còn thêm vào yêu cầu mới bên cạnh yêu cầu về tính
cần thiết (tức biện pháp ít hạn chế nhất) mà Ban hội thẩm GATT 1947
giải thích như phân tích ở trên. AB cho rằng để có thể được miễn trừ
theo quy định tại Điều XX Hiệp định GATT 1994, biện pháp áp dụng không
chỉ thuộc một trong các trường hợp được miễn trừ quy định tại khoản a
đến khoản j của Điều XX, mà biện pháp đó phải thỏa mãn các yêu cầu quy
định tại đoạn mở đầu của Điều này. Do đó việc phân tích tính cần thiết
của một biện pháp để xem nó có được miễn trừ hay không phải trải qua
hai bước (two - tiered analysis). Bước thứ nhất là phân tích xem biện
pháp bị khiếu nại có cần thiết trên cơ sở đặc điểm pháp lý của nó, tức
xem xét có tồn tại biện pháp nào ít (hay không) mẫu thuẫn với quy định
của pháp luật WTO có thể thay thế biện pháp bị khiếu nại một cách hợp
lý hay không. Bước thứ hai là phân tích xem biện pháp áp dụng có đáp
ứng ba yêu cầu: (i) không có phân biệt đối xử một cách tùy ý (arbitrary
discrimination), (ii) không có phân biệt đối xử mà không biện minh được
(unjustifiable discrimination), và (iii) không phải là hạn chế thương
mại trá hình (disguised restriction).
Cách
phân tích hai bước như vậy không chỉ phân tích tổng quan chung của biện
pháp áp dụng mà còn xem xét đến việc áp dụng trên thực tế của biện pháp
đó, hay mục đích hướng đến của biện pháp đó, bao gồm cả mục tiêu của
quốc gia và mục tiêu của WTO.[40] Cách
phân tích mới này dường như chứa đựng trong nó hai trong số ba yếu tố
trong nguyên tắc cân bằng - hợp lý của pháp luật EC: tính cần thiết và
tính phù hợp.
Tùy
theo mục đích cụ thể của từng hiệp định trong pháp luật WTO mà việc
kiểm tra biện pháp hạn chế thương mại theo quy định trong hiệp định đó
của một thành viên có những thay đổi linh hoạt nhất định. Ví dụ như
trong vụ Australia-Salmon,[41] khi
xem xét rằng việc Australia cấm nhập khẩu cá hồi từ Canada có phù hợp
với quy định của Hiệp định về các biện pháp vệ sinh động, thực vật
(SPS) của WTO hay không, AB đã kiểm tra ba yêu cầu. Cụ thể, biện pháp
vệ sinh động, thực vật của một thành viên bị khiếu nại sẽ bị cho là
không phù hợp với Hiệp định SPS khi có một biện pháp khác thỏa mãn cả
ba yêu cầu, bao gồm: (i) tồn tại một cách hợp lý (reasonably available)
khi tính đến tính khả thi về mặt kinh tế và kỹ thuật; (ii) đạt được mức
bảo vệ hợp lý liên quan đến vệ sinh động, thực vật của thành viên đó;
và (iii) thực sự ít
hạn chế thương mại hơn so với biện pháp bị khiếu nại. Dù áp dụng linh
hoạt như thế nào đi chăng nữa, thì việc kiểm tra của AB cũng tập trung
vào tính cần thiết (qua yêu cầu (i) và (iii)) cũng như tính phù hợp
(qua yêu cầu (ii)).
3.3 Cân bằng và so sánh
Những
phân tích ở trên cho thấy AB đã phát triển cách thức kiểm tra yêu cầu
về tính cần thiết trong pháp luật WTO vượt khỏi yêu cầu về tính cần
thiết bình thường, vì yêu cầu về tính phù hợp đã được đặt ra trong quy
trình kiểm tra đó. Tuy nhiên, yêu cầu về cân bằng lợi ích chưa được thể
hiện trong cách phân tích hai bước nêu trên.
Trong xu thế phát triển của việc sử dụng các nguyên tắc chung khi giải thích pháp luật WTO,[42] cũng
như trong xu hướng thúc đẩy sâu rộng tự do hóa thương mại, mở cửa thị
trường, yêu cầu về cân bằng giữa lợi ích của thành viên và lợi ích
chung của cả hệ thống thương mại đa phương khi xem xét một biện pháp
viện dẫn ngoại lệ (để biện minh sự cần thiết của biện pháp đó) là thích
hợp. Điều này được xác nhận trong vụKorea - Beef[43] khi
AB đánh giá tầm quan trọng của mục tiêu mà quốc gia đề ra cũng như ảnh
hưởng của biện pháp áp dụng đang bị khiếu nại ở mức độ sâu hơn. AB cho
rằng thuật ngữ “cần thiết” đề cập đến nhiều cấp độ cần thiết khác nhau
trong đó cấp độ cao nhất là “không thể thiếu” (indispensable) và cấp độ
thấp nhất là “có đóng góp” (making a contribution to). Một biện pháp
được coi là “cần thiết” theo pháp luật WTO phải nằm gần cấp độ “không
thể thiếu” chứ không thể đơn giản chỉ ở gần cấp độ “có đóng góp”. Chính
vì vậy, AB cho rằng để xác định xem một biện pháp là có cần thiết hay
không thì trong mọi trường hợp cần phải so sánh, cân bằng nhiều yếu tố,
đặc biệt là đóng góp của biện pháp đối với việc thực thi pháp luật liên
quan, tầm quan trọng của lợi ích/giá trị chung được bảo vệ, và hậu quả
đi kèm của quy định đối với hoạt động xuất - nhập khẩu.
Như
vậy, việc xác định một biện pháp là cần thiết hay không còn phụ thuộc
vào việc cân bằng giữa các lợi ích/giá trị. Cho dù AB không đưa ra một
danh sách đầy đủ các yếu tố cần xem xét khi thực hiện việc cân bằng, so
sánh này, nó đã nhấn mạnh ba yếu tố:
- Tính hiệu quả của biện pháp: một biện pháp có hiệu quả càng lớn, đóng góp càng nhiều để đạt được mục tiêu đề ra, thì biện pháp đó dễ được coi là cần thiết;
- Tầm quan trọng của mục tiêu:
mối quan tâm không liên quan đến thương mại (như môi trường, đạo đức,
tôn giáo...) càng quan trọng thì biện pháp thực thi nhằm đáp ứng mối
quan tâm ấy càng dễ được chấp nhận là cần thiết;
(i) - Việc hạn chế thương mại của biện pháp:
Một biện pháp có ít ảnh hưởng xấu đến thương mại thì dễ được coi là cần
thiết hơn là một biện pháp có ảnh hưởng hạn chế thương mại ở mức độ
lớn, rộng hơn.
Mục
đích của việc so sánh, cân bằng lợi ích trên cơ sở ba yếu tố cơ bản nêu
trên là để xác định xem liệu thành viên đang bị khiếu nại có thể được
kỳ vọng áp dụng một cách hợp lý một biện pháp khác phù hợp với quy định
của WTO hay một biện pháp ít hạn chế thương mại hơn hay không.[44] Trên
cơ sở đó, trong vụ này, AB cho rằng mặc dù các thành viên của WTO có
quyền tự xác định mức độ thực thi các quy định pháp lý phù hợp với pháp
luật WTO, nhưng việc sử dụng mức độ bảo vệ để hoàn toàn loại bỏ các
gian lận liên quan đến nguồn gốc xuất xứ của thịt bò (trong nước hay
nước ngoài) được bán tại các cửa hàng bán lẻ là không phù hợp vì điều
đó đồng nghĩa với việc hoàn toàn cấm nhập khẩu thịt bò. Vì vậy mục đích
của hệ thống hai loại cửa hàng bán lẻ (dual retail system) mà Hàn Quốc
quy định là chỉ nhằm mục đích hạn chế hay giảm đáng kể số lượng các vụ
gian lận như vậy mà thôi. Trong khi đó các biện pháp truyền thống, phù
hợp với pháp luật WTO (như biện pháp ghi và lưu dữ liệu, thanh tra,
kiểm soát) vẫn có thể đạt được mục tiêu đó cho dù ngân sách quốc gia
phải trả nhiều chi phí hơn cho việc thực thi các biện pháp này. Trong
khi đó hệ thống hai loại cửa hàng bán lẻ lại chuyển tất cả (hay phần
lớn) chi phí thực thi biện pháp đó sang cho sản phẩm (thịt bò) nhập
khẩu thay vì phải phân phối đều chi phí đó cho cả sản phẩm sản xuất
trong nước và sản phẩm nhập khẩu. Vì vậy, hệ thống hai cửa hàng bán lẻ
thịt bò của Hàn Quốc không cần thiết, không được miễn trừ theo Điều
XX(d) Hiệp định GATT.[45]
Trong vụ EC - Asbestos,[46] AB
tái khẳng định quy trình đánh giá cân bằng lợi ích này. Tuy nhiên nó
lại chủ yếu tập trung vào việc xác định có hay không việc tồn tại hợp
lý một biện pháp ít hạn chế thương mại hơn. Nó đã dành ưu tiên cho tiêu
chí tầm quan trọng của mục tiêu hướng đến. Cơ quan này nhấn mạnh là để
xác định một biện pháp được đề xuất thay thế là có tồn tại hợp lý hay
không, nhiều yếu tố cần được xem xét bên cạnh độ khó khi thực hiện, đặc
biệt là kết quả khi thực hiện biện pháp đó có đáp ứng mức bảo vệ phù
hợp mà thành viên bị khiếu nại hướng đến hay không. Vì biện pháp “sử
dụng có kiểm soát” mà Canada đề xuất cũng như các biện pháp khả thi
khác không cho phép Pháp đạt được mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng ở
mức không có rủi ro (qua việc cấm sử dụng các sản phẩm có chứa a-mi-ăng
ảnh hưởng đến sức khỏe), biện pháp cấm nhập khẩu sản phẩm chứa chứa
a-mi-ăng là cần thiết. Nhưng cũng tương tự nhự vụ Korea - Beef, AB trong vụ EC - Sardines[47] cho rằng mục tiêu mà biện pháp hướng đến cũng cần phải phù hợp (legitimacy). Việc EC cho rằng chỉ có loại cá Sardina pilchardus Walbaum (loại
cá chủ yếu sống ở vùng biển Đông Bắc Đại Tây Dương, biển Địa Trung Hải,
biển Đen) mới được ghi nhãn là cá Sardines, còn các loại cá khác (cá Sardinops sagax sagax của
Pê-ru) dù nằm trong 21 nhóm loại cá được gọi là cá sardines theo tiêu
chuẩn quốc tế Codex Stan 94 không được phép ghi nhãn là cá sardines khi
lưu thông trên thị trường EC. AB đồng ý với kết luận của Ban hội thẩm
rằng biện pháp như vậy của EC không thể được miễn trừ theo Điều 2 Hiệp
định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) vì EC không thể chứng
minh được rằng tiêu chuẩn quốc tế Codex Stan 94 là không hiệu quả hay
không phù hợp để đạt được mục tiêu mà EC theo đuổi.
Như vậy nghĩa vụ chứng minh đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp của WTO. Trong vụ US - Gambling[48] gần
đây, AB đã đưa ra cách nhìn mới liên quan đến nghĩa vụ chứng minh
(burden of proof) trong quá trình đánh giá cân bằng lợi ích. Nó khẳng
định là thành viên bị khiếu nại chỉ cần đưa ra các chứng cứ và lập luận
để Ban hội thẩm đánh giá biện pháp bị khiếu nại trên cơ sở định lượng,
cân bằng các yếu tố liên quan thay vì phải chỉ ra ngay từ giai đoạn đầu
rằng không tồn tại một cách hợp lý biện pháp thay thế khác mà vẫn đạt
được mục tiêu. Trong trường hợp nếu bên khiếu nại nêu ra một biện pháp
thay thế phù hợp với pháp luật WTO hay biện pháp ít hạn chế thương mại
hơn, thành viên bị khiếu nại phải chứng minh rằng biện pháp bị khiếu
nại vẫn cần thiết trong mối tương quan với biện pháp mới được đề xuất,
hay biện pháp mới là không thể tồn tại hợp lý nhằm đạt đến mức độ cần
bảo vệ của giá trị được theo đuổi.
Tóm
lại, AB đã dần dần chuyển từ việc kiểm tra tính cần thiết theo nghĩa
hẹp sang việc kiểm tra có đánh giá, cân bằng lợi ích giữa các giá trị
khác nhau, cụ thể là giữa tự do hóa thương mại của WTO (tức nghĩa vụ mở
cửa thị trường nội địa của các thành viên: market access obligations)
và quyền của các thành viên ủng hộ các mối quan tâm khác ngoài thương
mại.[49] Cách thức kiểm tra như vậy đã hình thành nên nguyên tắc cân bằng - hợp lý trong pháp luật WTO[50] và
nguyên tắc này trong WTO có những yêu cầu tương tự như trong pháp luật
EC. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận là nguyên tắc cân bằng - hợp lý trong
pháp luật WTO được áp dụng linh hoạt tùy theo từng hiệp định cụ thể và
thực sự chưa phải là nguyên tắc cân bằng - hợp lý đầy đủ.
4. KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Rõ
ràng là WTO vẫn còn là mô hình liên kết thương mại thuần túy giữa các
quốc gia (lãnh thổ) với nhau (inter-state framework), hay chỉ là sự
liên kết ở dạng “lỏng” trong khi EC đã hình thành một tổ chức trên cả
quốc gia (supra - State framework) hay đã đạt đến sự liên kết ở dạng
“rắn”. Pháp luật WTO chỉ phục vụ cho tự do hóa thương mại, thiếu sự hài
hòa trong các chính sách ngoài thương mại. Ngược lại, pháp luật EC với
cơ sở là bốn tự do di chuyển trong Cộng đồng đã hài hòa các chính sách
liên quan đến tự do thương mại nội khối. Điều này giải thích cho việc
mặc dù nguyên tắc cân bằng - hợp lý trong pháp luật WTO có những điểm
tương đồng với nguyên tắc này trong pháp luật EC như đã trình bày, việc
áp dụng nguyên tắc này trong WTO này không quá nghiêm ngặt, còn phụ
thuộc vào từng hiệp định cụ thể có liên quan, và vẫn dành nhiều quyền
tự do áp dụng các biện pháp cần thiết cho các thành viên. Tuy nhiên các
quốc gia đang phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như
Việt Namvẫn
có thể rút ra được nhiều kinh nghiệm có giá trị từ việc áp dụng nguyên
tắc cân bằng - hợp lý trong hệ thống pháp luật của WTO và của EC. Cụ
thể, Chính phủ Việt Nam có thể linh hoạt sử dụng nguyên tắc cân bằng -
hợp lý không chỉ để bảo vệ và biện minh cho các quy định pháp lý của
mình mà còn để thách thức và tấn công các biện pháp của các chính phủ
khác gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Việt Nam.
Vì vậy, Việt Nam cần phải cân nhắc kỹ lưỡng nguyên tắc cân bằng - hợp lý sau khi gia nhập WTO cũng như khi Việt Nam tham
gia đàm phán Hiệp định thành lập Cộng đồng ASEAN. Việt Nam nên tận dụng
tối đa các ngoại lệ quy định trong WTO với điều kiện phải ban hành và
thực thi các biện pháp áp dụng ngoại lệ đó hết sức cẩn trọng và chính
xác nhằm tránh những tranh chấp có thể phát sinh trên cơ sở kinh nghiệm
giải quyết tranh chấp của WTO, và thậm chí là kinh nghiệm từ EC, như đã
phân tích. Điều đó có nghĩa các quy định pháp lý của Việt Nam phải phù
hợp, nhất quán với pháp luật WTO (và pháp luật Cộng đồng ASEAN trong
tương lai) và không phải là biện pháp bảo hộ thương mại ngụy trang.
Việt Nam, cụ thể là các doanh nghiệp của Việt Nam,
đã phải gánh chịu những thiệt hại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế mà nguyên nhân xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền bàng
quan với nguyên tắc cân bằng - hợp lý. Năm 1995, một cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam đã lệnh cho một doanh nghiệp nhà nước không thực
hiện hợp đồng xuất khẩu gạo đã ký kết với đối tác nước ngoài với lý do
an ninh lương thực quốc gia, nhưng đồng thời lại yêu cầu doanh nghiệp
đó đàm phán lại với đối tác nước ngoài để tăng giá gạo xuất khẩu. Hậu
quả là doanh nghiệp Việt Nam đã
bị trọng tài của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) trên cơ sở tư pháp quốc
tế tuyên phải bồi thường cho đối tác nước ngoài 5 triệu USD do vi phạm
hợp đồng.[51] Dưới góc độ công pháp quốc tế, biện pháp mà cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp
dụng trong vụ việc này không thỏa mãn các yêu cầu của nguyên tắc cân
bằng - hợp lý. Cho dù Điều XI.2(a) Hiệp định GATT 1994 cho phép cấm hay
hạn chế xuất khẩu tạm thời nhằm ngăn chặn tình trạng thiếu hụt lương
thực nguy cấp, biện pháp đã được áp dụng thực chất không liên quan đến
tình trạng thiếu hụt lương thực lúc bấy giờ tại Việt Nam, mà chỉ nhằm
gây sức ép buộc đối tác nước ngoài phải đồng ý tăng giá mua gạo cho đối
tác Việt Nam. Biện pháp đó không thể được miễn trừ theo quy định tại
Điều XI.2(a) cũng như Điều XX Hiệp định GATT 1994. Trong vụ việc này,
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chỉ vì mối lợi nhỏ trước mắt, đã
không quan tâm đến nguyên tắc cân bằng - hợp lý, dẫn đến gây tổn thất
kinh tế cho doanh nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh việc sử dụng nguyên tắc cân bằng - hợp lý như là công cụ để phòng ngự (lá chắn), Việt Nam có
thể sử dụng nó như là công cụ tấn công (thanh gươm) trong quan hệ kinh
tế quốc tế liên quan. Ví dụ minh họa là vụ Mỹ buộc các nhà xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam khi xuất khẩu sản phẩm cá tra, cá ba sa sang Mỹ
phải ghi tên sản phẩm là cá “tra”, “basa” chứ không được sử dụng tên
tiếng Anh là “catfish”. Thực chất của vụ việc này là do cá tra, cá ba
sa (tên gọi tiếng Anh chung là “catfish”) đã chiếm lĩnh thị trường
catfish của Mỹ nên Hiệp hội người nuôi cá catfish của Mỹ (TCFA) đã vận
động hành lang, và kết quả là Quốc hội Mỹ ban hành luật chỉ cho phép
trong số 2000 loài cá catfish, chỉ có loài cá Ictaluriadae được nuôi ở Mỹ mới được phép ghi tên trên nhãn sản phẩm là cá catfish.[52] Nếu
một vụ việc tương tự về ghi nhãn sản phẩm như vậy xảy ra sau khi Việt
Nam gia nhập WTO, Việt Nam có thể khiếu nại quy định như vậy của Mỹ đến
cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO trên cơ sở viện dẫn nguyên tắc
cân bằng - hợp lý theo quy định của Hiệp định GATT 1994 và Hiệp định về
hàng rào kỹ thuật liên quan đến thương mại (TBT) vì vụ việc này tương
tự vụ EC - Sardines. Tuy nhiên để khiếu nại thành công, Chính phủ Việt Nam cần
chú ý đến nghĩa vụ chứng minh. Cụ thể Việt Nam cần phải chứng minh được
rằng có biện pháp phù hợp với quy định của WTO hay biện pháp ít hạn chế
thương mại hơn dễ dàng áp dụng trên thực tế nhưng vẫn đạt được mục đích
mà Mỹ muốn là phân biệt cá catfish nuôi ở Mỹ và cá catfish nuôi ở Việt
Nam, ví dụ như chỉ cần quy định sản phẩm cá catfish nuôi ở Việt Nam
phải ghi nhãn hiệu là “Vietnam Catfish” thay vì phải ghi là “basa” hay
“tra”.
XAVIER GROUSSOT *
NGUYỄN THANH TÚ **
* PGS, TS, Khoa Luật, Đại học Lund, Thụy Điển
** NCS, ThS, Khoa Luật, Đại học Lund, Thụy Điển
Nguồn: Tạp chí Khoa học Pháp lý
A. Desmedt, “Proportionality in WTO Law”, 4 J. Int’l Econ. L. 441, 441-447 (2001); M. Hilf, “Power, Rules and Principles- Which Orientation for WTO/GATT Law?”, 4 J. Int’l Econ. L 111, 120 (2001).
Xem Jacobs,
“Recent Developments on the Principle of Proportionality in European
Community Law”; van Gerven, “The Effect of Proportionality on the
Actions of Member States of the European Community: National Viewpoints
from Continental Law”; and Tridimas, “Proportionality in Community Law:
Searching for the Appropriate Standard of Scrutiny”, in Ellis (eds.), The Principle of Proportionality in the Laws of Europe, Hart, 1999, pp. 1-21, 37-63 & pp. 65-84; Jans, “Proportionality Revisited”, LIEI 2000, pp. 239-265; Snell, “True Proportionality and Free movement of Goods and Services”; EBLR 2000, pp. 50-75.
Ngày
7/10/2003, Việt Nam và các quốc gia thành viên khác của ASEAN đã ký
Tuyên bố Bali II (Bali Concord II), cam kết thành lập Cộng đồng ASEAN
vào năm 2020 trên cơ sở 3 trụ cột: hợp tác về an ninh và chính trị, hợp
tác kinh tế (Cộng đồng Kinh tế ASEAN), và hợp tác về văn hóa - xã hội.
Van Gerven, chú thích số 2, tr. 61.
Xem Snell và Jans, chú thích số 2; Jacobs, chú thích số 2, tr. 1.
Jans, chú thích số 2, tr. 239-265; van Gerven, người tư vấn pháp lý cho ECJ (Advocate General) trong án lệ C-169/89 Gourmetterie [1990] ECR 2143, para. 10.
Emiliou, The Principle of Proportionality in European Law, Kluwer, 1996, tr. 192.
Xem Case C-189/95 Franzén [1997] ECR I-5909, và Case C-67/98 Diego Zenatti [1999] I-7289.
Ví dụ, các thiết chế Cộng đồng có thẩm quyền rộng trong lĩnh vực chính sách nông nghiệp chung (CAP), xem Case 103/77 Royal Scholten-Honig [1978] ECR 2037; Case C-189/01Jippes and Others [2001] ECR I‑5689; Case C-304/01 Spain v Commission [2004] ECR I‑7655; và Case C-535/03 Unitymark [2006]. Liên quan đến việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, xem Cases C-450/03, C-11/04, C-12/04 and C-194/04 ABNA and others [2005].
Case 55/75 Balkan [1976] ECR 19, p. 30; Case C-210/03 Swedish Match [2004] ECR I-11893, para. 48.
Case C-11/00 Commission v. ECB [2003] ECR I-7147, para. 157. Xem thêm Case C-491/01 British American Tobacco and Imperial Tobacco [2002] ECR I-11453, para. 123.
Xem Case C-368/95 Familiapress [1998] ECR I-1028.
AG van Gerven, trong Gourmetterie, chú thích số 6, para. 8. Xem thêm Familiapress, tlđd, para. 1
AG van Germen, trong Case C-312/89 Conforama [1991] ECR I-997, para. 14
Case 104/75 De Peijper [1976] ECR 613, para. 21-22. Xem thêm Case 124/81Commission v. United Kingdom [1983] ECR 203, para. 16.
Case 120/78 Rewe (Cassis de Dijon) [1979] ECR 649 (nguyên tắc lập luận hợp lý); Case 104/75 De Peijper [1976] ECR 613 (tự do di chuyển hàng hóa); Case 33/74 Van Binsbergen[1974] ECR 1299 (tự do cung cấp dịch vụ), and Case 118/75 Watson and Belmann [1976] ECR 1185 (tự do di chuyển lao động).
AG Mischo, trong Case 331/88 Fedesa [1990] ECR I-4023, para. 42.
Case 44/79 Hauer [1979]
ECR 3727, para. 30. Về án lệ này cũng như về thẩm quyền của ECJ, xem
thêm Xavier Groussot và Nguyễn Thanh Tú, “Nguyên tắc quyền tối cao và
thẩm quyền của Tòa án trong pháp luật Châu Âu”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 3 (34), 2006, tr. 43-53.
Case C-280/93 Germany v. Council [1994] ECR I-5039, para. 78.
van Germen trong án lệ Gourmetterie, chú thích số 6, para. 8 &10.
Hauer, chú thích số 18; Case C-169/91 Council of the City of in Stoke-on-Trent [1992] ECR I-6635.