Nhận thức về điều ước quốc tế trong bối cảnh hội nhập
Từ một số điều khoản trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, bài viết chỉ ra sự cần thiết có một số quy định trong việc đàm phán, ký kết và gia nhập điều ước quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và nêu lên một suy nghĩ về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và hệ
thống nội luật trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Liên hệ quá trình thẩm tra Hiệp định Thương mại song phương
Việt Nam – Hoa Kỳ (sau đây gọi tắt là
Hiệp định) với Luật Điều ước quốc tế vừa
được Quốc hội khoá XI thông qua, cho
thấy có mấy vấn đề cần suy nghĩ trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập các
điều ước quốc tế. Đó là:
Vấn đề 1. Về sự ứng xử cần tuân thủ khi nảy
sinh những nội dung trái với quy định của luật pháp hiện hành trong quá trình
đàm phán;
Vấn đề 2. Về sự ứng xử cần tuân thủ đối với
những trường hợp trong quá trình đàm phán song phương có những quy định ràng
buộc chặt hơn hoặc cao hơn những quy định đa phương mà Việt Nam đã tham gia
hoặc đang đàm phán việc tham gia;
Vấn đề 3. Về mối quan hệ giữa điều ước quốc
tế và hệ thống pháp luật quốc gia (hay
nội luật).
I.
Vấn đề 1: Trường hợp
đàm phán có nội dung trái với nội luật. Tại Chương IV của Hiệp định: Phát triển Quan hệ đầu tư, Điều 1,
Khoản 1, đầu tư được định nghĩa
như là mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một Bên do các công dân hoặc công
ty của Bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, bao gồm nhiều hình thức[1].
Những hình thức này bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Luật Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 1987 chỉ quy định hình thức đầu
tư trực tiếp,
cho đến khi có Dự thảo Luật
Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) trình Quốc hội khoá X mới đề xuất mở rộng thêm
hình thức đầu tư gián tiếp. Tuy nhiên, tại
kỳ họp lần thứ 7,
khoá X, tháng 6 năm 2000, sau khi cân nhắc kỹ nhiều mặt rút ra từ các cuộc khủng hoảng tiền tệ
trên thế giới, đặc biệt từ cuộc khủng hoảng năm 1997 xuất phát từ
các nước trong khu vực, Quốc Hội khóa X đã không chấp
thuận bổ sung hình thức đầu tư gián tiếp. Điều đó có nghĩa là quy định trong Hiệp
định mà hai Chính phủ đã ký ngày 13 tháng 7 năm 2000 khác với nội luật, và sự khác biệt này hiển nhiên biết trước lúc ký kết.
Có những khác biệt giữa nội
dung đàm phán với hệ thống nội luật hiện hành là điều dĩ nhiên. Vấn đề là giữa
các cơ quan nhà nước cần có sự bàn bạc, cân nhắc thật
kỹ để có cách xử lý có lợi nhất cho đất nước, kể cả sửa
đổi, bổ sung, ban hành mới
các quy định của hệ thống nội luật. Bởi lẽ, theo Điều 2
của Hiến pháp 1992 (sửa đổi), Nhà nước của chúng ta là một “nhà nước pháp quyền của
dân, do dân
và vì dân”; “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công
và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
II. Vấn đề 2: Nội dung đàm phán song phương cao hơn cam kết đa phương
Ba ví dụ minh hoạ được dẫn ra dưới đây:
II.1. Các biện pháp về đầu tư có liên
quan đến thương mại và Hiệp định TRIMS
Vì lợi ích
quốc gia, chính sách
tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước, nhất là các nước đang phát triển, bao gồm một mặt các chính sách chào
mời cởi mở nhằm thu hút đầu tư, và mặt khác các chính sách điều tiết[2] như: cấp giấy phép đầu tư; kiểm soát sở hữu doanh nghiệp; kiểm soát ngoại tệ, giá cả, và các chính sách đối với hoạt động
doanh nghiệp. Hệ
thống các chính sách này có thể biểu thị tóm tắt trong bảng dưới đây, và được biết đến như là “các
biện pháp về đầu tư có liên quan đến thương mại” (TRIMS):
1. Các chính sách và biện pháp liên
quan đến đầu vào của các công ty đa quốc gia
- Ràng buộc
có nội dung địa phương : Một tỉ lệ nhất định của giá trị gia tăng hay của các
sản phẩm trung gian phải đợc sản xuất tại chỗ.
-
Ràng buộc về thay thế: Phải sử
dụng các sản phẩm địa phơng thay vì nhập khẩu nếu sản phẩm đó trong nớc sản
xuất đợc.
- Giới hạn các trao đổi: Ràng buộc
về nhập khẩu các sản phẩm trung gian;
- Ràng buộc về tham gia vốn : Nước sở tại phải sở hữu một phần vốn
của doanh nghiệp.
- Ràng
buộc về tuyển dụng lao động tại chỗ, cô-ta sử dụng lao động bên ngoài, ngời
địa phơng tham gia quản lý: Doanh nghiệp phải sử dụng một tỉ lệ lao
động địa phơng; ngời địa phơng phải đợc tham gia ở cơng vị quản lý doanh
nghiệp.
-
Ràng buộc về nghiên cứu-phát
triển (R-D): Một phần R-D phải đợc tiến hành tại địa phương;
- Ràng buộc về chuyển giao công nghệ:
Bắt buộc phải chuyển giao trên lãnh thổ tiếp nhận đầu t những công nghệ gần
nhất.
2/ Các chính sách và biện pháp liên quan
đến các sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp
- Ràng buộc
xuất khẩu tối thiểu: Bắt buộc phải xuất khẩu một số lợng tối thiểu sản phẩm
làm ra.
- Ràng buộc
về cán cân thanh toán: Bắt buộc phải có cán cân ngoại thơng cân đối hoặc ddôi.
- Chính sách
dè dặt đối với thị trờng trong nước: Thị trường nội địa được dành cho các
nhà sản xuất trong nước.
- Ràng buộc
về li-xăng: Bắt buộc sản xuất tại địa phơng theo li-xăng.
- Chuyển
giao công nghệ: Bắt buộc phải thông báo công nghệ hàm chứa trong sản phẩm,
v.v...
Năm 1995, các nước thành viên WTO ký kết Hiệp
định TRIMS chấp nhận ràng buộc rằng các biện pháp TRIMS của nước mình phải phù
hợp với GATT (tiền thân của
WTO); các thành viên của tổ chức WTO có ba tháng để khai báo TRIMS của mình cho WTO, có hai năm để loại bỏ các ràng buộc không tương thích với
các quy định của WTO, và thời gian quá độ là năm năm để thực hiện loại bỏ các
ràng buộc.
Trong HĐTM VN – HK,
nội dung Điều 11 về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại lại
có ràng buộc cao hơn WTO (xem
hộp 1)
Hộp 1:
“1.
Phù hợp với các quy định tại khoản 2, không Bên nào được áp dụng bất kỳ biện pháp đầu tư liên
quan đến thương mại nào (sau
đây gọi là TRIMs) không phù hợp
với Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại của WTO. Danh
mục minh họa các TRIMS được quy định tại Hiệp định WTO về TRIMS (sau đây gọi là Danh mục) được nêu tại Phụ lục I của Hiệp
định này. TRIMS trong Danh mục được coi là không phù hợp với Điều này cho dù
chúng được áp đặt trong các luật, quy định hoặc như là điều kiện đối với các hợp đồng hay
giấy phép đầu tư cụ thể.
2. Các Bên đồng ý xoá bỏ toàn bộ
TRIMS (bao gồm các biện pháp quy định trong các luật,
quy định, hợp đồng hoặc giấy phép) được nêu tại mục 2 (a) (các
yêu cầu cân đối thương mại) và mục 2 (b) (kiểm soát ngoại hối đối
với hàng nhập khẩu) của Danh mục vào thời điểm Hiệp định này có hiệu lực.
Việt Nam sẽ loại bỏ toàn bộ
TRIMS khác không muộn hơn năm năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực hoặc vào
ngày được yêu cầu theo qui định và điều kiện Việt Nam gia nhập WTO,
tuỳ thuộc thời điểm nào diễn ra trước.”
Sự ràng buộc cao hơn của
HĐTM VN – HK so với các quy định về quan hệ đầu tư trong hiệp định TRIMS của
WTO thể hiện ở cam kết tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư xuyên biên giới; bao gồm quy chế đối xử tối huệ quốc (MFN), đối xử quốc gia (NT) cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ;
cấm một số hình thức sung công;... ,
những quy định mà người ta có thể tìm thấy trong Dự thảo Hiệp định về đầu
tư đa phương[3]
do Tổ chức OECD soạn thảo từ năm 1995 và đã bị đình hoãn vô thời hạn từ tháng
10 năm 1998 trước sự phản đối gay gắt của xã hội dân sự các nước thành viên
OECD. Một lĩnh vực khác mà các quy định của Hiệp định đi xa hơn của WTO là lĩnh
vực Quyền sở hữu trí tuệ.
II.2.
Quyền sở hữu trí tuệ và Hiệp định TRIPS4 [4]
Từ hai thập kỷ nay,
mức độ, vai
trò, phạm vi về nội
dung và phạm vi về lãnh thổ của việc bảo hộ quyền SHTT đã được mở rộng với một tốc độ chưa từng thấy. Bên cạnh các mặt tích
cực (tôn trọng và trả công cho lao động
trí tuệ, thúc đẩy sáng tạo và khoa học công
nghệ,
...), những diễn biến
từ hai, ba thập kỷ gần đây của hệ thống
luật pháp quốc tế hiện nay về bảo hộ quyền SHTT gây ra nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt đối với các nước nghèo.
Hệ thống
luật pháp quốc tế hiện nay xuất phát từ những đòi hỏi về quyền sở hữu trí tuệ
của các nước đã phát triển. Các nước này hình như “quên” rằng trong một quá khứ cách đây
không xa, vì sự phát triển quốc gia của họ, chính họ cũng đã áp dụng những
điều mà bây giờ họ cấm các nước đang phát triển không được làm.
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),
ngay từ lúc ra đời, đã quy định một số
chuẩn mực chung về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại toàn
cầu thông qua Hiệp định TRIPS . Năm 1995,
các nước đang phát triển đã buộc lòng chấp nhận TRIPS để đổi lấy thị trường
hàng dệt may và nông sản vào các nước đã phát triển 10 năm sau, tức là vào năm 2005, điều mà đến thời điểm hiện nay vẫn còn chưa ngã ngũ.
Những quy định về Quyền sở hữu trí
tuệ, tại Chương II của HĐTM VN – HK còn đi xa hơn
những quy định của TRIPS. Cụ thể,
Chương II đã quy định chí ít những nghĩa vụ bổ sung sau đây không có trong Hiệp
định TRIPS:
• Thời gian bảo hộ quyền tác giả dài hơn,
• Mở rộng bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá sang giấy chứng nhận nhãn
hiệu,
• Nghĩa vụ cung cấp một hệ thống đăng ký nhãn hiệu hàng hoá,
• Nghĩa vụ bảo vệ các tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã
được mã hoá,
• Bảo hộ đối với các dữ
liệu thử nghiệm lâm sàng cho các sản phẩm dược trong ít nhất năm năm, điều sẽ làm tăng giá thuốc.
Hai nội dung trong II.1 và II.2 đề cập trên đây dẫn chúng ta
đến việc cần xem xét mối quan hệ giữa các điều ước song phương và điều ước đa
phương.
II.3.
Điều ước song phương và điều ước đa phương.
Biểu đồ dưới đây cho thấy sự nở rộ của các hiệp định thương
mại, chủ yếu là song phương, đã được ký kết trong 50 năm qua, đặc biệt là sự bùng nổ từ đầu thập niên 1990
đến nay
Có nhiều nguyên nhân dẫn
đến tình hình này, nhưng chủ yếu là do một bên các nước nghèo cần
vốn đầu tư và cần thị trường và một bên khác, các
nước giàu cũng có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài để tìm lợi nhuận cao.
Điều cần nhấn mạnh
trước tiên là trước sức ép của
bên đầu tư, trong các hiệp định song phương về thương mại có
nhiều quy định mang tính ràng buộc cao hơn những quy định của hiệp định TRIMS, của TRIPS và nói chung của WTO. Lấy HĐTM VN – HK làm ví dụ, ta có bảng liệt kê so sánh chưa đầy đủ dưới đây:
|
Vấn đề
|
Quy định trong HĐTM VN – HK so với WTO
|
|
Quyền sở hữu trí tuệ
|
Chương II quy định những nghĩa vụ bổ sung không có trong Hiệp định WTO
TRIPs (Trade Related Aspects of Intellectual
Property Rights) :
• thời gian bảo hộ quyền tác giả dài hơn;
• mở rộng bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá sang giấy chứng nhận nhãn hiệu;
• nghĩa vụ cung cấp một hệ thống đăng ký nhãn hiệu hàng hoá;
• nghĩa vụ bảo vệ các tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hoá;
• bảo hộ đối với các dữ liệu thử nghiệm lâm sàng cho các sản phẩm dược
trong ít nhất năm năm, điều sẽ làm
tăng giá thuốc.
|
|
Biện pháp về
đầu tư
|
Trong Chương IV có nhiều quy định đi xa hơn Hiệp định WTO TRIMS. Các
quy định này nhằm tạo thuận lợi cho đầu tư qua biên giới, và bao gồm dành quy chế tối huệ quốc, quy chế đối xử quốc gia cho các nhà đầu tư
nước ngoài, bảo đảm đối xử công bằng
và bình đẳng, và cầm một số hình thức
truất hữu.
|
|
Biện pháp
bảo vệ
|
Điều 6 cho phép các bên áp dụng các biện pháp hạn chế chống lại các
nhập khẩu của phía bên kia trong trường hợp rối loạn thị trường. Các chuẩn áp
dụng thấp hơn nhiều so với Hiệp định WTO về các biện pháp bảo vệ do vậy có
nguy cơ lớn cho việc lạm dụng bảo hộ.
|
Nguồn: ‘The USBTA and Vietnam’s
WTO Accession’, the US Viet Nam Trade
Council Education Forum, 2003.
Điều cần nhấn mạnh thứ hai là quy chế tối huệ quốc, một quy định cốt lõi của WTO và của các hiệp định thương mại song phương
(HĐTMSP), làm cho giữa
các HĐTMSP và các hiệp định của WTO trên thực tế là một bình thông nhau.
Trong bình thông nhau này,
các HĐTMSP đi tiên phong trong việc các nước đã phát triển áp đặt những điều
kiện ràng buộc ngày càng cao và những ràng buộc này, trước hay sau, sẽ tác
động đến các quy định của WTO. Trong khi chờ đợi,
bên đối tác ở thế thượng phong trong các HĐTMSP yên tâm khai thác các ràng buộc
bổ sung. Dự thảo Hiệp định đa phương về đầu tư không được thông qua ư? Không sao! Nội dung của Dự thảo này vẫn đi
vào thực tế thông qua các HĐTMSP!
Một hệ lụy khác của quy chế tối huệ quốc là các nước
xin gia nhập WTO, nếu trong đàm phán đa
phương với Ban thư ký của WTO làm việc với tập hợp các quy định của WTO (ký hiệu {WTO}),
thì trong đàm phán song phương, phải
thương lượng trên cơ sở các yêu sách bằng hoặc cao hơn những quy định của
HĐTMSP ({HĐTMSP }+), nghĩa là trong các trường hợp đó, phải thương lượng trên cơ sở ({WTO}+}+).
Tóm lại, qua ba ví dụ
trên đây, vấn đề 2 cũng chỉ ra sự cần
thiết, vì lợi ích quốc gia, cần có sự trao đổi giữa các cơ quan nhà nước
trong quá trình đàm phán song phương,
mỗi khi có những quy định ràng buộc hơn,
cao hơn những quy định đa phương mà Việt Nam đã tham gia hoặc
đang đàm phán việc tham gia, để tìm
phương án tốt nhất, có lợi nhất cho đất
nước.
III.
Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia
Nhiều bài viết đã thảo luận về mối quan hệ trật tự giữa điều
ước quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia,
dẫn ra quy định của nhiều nước, nhất là
các nước theo hệ thống luật pháp La -Tinh (hay
thành văn) như Cộng hòa Pháp về vấn đề
này (Xem hộp 2).
Hộp
2: Các Điều 54 và 55, Mục VI, Hiến pháp Cộng hoà
Pháp:
Điều 54: Nếu Hội đồng Hiến pháp, được Tổng thống,
Thủ tướng, Chủ tịch của một trong hai Viện hoặc sáu mươi hạ nghị sĩ
hoặc sáu mươi thượng nghị sĩ triệu tập, tuyên bố rằng một cam kết
quốc tế chứa đựng một điều khoản trái với Hiến pháp,
thì việc cho phép phê chuẩn hay thông qua cam kết quốc tế đó chỉ có thể được
thực hiện sau khi sửa đổi Hiến pháp.
Điều 55: Các hiệp ước hoặc hiệp định được phê chuẩn hay thông qua, kể
từ lúc được công bố, có ưu tiên cao hơn các luật,
với điều kiện, đối với mỗi hiệp ước hay hiệp định,
được phía Bên kia thực hiện.
Chúng tôi cho rằng cách đặt vấn đề như vậy là đúng theo yêu
cầu của tư duy lôgíc. Quan trọng hơn, nó
thể hiện sự quan tâm đến chủ quyền quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa và còn
thể hiện tinh thần trách nhiệm của một nhà nước khi đã quyết định hội nhập với
thế giới và muốn thể hiện tính đáng tin cậy của nhà nước đó như là một bên đối
tác.
Xin góp vào cuộc thảo luận bằng việc dẫn một Điều của HĐTM VN
– HK, Điều 8, Điều khoản cuối cùng,
hiệu lực, thời hạn, đình chỉ và kết thúc, Chương VII, Những
điều khoản chung.
Điều này
quy định:
“Nếu một trong hai Bên không có thẩm quyền pháp
lý trong nước để thực hiện nghĩa vụ của mình theo hiệp định này thì một
trong hai Bên có thể đình chỉ việc áp dụng Hiệp định này; hoặc bất kỳ bộ phận nào của hiệp định này, kể cả quy chế tối huệ quốc, với sự
thoả thuận của Bên kia. Trong trường hợp đó, các Bên sẽ tìm cách, ở mức độ tối
đa có thể theo pháp luật trong nước, để giảm đến mức độ tối thiểu những tác động bất lợi đối với quan hệ
thương mại sẵn có giữa các Bên”
Điều này cho thấy phía đối tác Hoa Kỳ không đặt vấn đề như
chúng ta đang bàn luận. Còn nếu phải sắp xếp theo một quan hệ trật tự thì qua
văn bản, phải chăng HĐTM VN - HK không chi phối nội luật của Hoa
Kỳ, mà ngược lại?
Để kết thúc, chúng tôi
cho rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay,
các cơ quan nhà nước của ta cần tham khảo nhau,
phối hợp chặt chẽ với nhau hơn nữa trong đàm phán,
ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế, vì chủ quyền và lợi ích quốc gia, đúng như quy định trong Điều 2 của Hiến
pháp. Đây cũng là xu thế chung của ngày càng nhiều nước trên thế giới. /.
(Bài viết đăng trên TCNCLP số
53, tháng 6/2005)
Nguyễn Ngọc Trân (nclp.org.vn)
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật:
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------