Những điều kiện cần cho phản biện xã hội
Vài năm gần đây, vấn đề phản biện xã hội đã được nêu lên khá nhiều trong các cuộc thảo chính thức hoặc không chính thức trong giới trí thức Việt Nam. Đa số đều cho rằng hoạt động này là cần thiết và cần được tạo điều kiện để phát triển, tuy nhiên câu hỏi vì sao hoạt động phản biện xã hội tại Việt Nam còn yếu… vẫn chưa được trả lời một cách thấu đáo. Bài viết này là một cố gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên.
1. Phản biện xã hội yếu vì thiếu văn hóa tranh luận
Theo chúng tôi vấn đề mấu chốt của phản biện xã hội không hệ tại ở việc có
hay không có những hành lang pháp lý cho vấn đề này, mà vấn đề cơ bản hơn đó là
vì trong xã hội chưa hình thành được một nền văn hóa tranh luận, tức là xã hội
hiện nay chưa tạo ra được những cá nhân – tức các thành viên cơ bản của xã hội
– những nền tảng cần thiết để thực hiện các cuộc tranh luận, cũng như chưa có
một cấu trúc xã hội tạo cơ hội cho sự tranh luận và phản biện được diễn ra.
Trước hết chúng ta hãy cùng nhìn vào thiết chế gia đình. Xét về mặt xã hội
học, gia đình là thiết chế quan trọng đầu tiên trong quá trình xã hội hóa
(socialization) cá nhân hiểu theo nghĩa xã hội học của khái niệm này. Theo
nghĩa xã hội học thì xã hội hóa là quá trình cá nhân được đào luyện để có thể sống
và trở thành một thành viên hợp chuẩn trong xã hội, đứa "trẻ sói" là
đứa trẻ không thể sống được trong xã hội loài người vì nó không được trải qua
quá trình học làm con người để sống trong xã hội loài người. Cũng vì vậy mà văn
hóa tranh luận của mỗi cá nhân trước hết cũng phải được đào luyện, được học từ
trong bối cảnh gia đình, thế nhưng kiểu giáo dục con cái của đa số gia đình
Việt Nam hiện nay lại gần như không trang bị cho cá nhân những phẩm chất cần
thiết cho nền văn hóa này. Thật vậy trong bối cảnh gia đình Việt Nam hiện nay,
mối quan hệ giữa cha mẹ-con cái là mối quan hệ giữa kẻ "thống trị"
(dominant), tức cha mẹ và kẻ "bị trị" (dominé), tức con cái chứ không
phải mối quan hệ giữa những chủ thể (actors) có sự độc lập và tự chủ cá nhân.
Chính vì là mối quan hệ thống trị-bị trị nên cha mẹ thường chỉ giáo dục cho con
cái những phẩm chất của kẻ tiếp nhận mệnh lệnh, kẻ chỉ biết vâng lời và thực
hiện chứ hoàn toàn không phải là người có chủ kiến riêng nên họ cũng không bao
giờ hé lộ những khả năng cho sự đối thoại hay sự tranh luận của con cái.
Rời gia đình, đứa trẻ gia nhập vào trong môi trường học đường và nơi đây đứa
trẻ lại tiếp tục phải sống trong thân phận của kẻ bị trị, và người thống trị ở
môi trường này chính là những thầy cô giáo của các em. Thật vậy trong nhiều năm
qua, trường học gần như chỉ là nơi truyền thụ kiến thức một chiều mà trong đó
thầy cô là những người nắm giữ chân lý và ban phát chân lý trong khi học sinh
chỉ là kẻ tiếp nhận thụ động. Trường học Việt Nam gần như không trang bị bất cứ
kỹ năng tranh luận nào cho người học cả, đồng thời cũng không mở ra các cơ hội
tranh luận cho người học vì sách giáo khoa được xem là "pháp lệnh",
mà đã là pháp lệnh thì không còn gì để tranh luận nữa mà chỉ cần học thuộc mà
thôi. Mặc dù chúng ta đã nói tới lối giáo dục "lấy người học làm trung
tâm" nhưng gần như đó chỉ là lý thuyết còn trên thực tế thì người thầy vẫn
là trung tâm nên sự tranh luận giữa thầy và trò gần như là không hiện diện.
Khi gia đình và nhà trường không hề trang bị cho cá nhân những phẩm chất cần
thiết để tranh luận nên chỉ có thể tạo ra được những cá nhân chỉ biết tuân lệnh
trong quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước mà cụ thể là các cơ quan công quyền.
Mặc dù chúng ta nói dân làm chủ nhưng thực tế trong mối quan hệ dân-quan hiện
nay, người làm chủ là quan chứ không phải là dân, bởi khi đến với các cơ quan
công quyền người dân không có quyền "yêu cầu" mà chỉ được quyền
"xin" mà thôi. Xin như thế nào cũng phải theo đúng khuôn mẫu do người
cho (quan) qui định và quan cho bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu chứ hoàn toàn
không được tranh luận tại sao với quan.
Như vậy có thể thấy là vì một thời gian dài chúng ta không hề đào tạo cho
các cá nhân trong xã hội những phẩm chất để tranh luận, những cơ hội để tranh
luận thì làm sao hình thành và phát triển được sự phản biện xã hội. Tuy nhiên
nếu chúng ta tạo ra được những cá nhân biết tranh luận thì điều kiện thứ hai để
phản biện xã hội có thể xảy ra đó là phải có mô hình xã hội phù hợp.
2. Phản biện xã hội và mô hình xã hội
Để phản biện xã hội có thể xảy ra thì phải có mô hình xã hội phù hợp, tức là
mô hình xã hội mà ở đó quyền lực xã hội được phân tán cho nhiều thực thể khác
biệt nhau chứ không chỉ tập trung duy nhất vào trong tay một thực thể nào.Trong mô hình xã hội có quyền lực phân tán, sẽ có nhiều thực thể cùng nắm quyền
lực vừa độc lập nhưng cũng vừa chế định lẫn nhau để không một thực thể nào có
thể tự mình quyết định mọi chuyện trong xã hội. Đồng thời các thực thể này đều
phải chịu sự chi phối của thiết chế cao nhất đó là thiết chế pháp luật. Như vậy
mô hình xã hội với quyền lực phân tán chỉ có thể có trong một Nhà nước pháp
quyền thực sự, và vì vậy, chỉ trong Nhà nước pháp quyền thì sự phản biện mới có
thể diễn ra. Ở đây cũng cần lưu ý là với mô hình Nhà nước pháp quyền "danh
nghĩa" thì sẽ không thể có phản biện xã hội bởi trong mô hình Nhà nước
pháp quyền danh nghĩa, quyền lực tối thượng, xét cho cùng, cũng chỉ tập trung
trong tay một thực thể "ưu tuyển" (elite) nào đó mà thôi và do đó, sự
phản biện xã hội nếu có diễn ra thì cũng hết sức hạn chế bởi điều này phụ thuộc
vào mức độ "cởi mở" của thực thể ưu tuyển trong xã hội.
Như vậy để văn hóa tranh luận và sự phản biện xã hội thì bên cạnh những phẩm
chất cần thiết của cá nhân thì còn phải có mô hình tổ chức xã hội phù hợp để
cho tranh luận và phản biện được diễn ra nữa. Và cái mô hình xã hội đó đã từng
được nhà chính trị học, tư tưởng gia người Pháp là Charles de Montesqieu
phát họa.
3. Phản biện xã hội và xã hội dân sự
Có thể nói ngay rằng tại nước ta hiện nay chưa có xã hội dân sự đúng nghĩa
của từ này và đây là nguyên nhân thứ ba làm cho văn hóa tranh luận hay sự phản
biện xã hội không được hình thành. Theo cách hiểu được khá nhiều người đồng
thuận thì xã hội dân sự là một không gian độc lập tồn tại bên cạnh Nhà nước và
thị trường và vì vậy muốn có được nền văn hóa tranh luận hay sự tranh luận thì
xã hội dân sự cần phải có sự độc lập của nó. Ở nước ta hiện nay có rất nhiều
đoàn thể, hiệp hội mà xét về tính chất thì thuộc xã hội dân sự nhưng thực tế
thì lại cũng thuộc về Nhà nước và tùy phụ vào Nhà nước, tức chúng ta chưa có
một không gian xã hội dân sự đúng nghĩa. Nói như vậy là bởi gần như mọi tổ chức
hiệp hội, đoàn thể hiện nay đều phải có một cơ quan chủ quản thuộc Nhà nước
quản lý và bổ nhiệm nhân sự và vì vậy, những đoàn thể hay hiệp hội ấy thực chất
là những "cánh tay nối dài" của Nhà nước chứ không phải thuộc xã hội
dân sự. Khi không có xã hội dân sự đúng nghĩa thì thật khó mà có tranh luận hay
phản biện bởi thực chất của phản biện xã là sự đối thoại giữa các thành phần có
sự độc lập của riêng mình chứ không thể là sự đối thoại giữa những thành phần
"cùng ruột" với nhau.
Như vậy có thể thấy vấn đề của phản biện xã hội không chỉ nằm ở hành lang
pháp lý (cho phản biện hay không) hay ở vấn đề kỹ thuật (có lắng nghe hay
không) mà nằm ở cấu trúc của xã hội và nền giáo dục xã hội có thúc đẩy cho sự
phản biện, văn hóa tranh luận hay không mà thôi.
SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG - LÊ MINH TIẾN
Trích dẫn từ:
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&CategoryID=3&News=2797