Những giấy tờ nào chứng minh đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam?
Theo quy định tại Điều 66 của Nghị định 71/2010/NĐ-CP, những giấy tờ chứng minh đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam được quy định như sau:
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại
Việt Nam theo quy định tại Điều 1 của Luật số 34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung
Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai phải có các giấy tờ sau
đây để chứng minh về đối tượng:
a) Đối với người có quốc tịch Việt Nam thì phải có hộ chiếu
Việt Nam còn giá trị; trong trường hợp mang hộ chiếu nước ngoài thì phải có một
trong các giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật về quốc tịch;
b) Đối với người gốc Việt Nam thì phải có hộ chiếu nước
ngoài kèm theo giấy tờ xác nhận là người gốc Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam cấp để chứng minh có gốc Việt Nam.
2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng
dưới đây thì có quyền sở hữu (không hạn chế số lượng nhà ở tại Việt Nam) thông
qua hình thức mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, đổi nhà ở hoặc được nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án phát triển nhà ở của các doanh nghiệp
kinh doanh bất động sản (đối với dự án tại các khu vực được phép chuyển nhượng
quyền sử dụng đất dưới hình thức bán nền theo quy định của pháp luật về đất
đai) để người mua xây dựng nhà ở cho bản thân và các thành viên trong gia đình tại Việt Nam:
a) Các đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này nhưng
phải thuộc một trong các diện:
- Người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về
đầu tư có Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;
- Người có công đóng góp với đất nước, bao gồm: người được
hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách
mạng có giấy tờ chứng minh được hưởng chế độ ưu đãi do cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam cấp; người có thành tích đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân
tộc, xây dựng đất nước được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương,
được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; người tham gia vào Ban Chấp hành các
tổ chức chính trị - xã hội của Việt Nam; của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ cấp
tỉnh trở lên được các tổ chức này xác nhận; người được bầu vào Ban Chấp hành
Trung ương hội, người là nòng cốt các phong trào, tổ chức của kiều bào có quan
hệ với trong nước và người có những đóng góp, giúp đỡ tích cực cho các cơ quan
đại diện hoặc các hoạt động đối ngoại của Việt Nam ở nước ngoài được Ủy ban Nhà
nước về người Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt
Nam ở nước ngoài xác nhận;
- Nhà văn hóa, nhà khoa học, bao gồm: người được phong học
hàm, học vị về khoa học, giáo dục, văn hóa – nghệ thuật, thể dục – thể thao của
Việt Nam hoặc của nước ngoài, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế - xã hội
đang làm việc tại Việt Nam. Các đối tượng này phải được lãnh đạo Đảng, Nhà
nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng các trường đại học, cao đẳng, học viện,
viện nghiên cứu của Việt Nam mời về làm chuyên gia, cộng tác viên, giảng dạy và
có xác nhận của cơ quan, tổ chức mời về việc đối tượng này đang làm việc tại cơ quan, tổ chức đó;
- Người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt có giấy xác nhận về
chuyên môn, kỹ năng của hiệp hội, hội nghề nghiệp Việt Nam hoặc của cơ quan cấp
Bộ phụ trách lĩnh vực chuyên môn, kỹ năng kèm theo giấy phép hành nghề chuyên
môn tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (đối với trường hợp
pháp luật yêu cầu phải có giấy phép hành nghề) hoặc Giấy phép lao động do cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (đối với trường hợp pháp luật không yêu cầu
phải có giấy phép hành nghề);
- Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở
trong nước có giấy tờ chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
hoặc của nước ngoài cấp kèm theo hộ khẩu thường trú và giấy chứng minh nhân dân
của một bên vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam ở trong nước.
Đối với trường hợp có các giấy tờ do nước ngoài cấp thì phải
dịch ra Tiếng Việt và có chứng nhận của cơ quan công chứng của Việt Nam.
3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài gốc Việt Nam nhưng
không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này nếu có giấy tờ
quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và Giấy miễn thị thực do cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam cấp thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ
chung cư tại Việt Nam.
Trường hợp đối tượng này đang có sở hữu nhà ở tại Việt Nam
mà được thừa kế hoặc được tặng cho nhà ở khác thì chỉ được chọn sở hữu một nhà
ở; đối với nhà ở còn lại thì được quyền tặng cho hoặc bán cho các đối tượng
thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam để hưởng giá trị theo quy định tại Điều 72 của Nghị định này.
(SUN LAW FIRM)