Những “người trong cuộc” nói về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, lãnh đạo các doanh nghiệp FDI tiêu biểu, đại diện cho các doanh nghiệp đạt Giải thưởng Rồng Vàng 2008, đã tham gia buổi giao lưu trực tuyến cùng độc giả VnEconomy, diễn ra từ 14 giờ đến 17 giờ hôm nay, thứ Sáu, ngày 9/1/2009.
Năm 2008, đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã đạt kỷ lục cả về vốn đăng ký, vốn giải
ngân, quy mô trung bình một dự án... Những thành tích của các doanh
nghiệp FDI về đóng góp cho ngân sách nhà nước, cho xuất khẩu, giải quyết
việc làm càng làm nổi bật hơn nữa vai trò của các doanh nghiệp FDI đối
với sự phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ít
nhiều đã tác động đến đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, khiến tốc độ tăng
vốn đăng ký đang giảm sút. Về phía các doanh nghiệp, một số, do tồn kho
hàng hóa lớn, đã phải giảm sản lượng, giãn công, giảm bớt lao động, cắt
giảm chi tiêu...
Những
khó khăn trong sản xuất kinh doanh có thể còn “đậm nét” hơn trong năm
2009, khi những nhận định lạc quan nhất cũng chỉ dừng lại ở mức đánh giá
tăng trưởng được như năm 2008. Và những tác động từ bên ngoài đối với
các doanh nghiệp nói chung và FDI nói riêng vẫn còn là ẩn số.
Nhìn
vào mặt tích cực, năm 2009 Việt Nam sẽ mở cửa nhiều hơn với thế giới,
các ràng buộc về thương mại và đầu tư sẽ giảm bớt, tạo cơ hội cho các
doanh nghiệp tiếp cận với thị trường rộng lớn hơn. Nhưng ngược lại, đây
cũng là thời điểm đầy thử thách đối với những “tay lái” FDI khi đưa
doanh nghiệp vượt “bão” khủng hoảng.
Với
chủ đề “Đầu tư nước ngoài: Vận hội và thách thức”, buổi giao lưu trực
tuyến có mục tiêu nhìn nhận rõ nét hơn những bước đường FDI tại Việt Nam
vừa qua, nhìn nhận lại những được, mất, và đánh giá những thách thức
còn ở phía trước. Buổi giao lưu được tổ chức trước thềm lễ trao giải
thưởng Rồng Vàng dành cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, diễn ra vào
vào sáng thứ Bảy (10/1/2009) tại Nhà hát lớn Hà Nội.
Tham
gia buổi giao lưu hôm nay là các diễn giả là chuyên gia kinh tế, đại
diện cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài và lãnh đạo các doanh nghiệp FDI
tiêu biểu:
- Ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài;
- Ông Ken Peng, Chuyên gia phân tích, Tập đoàn Citi (tại Singapore);
- Ông Takashi Fujii, Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Life Việt Nam;
- Ông Michael Pease, Tổng giám đốc Công ty Ford Việt Nam;
- Ông Colin Tan, Tổng giám đốc Fraser Suites Hanoi;
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu những nội dung chính của cuộc giao lưu trực tuyến:
Lê Hữu Huân:
Đầu
năm 2007, Dai-ichi Life mua lại Công ty Bảo hiểm Bảo Minh CMG. Xin hỏi
ông Takashi Fujii, đến thời điểm này ông có thể đánh giá lại kết quả của
thương vụ trên?
Ông Takashi Fujii:
Thương
vụ này nói chung rất thành công. Tốc độ tăng trưởng trong 2 năm qua của
Dai-ichi Life Việt Nam đạt khoảng 30% cho doanh thu khai thác mới. Đội
ngũ tư vấn tài chính từ hơn 5.000 nhân viên nay đã tăng trên 7.000.
Chúng tôi cũng đã mở rộng mạng lưới với trên 52 văn phòng trên toàn
quốc.
Thanh Lê:
Năm
2009, các doanh nghiệp FDI đã có kịch bản ứng phó với khả năng kinh tế
Việt Nam sẽ khó khăn hơn chưa? Sự ứng phó đó sẽ như thế nào?
Ông Colin Tan:
Về
mặt kinh doanh, chúng tôi dự định cắt giảm chi phí nhưng vẫn tiếp tục
các chiến dịch quảng cáo và tiếp thị và các kế hoạch nâng cao chất lượng
dịch vụ vẫn được thực hiện.
Mọi
người đều đang xem xét đến giá cả và giá thành nên chúng tôi cũng sẽ
rất cân nhắc thận trọng các mức giá của chúng tôi để đáp ứng đúng nhu
cầu của thị trường.
Ông Michael Pease:
Năm
nay có lẽ sẽ còn có nhiều khó khăn hơn năm ngoái. Chúng ta chưa rõ
những tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu tới Việt Nam sẽ đến đâu và
chúng ta còn chưa thể biết người tiêu dùng Việt Nam nhìn nhận nền kinh
tế nói chung như thế nào.
Trong
tình hình này, chiến lược của chúng tôi là xây dựng kế hoạch kinh doanh
thận trọng và tiếp tục đem tới những sản phẩm có giá trị tốt nhất phù
hợp với nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam.
Chúng
tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ các nhà phân phối và người tiêu dùng thông qua
mức giá cạnh tranh, các sản phẩm được nâng cấp, và cải thiện mức độ hài
lòng của khách hàng.
Trần Lê Anh Tú:
Xin
gửi ông Colin Tan một số câu hỏi như sau: thị trường bất động sản Việt
Nam đang ở giai đoạn khó khăn, Fraser Suites có kế hoạch mở rộng đầu tư
trong thời gian tới không? Tham gia đầu tư vào Việt Nam, đâu là những
khó khăn mà công ty ông gặp phải? Giá bất động sản Việt Nam (tại Hà Nội
và Tp.HCM) hiện nay đã hợp lý chưa?
Ông Colin Tan:
Fraser Suites vẫn có những khoản đầu tư ở Hà Nội và Tp.HCM.
Tôi
nghĩ rằng những nhà đầu tư khác vẫn nên tiếp tục đầu tư vì đây là thời
điểm tốt để đầu tư vì giá thành xây dựng và giá đất đang xuống thấp. Hai
ba năm sau thị trường đã đổi khác và khi đó có thể bán và cho thuê
những căn nhà đã xây.
Tất
nhiên, việc này phải gắn liền với khả năng tài chính của bạn, vì các
khoản vay ngân hàng trở nên khó khăn và mọi người cảnh giác hơn với các
quyết định đầu tư.
Hoàng Trung:
Năm
2008, thị trường tài chính Việt Nam gặp nhiều khó khăn, trong đó có thị
trường bảo hiểm. Xin cho biết kết quả kinh doanh của Dai-ichi Life Việt
Nam trong năm này?
Ông Takashi Fujii:
Thị
trường tài chính và bảo hiểm Việt Nam năm qua gặp rất nhiều khó khăn và
Dai-ichi Life Việt Nam cũng không thể tránh khỏi những ảnh hưởng nhất
định.
Tuy
nhiên, với vốn đầu tư tăng lên 72 triệu USD, Dai-ichi Life Việt Nam có
điều kiện thuận lợi để phát triển bền vững và lâu dài tại thị trường
Việt Nam.
Trong
suốt thời gian qua, chúng tôi đã tạo được dấu ấn về một doanh nghiệp
bảo hiểm nhân th��� không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ và đóng góp
tích cực cho cộng đồng. Trong năm 2008 vừa qua,Dai-ichi Life Việt Nam đã
hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đã đề ra của năm và đạt tốc độ tăng trưởng
khai thác mới gần 30%. Chúng tôi tin tưởng rằng thị trường bảo hiểm
nhân thọ sẽ phát triển hơn nữa trong năm 2009 này.
Trịnh Hoàng Hạnh:
Khó
khăn mà ngành ôtô thế giới nói chung phải đối mặt trong năm 2008 là rất
lớn, mà Ford là một trong những cái tên được nhắc đến nhiều nhất. Tôi
muốn biết quan điểm của ông Michael Pease về tình hình của ngành công
nghiệp ôtô hiện tại?
Ông Michael Pease:
Chào bạn,
Hiện
trên thế giới, ngành công nghiệp ô tô là một trong những ngành bị ảnh
hưởng nhiều nhất bởi khủng hoảng tài chính. Ngành này phụ thuộc nhiều
vào niềm tin của người tiêu dùng cũng như thị trường tín dụng.
Thị
trường ôtô ở các nước đang trải qua sự sụt giảm mạnh mẽ trong vòng 3- 4
tháng trở lại đây. Tất cả các hãng đều bị ảnh hưởng, đặc biệt là ba
hãng lớn nhất ở Mỹ (GM, Ford, Chrysler).
Tại
Ford, dưới sự lãnh đạo của CEO Allan Mullaly, chúng tôi đã có một kế
hoạch phục hồi sản xuất kinh doanh lớn và chúng tôi đã bắt đầu nhận thấy
những kết quả ban đầu của kế hoạch. Trong mấy tháng gần đây, Ford đã
giới thiệu một số sản phẩm mới có khả năng tiết kiệm nhiên liệu và an
toàn hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh khác.
Tại
Việt Nam, ngành ôtô cũng chịu tác động mạnh từ khủng hoảng nhưng chúng
tôi vẫn tự tin vào tương lai tươi sáng ở đây. Tôi tin rằng, trong bối
cảnh kinh tế khó khăn, người tiêu dùng sẽ có phản hồi tích cực hơn trước
những dòng xe có chất lượng cao, tiết kiệm nhiên liệu và đáng đồng
tiền.
Tô Huy Tiến:
Fraser
Suites tại Việt Nam hình như chỉ chú trọng vào mảng căn hộ và văn phòng
cao cấp, dịch vụ cao cấp. Tôi thấy đây cũng là điểm chung của những nhà
đầu tư bất động sản khác của nước ngoài. Vì sao như vậy, hay là các
mảng khác không hấp dẫn?
Ông Colin Tan:
Chào bạn. Lý do là vì ở các phân khúc thị trường khác đã có nhiều nhà đầu tư rồi.
Fraser
Suites Hà Nội là nhà đầu tư duy nhất ở Hà Nội hiện nay cung cấp dịch vụ
tòa nhà căn hộ dịch vụ cho thuê được quản lý quốc tế.
Tôi
muốn giải thích đôi chút về quản lý quốc tế. Chúng tôi có hệ thống quản
lý xuyên suốt Tập đoàn Fraser Suites toàn cầu. Như vậy là Fraser Suites
ở Nhật hay Úc hay Thượng Hải hay Paris có thể nhận đăng ký dịch vụ cho
khách đến Fraser Suites Hà Nội. Các dịch vụ của chúng tôi cũng theo tiêu
chuẩn vàng quốc tế (Gold Standard) trong lĩnh vực này.
Nguyễn Đức Cường:
Theo
các diễn giả, Việt Nam có những yếu tố nào hạn chế việc thu hút đầu tư
nước ngoài? Tôi thấy nhiều nhà đầu tư vẫn thường ca ngợi về sự hấp dẫn,
triển vọng nhưng thực tế không chỉ như vậy.
Ông Colin Tan:
Trong
lĩnh vực bất động sản, tôi nghĩ rằng rất khó tìm và thuê được những
mảnh đất ở vị trí đẹp ở Hà Nội. Chính phủ quản lý rất nhiều đất ở vị trí
đẹp và không cho thuê. Điều này nên được thay đổi.
Ngoài ra, chính sách hạn chế về khả năng phát triển dịch vụ trên cùng một mảnh đất cũng nên được thay đổi.
Ông Michael Pease:
Trước
hết, trong năm 2008, các nhà đầu tư vẫn rất quan tâm tới Việt Nam. Dân
số của Việt Nam phần lớn là trẻ, vị trí địa lý của Việt Nam rất tốt, và
chính sách của Chính phủ Việt Nam nhìn chung là hỗ trợ lĩnh vực FDI rất
tốt.
Cản
trở lớn nhất đối với việc thu hút đầu tư là cơ sở hạ tầng của Việt Nam
còn kém phát triển. Mức độ quan liêu của hệ thống hành chính Việt Nam
còn cao hơn so với ở một số nước láng giêng như Thái Lan. Ở một số lĩnh
vực, các nhà đầu tư đang lo ngại về bất ổn nhân sự ở một số ngành cần
nhiều nhân công như ở ngành dệt may, da giày...
Nhìn chung, tôi cho rằng, cơ sở hạ tầng còn yếu kém vẫn là rào cản FDI lớn nhất ở Việt Nam.
Đối
với ngành ôtô, thách thức lớn nhất là sự thiếu nhất quán trong chính
sách của Chính phủ, nhất là chính sách thuế. Năm 2007-2008, chúng ta đã
chứng kiến chính sách thuế thay đổi nhiều lần. Trong năm nay, thuế tiêu
thụ đặc biệt sẽ bị điều chỉnh mạnh.
Sự
thay đổi thường xuyên này khiến chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trong
việc lên kế hoạch sản xuất kinh doanh và tăng cường đầu tư đối với Việt
Nam, cũng như vấn đề nội địa hóa.
Đỗ Việt Tùng:
Các ông có đánh giá gì về chính sách tiền tệ của Việt Nam trong thời gian qua?
Ông Ken Peng:
Để
bù đắp cho nguy cơ tăng trưởng chậm lại quá mức, Chính phủ đang toàn
lực tiến hành nới lỏng các chính sách. Ngân hàng nhà nước (SBV) đã thực
hiện giảm lãi suất cơ bản 5 lần trong vòng 2 tháng đưa mặt bằng lãi suất
VND giảm từ 14% xuống 8,5%.
Lãi
suất trái phiếu và cho vay cũng giảm. Sự gấp gáp trong nới lỏng chính
sách tiền tệ có thể nhằm mục tiêu ngăn chặn sự tăng cao của nợ quá hạn.
Điều
may mắn là tình hình lạm phát ở Việt Nam đang đi đúng hướng. Chỉ số CPI
âm trong các tháng 10, 11, 12/2008 đã tạo ra lo ngại về nguy cơ giảm
phát.
Tỷ
lệ lạm phát của Việt Nam có thể giảm xuống dưới 10% vào giữa năm 2009
nhưng những yếu tố như: giá thực phẩm, xăng dầu và vật liệu xây dựng…có
thể sẽ là những yếu tố làm tăng lạm phát trở lại.
Chừng
nào mà việc phân bổ vốn kém hiệu quả, Việt Nam vẫn phụ thuộc vào nhập
khẩu và nguồn vốn nước ngoài cộng với giá cả trong nước vẫn tiếp tục
biến động thì lạm phát có thể lại trở thành mối đe dọa chính đối với
phát triển kinh tế của Việt Nam trong năm tới.
Trong
ngắn hạn, nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ không có khả năng khuyến khích
vay vốn, vì tăng trưởng tín dụng trong nước đã hầu như ngừng lại do mức
độ lo sợ rủi ro tăng cao ở các ngân hàng.
Ở
thời điểm này, nới lỏng chính sách tiền tệ có vẻ như chỉ làm trì hoãn
việc hoàn trả các khoản nợ xấu tại các ngân hàng, với tỷ lệ nợ quá hạn
ước tính lên đến từ 20% đến 40% tổng vốn cho vay của các ngân hàng.
Vì
vậy, các chính sách tài chính nên tập trung vào việc giảm nợ xấu và
tăng tính trách nhiệm. Trong quá trình thực hiện, Chính phủ có thể cần
phải chịu một phần khoản thiếu hụt ngân sách.
Những
kế hoạch mở rộng ngân sách đã được bắt đầu tại Việt Nam. Nhưng không
giống Trung Quốc, khả năng ngân sách của Việt Nam bị giới hạn bởi những
khoản chi dự phòng, ví dụ như hệ thống ngân hàng và trợ cấp cho người
nghèo trong thời kỳ kinh tế bị suy giảm.
Sự
sụt giảm giá dầu và các mặt hàng tiêu dùng khác đang làm giảm bớt một
số sức ép đối với ngân sách. Hơn nữa, đầu tư của Chính phủ có thể sẽ làm
tăng thâm hụt thương mại vì nó làm tăng nhập khẩu thay vì xuất khẩu.
Đồng
VND đang cho thấy sự biến chuyển vượt quá tiêu chuẩn trong những tháng
gần đây và tiếp tục được kinh doanh ở đỉnh biên độ ngay cả sau khi mở
rộng biên độ.
Mặc
dù thâm hụt thương mại đã thu hẹp, viễn cảnh nhu cầu bên ngoài xấu đi
và khả năng nguồn vốn FDI cạn bớt đang gây nghi ngại đối với cán cân
thanh toán.
Vì
vậy, chúng tôi tiếp tục cho rằng đồng VND sẽ giảm giá so với USD, mặc
dù tình hình lạm phát giảm đi có thể hạn chế mực độ giảm giá này.
Lê Anh Đông:
Vừa
qua, lãi suất ngân hàng liên tục giảm. Có ý kiến cho rằng, việc giảm
lãi suất lần này có khi lại là “liều thuốc độc” cho thị trường bất động
sản vì lại tạo cơ hội cho nhiều nhà đầu cơ quay lại thị trường, từ đó
lại tạo nên tình trạng đẩy giá, bong bóng như mấy năm trước. Ý kiến của
Fraser Suites thế nào?
Ông Colin Tan:
Nhìn
chung tôi thấy thị trường bất động sản ở Việt Nam vẫn rất tiềm năng và
chưa phải ở giai đoạn bong bóng. HIện nay, lãi suất đang giảm nhưng
trước đây lãi suất đã tăng rất mạnh khiến nhiều nhà đầu tư nhỏ không
chịu nổi.
Tôi
nhìn thấy nhà đầu tư trên thị trường chia thành 2 nhóm riêng và có
những hành động khác nhau. Nhà đầu tư lớn từ nước ngoài với nguồn vốn
vững vàng thì vẫn tiếp tục các dự án của họ dù lãi suất trong nước tăng
hay giảm. Họ cũng tiếp tục giữ giá các sản phẩm của họ.
Trong
khi đó, các nhà đầu tư nhỏ trong nước hoặc phải dựa vào nguồn vốn trong
nước thì rất nhạy cảm với những thay đổi lãi suất và họ là nhóm bị ảnh
hưởng nhiều nhất trong tình hình này.
Vũ Văn Đức:
Công
ty chúng tôi là đại diện cho 9 tập đoàn đầu tư Mỹ, Canada và Châu Âu
tại Việt Nam. Năm 2009 các tập đoàn này dự định đầu tư vào Việt Nam 36
tỷ USD bao gồm cảng biển, tàu cao tốc Bắc Nam, trường đại học quốc tế.
Nhưng thực sự thủ tục của các cơ quan Bộ Kế hoạch và Đầu tư còn nhiều
cản trở làm các nhà đầu tư nước ngoài rất nản chí: gửi hồ sơ và sẵn sàng
chứng minh năng lực, tài chính đã 2 tháng nhưng không có cơ quan nào
trả lời, thậm chí còn có người còn yêu cầu phải có gì đó thì dự án mới
được thông qua nhanh, vì việc dự án là của nhà nước còn cá nhân các
chuyên viên thì không có lợi gì nên dự án có thông qua hay không cũng
không quan trọng đối với họ. Thưa ông Phan Hữu Thắng, trong năm 2009,
ông có kế hoạch nào cụ thể để cải tiến quy trình làm việc của cơ quan
xúc tiến đầu tư? Nếu làm thủ tục xin phép đầu tư cho các dự án lớn chúng
tôi phải làm như thế nào để quá trình cấp phép diễn ra nhanh hơn?
Ông Phan Hữu Thắng:
Trước hết, tôi xin hoan nghênh ý định đầu tư của các ông vào Việt Nam với số vốn cụ thể, dự án cụ thể các ông vừa nêu.
Đây
là những dự án cơ sở hạ tầng hết sức quan trọng và cần thiết, phù hợp
với chủ trương gọi vốn đầu tư của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn
tới, đặc biệt là trong năm 2009 cả thế giới đang phải đối mặt với cuộc
khủng hoảng tài chính.
Đây
là lần đầu tiên tôi nghe nói đến các dự án này. Tôi thành thực xin lỗi
nếu có hiện tượng ông nêu, xảy ra tại các bộ phận xúc tiến đầu tư.
Tôi
rất mong muốn nhận được các đề nghị chính thức sớm. Và đề nghị ông cung
cấp thêm thông tin chi tiết về dự án, những vướng mắc cụ thể để chúng
tôi phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xử lý trong thời gian sớm
nhất, theo luật định.
Chúng tôi sẽ trực tiếp hướng dẫn sau khi nhận được thông tin từ các ông. Xin cảm ơn!
Trần Thái Vân:
Năm 2009, kinh tế Việt Nam dự báo sẽ có nhiều khó khăn. Còn theo quan điểm của các ông thì sao?
Ông Ken Peng:
Việt
Nam đã thành công trong việc kìm chế tốc độ tăng của lạm phát trong năm
2008 nhưng Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thách thức lớn hơn
và dài hơn trong năm 2009.
Cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu không những ảnh hưởng lớn tới xuất khẩu
của Việt Nam mà ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng dựa trên đầu tư của
Việt Nam trong năm 2009.
Hơn
nữa, năm 2008 cũng đã bộc lộ sự yếu kém hiệu quả trong khâu lưu thông
phân phối, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng
thâm hụt thương mại và lạm phát cao trong năm qua.
Những
chính sách đang được thực hiện như giảm lãi suất cho các dự án đầu tư
có hiệu quả, có thể chỉ có tác động trong ngắn hạn. Cần có những cải
cách cơ bản hơn nữa để phát triển bền vững. Điều này có thể khiến tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế sẽ bị chậm lại trong một thời gian dài.
Trong
20 năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã phát triển với tốc độ ấn tượng hàng
năm là 7%. Đầu tư đang tăng trưởng gấp đôi so với tỷ lệ tăng của GDP
nhưng thâm hụt thương mại trong năm 2008 chiếm gần 1/5 tổng sản lượng
xuất khẩu.
Điều
này cho thấy sự phân phối vốn không hiệu quả vào các ngành khiến nhu
cầu nhập khẩu vẫn cao. Dây truyền sản xuất của các doanh nghiệp trong
nước kém phát triển khiến Việt Nam tiếp tục phải dựa vào vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) và nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước và
xuất khẩu.
Thương
mại toàn cầu có thể sẽ phải đối mặt với một thời kỳ đi xuống kéo dài do
những tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng điều sẽ không ảnh
hưởng nhiều đến Việt Nam, vì xuất khẩu ít hơn đồng nghĩa với sẽ giảm
nhập khẩu.
Những
ảnh hưởng từ chính sách tiền tệ thắt chặt và khả năng dư thừa trong sản
xuất sẽ khiến các doanh nghiệp cân nhắc đến các phương án mở rộng sản
xuất.
Hơn
nữa, 1/4 số vốn FDI khổng lồ rót vào Việt Nam trong những năm 2007 và
2008 có liên quan đến thị trường bất động sản, có thể trong những năm
tới lượng vốn đầu tư vào thị trường này sẽ giảm mạnh.
Thắt
chặt dòng vốn nước ngoài có thể ảnh hưởng lớn đối với tăng trưởng kinh
tế, năm 2008 FDI đạt khoảng 10% GDP. Trong khi đó, khu vực vốn đầu tư
nước ngoài chiếm 25% trong tổng vốn đầu tư của Việt Nam.
Nguồn
vốn nước ngoài đổ vào chậm lại có thể làm tăng trưởng của Việt Nam sẽ
dừng lại ở mức 5-6% trong vòng 5 năm tới, thay vì con số 8% trong 5 năm
qua.
Ông Colin Tan:
Tôi
nghĩ rằng cuộc khủng hoảng toàn cầu lần này sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam
mạnh hơn nhiều cuộc khủng hoảng châu Á cuối những năm 1990.
Nhưng
Việt Nam có đủ tài nguyên và công nghiệp phát triển để tự túc về nhiều
mặt và không phải dựa nhiều vào nhập khẩu. Vì vậy, Việt Nam sẽ chịu hậu
quả ít nặng nề hơn nhiều nước khác trên thế giới trong cuộc khủng hoảng
này.
Ngoài
ra, tôi cũng biết rằng nhiều công ty nước ngoài vẫn đến và muốn đặt văn
phòng và cơ sở của họ tại Việt Nam. Vì vậy, trong tình hình khó khăn
chung, tôi vẫn giữ cái nhìn tích cực về triển vọng kinh tế Việt Nam
trong năm 2009.
Tôi
nghĩ là GDP sẽ giảm mức tăng trưởng khoảng 20 - 30% so với năm trước,
chỉ ở khoảng 4%-5%. Nhưng đó là mức rất tốt trong tình hình này.
Lê Thủy:
Xin
hỏi đại diện Fraser Suites, đâu là những nguyên nhân khiến thị trường
bất động sản Việt Nam hiện nay khó khăn? Ông dự báo thế nào về thị
trường này trong năm 2009?
Ông Colin Tan:
Chào
bạn, một trong những lý do chính là các nhà đầu tư rất lo ngại về triển
vọng thị trường. Một số nhà đầu tư có tiền nhưng họ hoãn khởi động một
số dự án cho đến khi họ chắc chắn hơn về triển vọng thị trường.
Trong
năm 2009, một số dự án có nguồn vốn đa dạng từ nhiều nước bị ảnh hưởng
trực tiếp từ khủng hoảng tài chính sẽ gặp khó khăn để khởi động được vì
ngân hàng hạn chế cho vay và thị trường trái phiếu cũng xuống thấp.
Tuy
nhiên, một số dự án đã khởi động và đang làm dở sẽ vẫn tiếp tục, nhất
là với những nhà đầu tư có nguồn vốn dồi dào. Thậm chí một số nhà đầu tư
chủ động làm chậm và kéo dài thời gian xây dựng để đợi giá thành xây
dựng xuống thấp hơn, và khi thị trường có những dấu hiệu hồi phục thì họ
sẽ nhanh chóng hoàn thành dự án và đưa ngay tòa nhà vào hoạt động.
Lê Anh Đông:
Liệu
việc lãi suất ngân hàng liên tục giảm có là “liều thuốc độc” cho thị
trường bất động sản vì lại tạo cơ hội cho nhiều nhà đầu cơ quay lại thị
trường, từ đó lại tạo nên tình trạng đẩy giá, bong bóng như mấy năm
trước, thưa ông Colin Tan?
Ông Colin Tan:
Nhìn
chung tôi thấy thị trường bất động sản ở Việt Nam vẫn rất tiềm năng và
chưa phải ở giai đoạn bong bóng. HIện nay, lãi suất đang giảm nhưng
trước đây lãi suất đã tăng rất mạnh khiến nhiều nhà đầu tư nhỏ không
chịu nổi.
Tôi
nhìn thấy nhà đầu tư trên thị trường chia thành hai nhóm riêng và có
những hành động khác nhau. Nhà đầu tư lớn từ nước ngoài với nguồn vốn
vững vàng thì vẫn tiếp tục các dự án của họ dù lãi suất trong nước tăng
hay giảm. Họ cũng tiếp tục giữ giá các sản phẩm của họ.
Trong
khi đó, các nhà đầu tư nhỏ trong nước hoặc phải dựa vào nguồn vốn trong
nước thì rất nhạy cảm với những thay đổi lãi suất và họ là nhóm bị ảnh
hưởng nhiều nhất trong tình hình này.
Vũ Trung Toàn:
Vừa
rồi tôi thấy ông Tổng giám đốc Ford Việt Nam phát biểu trên báo chí là
khủng hoảng kinh tế không gây nhiều khó khăn cho công ty ông. Vì sao ông
lại đánh giá như vậy?
Ông Michael Pease:
Ban
lãnh đạo của Ford Việt Nam nhận thức được rằng Việt Nam đang bước vào
một thời kỳ khó khăn và chúng tôi điều chỉnh nhanh chóng hoạt động sản
xuất, rà soát lại cơ cấu chi phí, và giảm lượng hàng tồn kho trước khi
những khó khăn trở nên rõ ràng hơn.
Do đó, chúng tôi đã được chuẩn bị tốt nhất để có thể thích ứng nhanh với những biến động về kinh tế.
Bất
chấp những lo ngại về kinh tế trong năm 2009, chúng tôi vẫn coi Việt
Nam là một thị trường quan trọng trong tương lai và sẽ tiếp tục đầu tư
nhiều vào công nghệ mới, phát triển nhân sự, và các sản phẩm mới. Điều
quan trọng trong thời kỳ suy giảm kinh tế là kiểm soát chi phí, tuy
nhiên việc đầu tư cho tương lai cũng rất quan trọng.
Chử Đức Thành:
Chào
Cục trưởng Phan Hữu Thắng. Xin ông cho tôi biết trong thời gian tới đây
Việt Nam sẽ ưu tiên kêu gọi đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực nào?
Và tỷ lệ là bao nhiêu? Chúng ta có những biện pháp cụ thể gì để đạt được
mục tiêu đó?
Ông Phan Hữu Thắng:
Chào
bạn, lĩnh vực ưu tiên đầu tư đã được công bố rõ ràng trong Nghị định
108 hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 2005. Bạn có thể tham khảo chi tiết
tại nghị định đó.
Tôi có thể tóm tắt một số định hướng chính như sau:
Ưu
tiên thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật cao, phát triển cơ
sở hạ tầng; đào tạo nguồn nhân lực; tập trung cho phát triển công
nghiệp phụ trợ, cũng như những dự án làm tăng giá trị gia tăng cho sản
phẩm của Việt Nam...
Việt
Nam không đặt tỷ lệ cố định đối với các lĩnh vực ưu tiên này. Chỉ cần
các dự án này phù hợp với quy hoạch ngành, và lãnh thổ và tuân thủ các
quy định tại Luật đầu tư.
Về
biện pháp cụ thể, chúng ta có nhiều giải pháp và phải được thực hiện
đồng bộ. Tuy nhiên, tôi có thể đề cập đến những giải pháp xúc tiến đầu
tư.
Cụ
thể là tập trung nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư, tập
trung xúc tiến vào các dự án, đối tác cụ thể; dành ngân sách thích đáng
cho công tác xúc tiến đầu tư này để đạt hiệu quả; đồng thời tập trung
nâng cao trình độ của bộ phận, cơ quan xúc tiến đầu tư Việt Nam trong và
ngoài nước, nhằm đi thẳng vào các đối tác tiềm năng, với dự án cụ thể.
Lê Quốc An:
Ông
Michael Pease có cho rằng công nghiệp ôtô là một trong những ngành phải
đối mặt với nhiều khó khăn nhất trong năm vừa qua tại Việt Nam?
Ông Michael Pease:
Tôi
cũng nghĩ như vậy. Nhìn chung, doanh số thị trường ôtô Việt Nam tăng
trưởng hơn 30% trong năm qua, nhưng trong 3-4 tháng cuối năm, doanh số
xe hơi tại đây đã giảm 40%.
Thách
thức lớn nhất của ngành năm qua là lãi suất cho vay của các ngân hàng
quá cao và tình trạng thắt chặt tín dụng. Ngoài ra, niềm tin của người
tiêu dùng cũng bị giảm sút và ngành xe hơi và nhà đất là những lĩnh vực
bị tác động mạnh hơn cả trong cuộc khủng hoảng này.
Mặt khác, Chính phủ còn tăng thuế đối với cả dòng xe lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu.
Những
yếu tố này cộng lại có khả năng sẽ khiến năm 2009 còn khó khăn hơn năm
2008, đặc biệt là chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt mới có hiệu lực từ
tháng 1/4/2009.
Trần Thái Vân:
Nếu
tôi nhớ không nhầm, Citi dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2009
chỉ khoảng 5%. Xin hỏi đại diện Citi, mức dự báo đó có quá bi quan
không?
Ông Ken Peng:
Dự đoán của chúng tôi vẫn duy trì ở mức 5,2% tăng trưởng GDP thực cho năm 2009.
Lý
do chủ yếu là vì nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào đầu tư. Môi
trường kinh tế toàn cầu hiện nay hạn chế lượng vốn sẵn sàng để đầu tư
vào Việt Nam (và các nền kinh tế đang nổi khác), trong khi đó nhu cầu
toàn cầu giảm đi và áp lực giảm phát làm giảm sự cấp thiết của việc đầu
tư vào năng lực sản xuất của Việt Nam.
Điều
này sẽ làm giảm khá lớn lượng FDI vào Việt Nam, tôi nghĩ năm 2009 giải
ngân FDI tại Việt Nam có thể chưa bằng một nửa của tổng số 11,5 tỷ USD
trong năm ngoái.
Chương
trình kích thích kinh tế trị giá 6 tỷ USD của Chính phủ không thể được
thực hiện trong 1 năm và nguồn tài chính vẫn còn là dấu hỏi. Vì vậy
nguồn động lực chính cho tăng trưởng kinh tế có thể sẽ khó khắn trong
năm nay.
Điều
đáng mừng là tình hình lạm phát và thâm hụt thương mại đã được cải
thiện đáng kể, điều này có thể giúp tránh sự tăng trưởng chậm lại.
Tommy Thai:
Theo
hiện trạng tình hình kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói
riêng, các doanh nghiệp trong ngành sản xuất, xuất nhập khẩu, phân phối
và bán lẻ đã chịu ảnh hưởng gián tiếp từ cơn bão tài chính toàn cầu.
Hơn nữa hàng loạt vụ scandal gian lận thương mại chấn động thế giới từ
Mỹ và mới đây là Ấn Độ, như vậy liệu những nhà đầu tư có lấy lại được
niềm tin vào kinh doanh và cần phải có những biện pháp gì để phục hồi
niềm tin sau những vụ việc trên?
Ông Phan Hữu Thắng:
Tôi nghĩ việc xảy ra với đất nước nào thì đất nước ấy sẽ có giải pháp cụ thể.
Năm
2008, Việt Nam với kết quả về thu hút đầu tư nước ngoài, chúng ta đang
là điểm đến của nhiều nhà đầu tư lớn trên thế giới. Họ tin tưởng vào
tiềm năng trung và dài hạn của Việt Nam.
Huỳnh Thế Bảy:
Các
ông đánh giá thế nào về động thái hỗ trợ của nhà nước đối với thị
trường bất động sản và doanh nghiệp kinh doanh bất động sản và dịch vụ
liên quan trong thời gian qua?
Ông Colin Tan:
Tôi
nghĩ là các chính sách của Chính phủ khá tốt đối với các doanh nghiệp
trong ngành này. Tôi đã sống và làm việc trong ngành này 10 năm tại Việt
Nam và không thấy có nhiều phàn nàn đáng kể.
Mỗi khi có vấn đề gì, chúng tôi đề cập trực tiếp với các cơ quan chủ quản và được giải quyết thỏa đáng.
Lê Hoài Nam Anh:
Năm
2008, mảng căn hộ cao cấp tại Việt Nam bị rớt giá mạnh. Vậy, Fraser
Suites có ước tính được đã thất thu bao nhiêu không, thưa ông Colin Tan?
Điều này có ảnh hưởng đến dự tính mở rộng đầu tư tại Việt Nam của công
ty không?
Ông Colin Tan:
Fraser
Suites Hà Nội mới đi vào hoạt động được 7 tháng và chúng tôi hiện vẫn
giữ giá ban đầu. Tôi không nghĩ là trong năm 2008, chúng tôi sẽ bị lỗ.
Trong
ngành này, khách hàng không chỉ trông vào giá cả mà còn cả chất lượng
dịch vụ. Tại Fraser Suites Hà Nội, chúng tôi đảm bảo chất lượng dịch vụ
tốt nhất nên mặc dù mức giá trung bình của chúng tôi cao hơn mặt bằng
giá ở Hà Nội, khách hàng vẫn tin tưởng và tìm đến.
Đào Quang Minh:
Tôi
thấy hầu như trong suốt năm 2008, nhiều doanh nghiệp ôtô thường “kêu”
nhiều về chuyện chính sách gây khó khăn. Liệu so với các quốc gia khác,
những khó khăn này có mang tính đặc thù?
Ông Michael Pease:
Trước
hết, thuế ôtô ở Việt Nam vào hàng cao nhất thế giới và sức mua của thị
trường ở đây lại vào hàng thấp nhất thế giới. Điều đó gây hạn chế lớn
đối với sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô ở Việt Nam.
Ở những nước như Singapore, thuế cũng cao, nhưng mức thu nhập của người dân lại cao hơn nên có thể thích nghi với mức thuế này.
Một
yếu tố nữa là những thay đổi thường xuyên trong chính sách và hệ thống
thuế như trong năm 2008 gây những khó khăn lớn cho người tiêu dùng và
ngành công nghiệp xe hơi trong việc lên kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Trong
năm 2008, chúng ta đã chứng kiến 3 lần tăng thuế nhập khẩu linh kiện xe
hơi, 2 lần tăng phí trước bạ, 3 lần tăng thuế xe nhập khẩu nguyên
chiếc. Tôi chưa thấy nước nào mà thuế được điều chỉnh nhiều lần như vậy
trong 1 năm.
Trong
quá trình phát triển công nghiệp xe hơi ở Việt Nam, chúng ta cần có
chính sách dài hạn và minh bạch, bao gồm một lộ trình giảm thuế tới mức
cạnh tranh với các quốc gia khác.
Vi Quốc Hợp:
Một
khó khăn đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
trong năm 2008 là lạm phát tăng cao, lãi suất biến động mạnh. Ông
Takashi Fujii đánh giá thế nào về khó khăn này và dự báo thế nào về khả
năng lạm phát trong năm 2009?
Ông Takashi Fujii:
Những
khó khăn của nền kinh tế Việt Nam và đặc biệt là tình hình lạm phát
tăng cao thời gian qua đã gây không ít khó khăn cho các công ty bảo hiểm
nhân thọ cũng như thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.
Nhưng
theo tôi, trong thời kỳ nào thì doanh nghiệp cũng phải đối mặt với
những khó khăn và trở ngại nhất định. Đối với những doanh nghiệp có tâm
huyết, mong muốn gắn bó và hoạt động lâu dài tại Việt Nam đều sẽ có
những kế hoạch đầu tư và phát triển bền vững.
Tôi
tin tưởng rằng, lạm phát tăng cao chỉ là những khó khăn trong nhất
thời, ngắn hạn do tác động của kinh tế thế giới và lạm phát Việt Nam sẽ
lùi về 1 con số vào cuối năm 2009.
Nguyễn Doãn Bình:
Một số ý kiến cho rằng Việt Nam đang mất dần lợi thế "Trung Quốc +1". Quan điểm của các diễn giả như thế nào?
Ông Colin Tan:
Tôi
nghĩ rằng rất khó để so sánh Việt Nam với Trung Quốc vì Trung Quốc lớn
hơn Việt Nam rất nhiều và bắt đầu đổi mới kinh tế sớm hơn.
Nhiều
công ty đã biết đến Trung Quốc từ lâu và đã đến làm ăn tại Trung Quốc
sớm hơn nhiều trước khi biết đến Việt Nam. Vì vậy, sẽ là không công bằng
với Việt Nam khi so sánh với Trung Quốc.
Tôi
nghĩ rằng Việt Nam đang trên đà tăng trưởng tốt và ổn định nên có thể
bắt kịp Trung Quốc. Vấn đề Việt Nam phải có mục tiêu rõ ràng và kế hoạch
tốt và thực hiện đúng kế hoạch để phát triển kinh tế và đất nước.
Một điều tôi nghĩ là Việt Nam cần tập trung cải thiện là cơ sở hạ tầng.
Toni SG:
Xin hỏi Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Phan Hữu Thắng, ông nhận xét thế nào về tỷ lệ giải ngân ngày càng giảm dần?
Ông Phan Hữu Thắng:
Trước
hết, chúng ta cần làm rõ về nguồn vốn FDI đăng ký và giải ngân hàng
năm. Vốn FDI đăng ký là vốn mà các nhà đầu tư được cấp phép trong năm,
số vốn này có tiến độ giải ngân trong nhiều năm chứ không phải giải ngân
ngay trong năm đó. Trong khi vốn giải ngân là số vốn các dự án đã được
cấp phép trước đó triển khai thực hiện trong năm.
Theo
số liệu đến ngày 20/12/2008, tổng số vốn đầu tư nước ngoài thu hút vào
Việt Nam là hơn 64,1 tỷ USD, tăng gần 3 lần so với năm 2007; vốn giải
ngân trong năm là 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007 (8,03 tỷ USD).
Tuy
nhiên, thực chất của việc giảm tỷ lệ vốn giải ngân so với vốn đăng ký
là do vốn đăng ký năm 2008 tăng quá cao, xét về giá trị tuyệt đối thì
nguồn vốn FDI giải ngân không hề giảm mà tăng khá cao.
Theo
tôi, việc giảm về tỷ lệ tương đối này không có nghĩa là giải ngân vốn
đầu tư nước ngoài giảm dần mà chỉ có nghĩa là vốn đăng ký trong năm tăng
cao so với vốn giải ngân.
Hoàng Minh Vũ:
Tôi
là một người có thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng. Nhưng để mua được
nhà ở của Fraser Suites, mua được ôtô của Ford thì không biết đến bao
giờ. Các ông có thể chia sẻ về thực tế này không, bởi đó là tình hình
chung của nhiều người hiện nay. Trân trọng cảm ơn.
Ông Michael Pease:
Chào
bạn, thị trường ôtô tại Việt Nam tiêu thụ được hơn 150.000 xe mỗi năm,
trong khi dân số của Việt Nam là 85 triệu người. Tỷ lệ này tương đương
với tỷ lệ của Đài Loan những năm 1970 và Nhật Bản những năm 1960.
Có
một thông tin tốt là người Việt Nam sẽ không phải đợi 50 năm nữa mới
mua được xe hơi vì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang tăng
rất nhanh.
Tuy
nhiên, thuế đánh vào xe hơi vẫn ở mức quá cao, chiếm hơn 60% giá bán
của một chiếc xe mới. Các hãng xe đang nỗ lực hết sức để giảm giá xe,
nhưng thuế xe hơi đang trở thành một yếu tố quan trọng trong việc quyết
định mức độ phổ biến của xe hơi ở Việt Nam.
Hoàng Anh Tuấn:
Gửi
ông Ken Peng. Theo ông xu hướng đầu tư của các nhà đầu tư Mỹ vào thị
trường Việt Nam trong năm 2009 sẽ có những thay đổi gì? Hiện nay, những
ngành nào được giới đầu tư Mỹ quan tâm nhất tại các thị trường đang phát
triển nói chung, và Việt Nam nói riêng? Cảm ơn ông!
Ông Ken Peng:
Tỷ
lệ đầu tư của Mỹ không nhiều trong tổng số FDI vào Việt Nam. Năm ngoái,
giải ngân nguồn vốn Mỹ ngừng lại vào tháng 7, và đạt tổng số 500 triệu
USD cho cả năm, tương đương khoảng 3% tổng số FDI Việt Nam nhận được.
Phần lớn vốn FDI vào Việt Nam là từ các nước châu Á như Singapore, Malaysia hoặc Hàn quốc.
Tuy
nhiên, nhu cầu về hàng tiêu dùng từ Mỹ lại là động lực chính cho nguồn
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Như tôi đã nói trước đây, nhu cầu hàng
tiêu dùng từ Mỹ và các nước phát triển giảm sâu và có thể tiếp tục giảm
trong vài năm tới.
Trong
hoàn cảnh hiện nay, người tiêu dùng Mỹ có thể sẽ bắt đầu tiết kiệm
khoản thu nhập của mình hơn và tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ phải phụ thuộc
nhiều hơn vào sản xuất và xuất khẩu.
Điều
này có hai ảnh hưởng đến Việt Nam và các nước đang phát triển là (1)
lượng xuất khẩu và giá cả sẽ giảm và duy trì ở mức thấp, do đó cần giảm
đầu tư; (2) các nhà sản xuất của Mỹ và châu Âu sẽ tăng cạnh tranh với
các nhà sản xuất của các nước đang phát triển.
Nói một cách khác, “bánh nhỏ đi mà gia đình lại đông thêm”.
Vì vậy tôi nghĩ rằng giải ngân FDI sẽ giảm ít nhất một nửa trong năm 2009 so với con số ấn tượng 11,5 tỷ USD năm 2008.
Nguyễn Thị Thái Bình:
Chào
ông Colin Tan, ông có thể cho biết một số dự án mà Fraser Suites sắp
triển khai tại Việt Nam không? ở những địa bàn nào và các mốc thời gian
dự kiến? Xin cảm ơn ông.
Ông Colin Tan:
Tôi
không thể nói chi tiết về các dự án này vì chúng tôi đang tiếp tục làm
việc với nhiều bên và chưa thể công bố dự án. Nhưng tôi có thể tiết lộ
là một dự án sẽ ở Phú Mỹ Hưng, quận 7, Tp.HCM, dự định hoàn thành vào
năm 2010. Và chúng tôi cũng đang dự tính một dự án nữa ở Hà Nội.
Giản Thu Hiền:
Bộ
Xây dựng vừa trình Thủ tướng một số biện pháp hỗ trợ thị trường bất
động sản, trong đó có đề cập đến vấn đề nợ, lãi suất, chính sách thuế…
Theo ông Colin Tan, sự hỗ trợ đó nên tập trung ở những vấn đề nào? Ông
có khuyến nghị gì không?
Ông Colin Tan:
Tôi
nghĩ rằng Chính phủ nên cải cách thủ tục hành chính để rút ngắn thời
gian xét duyệt các dự án. Việc này sẽ tạo thuận lợi nhiều cho các nhà
đầu tư.
Ngoài
ra, tôi muốn Chính phủ xem xét lại chính sách cho thuê đất. Tôi muốn
thời hạn cho thuê đất dài ra, trên 50 năm với những dự án cụ thể. Các
nhà đầu tư một khi đã đổ 25 - 30 triệu USD vào một dự án, họ không thể
thu hồi vốn ngay lập tức được nên họ cần thời gian thuê đất dài hơn.
Phùng Anh Kiệt:
Được
biết trong Hiệp hội VAMA hiện nay chỉ có GM-Daewoo là doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài, còn lại các hãng ô tô khác đều là liên doanh. Vậy ông
có thể cho vài so sánh về những tác động từ khủng hoảng kinh tế đến các
doanh nghiệp ô tô Việt Nam ở hai hình thức liên doanh và 100% vốn nước
ngoài thế nào. Ví dụ nếu như GM Mỹ phá sản thì GM-Daewoo Việt Nam cũng
phá sản. Nhưng với những công ty như Ford Việt Nam thì sao? Vai trò
“chống” khủng hoảng của phía doanh nghiệp Việt Nam trong Ford, cụ thể là
VEAM, thế nào? Và đặt giả sử tập đoàn Ford phá sản thì “số phận” của
Ford Việt Nam thế nào?
Ông Michael Pease:
Chào bạn.
Tôi
không thể bình luận về các doanh nghiệp khác, nhưng tôi đảm bảo với bạn
rằng, Ford đang ở trong tình trạng tốt và hoạt động của chúng tôi ở
Việt Nam không bị ảnh hưởng nhiều như Ford ở Mỹ và các nước khác trên
thế giới.
Ford
Việt Nam là một liên doanh, trong đó Ford là một đối tác lớn cung cấp
kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý. Đối tác trong nước cũng rất quan trọng
và đóng góp giá trị lớn thông qua khả năng cung cấp tư vấn về phản hồi
thị trường, kinh nghiệm kinh doanh bản địa, và quan hệ với chính quyền.
Các chuyên gia của Ford đem tới những kinh nghiệm về chế tạo sản phẩm và
quy trình làm việc với hệ thống marketing và vật tư của tập đoàn trên
toàn cầu.
Cả hai bên đều cam kết phát triển hoạt động lâu dài của Ford tại Việt Nam và đóng góp thế mạnh bổ sung cho nhau.
Tôi xin phép không bình luận về tình trạng của GM hay các hãng xe khác.
Một số bạn đọc:
Số
lượng dự án đăng ký mới và tăng thêm đều thấp đi. Có thể hiểu là sự
quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài đã kém đi, hoặc các doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài không mở rộng kinh doanh nữa?
Ông Phan Hữu Thắng:
Trước
hết, tôi xin khẳng định là sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài
đối với Việt Nam không hề kém đi mà ngày càng tăng cao hơn trong năm
2008 và các năm tiếp theo. Tại các hội thảo, diễn đàn, nhà đầu tư nước
ngoài đều khẳng định môi trường đầu tư của Việt Nam đã được cải thiện
rất nhiều và ngày càng nhận được nhiều hơn sự quan tâm từ quốc tế.
Số
lượng dự án đăng ký mới và tăng thêm có thấp hơn so với năm 2007 nhưng
số vốn cam kết của các nhà đầu tư thì tăng rất cao trong năm 2008 vừa
qua.
Việc
số dự án tăng vốn trong năm 2008 giảm hơn, một phần là do quy định mới
của Luật. Trước kia, các dự án đầu tư muốn mở rộng quy mô thì phải tăng
vốn đầu tư. Tuy nhiên, theo luật định hiện hành thì các dự án mở rộng
quy mô doanh nghiệp FDI có thể tách thành một dự án mới. Các dự án mới
này thực chất là doanh nghiệp mở rộng quy mô dự án.
Nguyễn Lê:
Xin
chào ông Colin Tan, ông đến Việt Nam đã bao lâu rồi, cảm nhận của ông
về đất nước chúng tôi như thế nào? Ông có dự định ở lại Việt Nam bao
lâu?
Ông Colin Tan:
Cảm
ơn câu hỏi của bạn. Tôi đã ở Việt Nam 10 năm và tôi cảm thấy rất thoải
mái. Đó cũng là một trong những lý do mà tôi ở đây lâu như vậy.
Lúc
đầu mới đến, tôi cảm thấy hơi khó chịu vì không tìm được nhiều thứ tôi
cần. Nhưng sau này, tôi biết rằng tôi có thể tìm thấy hầu hết mọi thứ và
bất kỳ thứ gì ở đây miễn là tôi bỏ công một chút.
Người
dân Việt Nam khá dễ chịu và có nền văn hóa khá tương đồng với người
Trung Quốc. Có thể vì tôi là người gốc Trung Quốc nên tôi cảm thấy rất
dễ hòa nhập vào văn hóa ở Việt Nam. Tóm lại là tôi thấy khá hài lòng và
thoải mái khi ở đây.
Tôi
không chắc lắm về việc sẽ ở đây bao lâu. Tôi đã ở đây và làm việc trong
ngành bất động sản ở Việt Nam khoảng 10 năm rồi. Tôi cũng đầu tư riêng
vào một số bất động sản ở đây với niềm tin vào tương lai của đất nước
này và cả sự thích thú của tôi với cuộc sống ở đây nữa.
Vào ngay lúc này, tôi đang nghĩ là tôi sẽ nghỉ hưu ở Việt Nam.
Lê Minh Cường:
Mục
tiêu của chính sách khuyến khích đầu tư của Chính phủ trong đó có nhiều
ưu đại cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là đển nhằm tăng cường cho
xuất khẩu. Vậy trong thời gian qua, Ford đã xuất khẩu được bao nhiêu
chiếc xe ôtô, xuất đi đâu?
Ông Michael Pease:
Ở
giai đoạn này, toàn bộ sản phẩm của chúng tôi tập trung cho thị trường
nội địa. Chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu việc xuất khẩu sang các thị
trường ASEAN khác, tuy nhiên, hiện nay chúng tôi chưa đạt được mức nội
địa hóa 40% - mức yêu cầu để được hưởng ưu đãi thuế theo AFTA.
Theo
kinh nghiệm của chúng tôi tại Thái Lan - nơi chúng tôi sản xuất nhiều
cho việc xuất khẩu, chúng tôi cần một doanh số thị trường nội địa lớn để
có thể đạt được mức nội địa hóa này. Tôi hy vọng, trong tương lai, Việt
Nam sẽ trở thành một địa bàn sản xuất để xuất khẩu của Ford.
Lâm Quỳnh:
Trước
hết xin được chúc mừng cho những con số thu hút đầu tư nước ngoài kỷ
lục của năm 2008. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng với điều kiện cơ sở hạ
tầng, đặc biệt là giao thông, nước, điện thiếu hụt nghiêm trọng, Việt
Nam khó có thể đáp ứng được một lượng dự án quy mô lớn như hiện nay. Ông
có ý kiến thế nào về việc này? Thứ hai là nếu dành ưu tiên cho các đối
tác nước ngoài thì liệu có ảnh hưởng đến các hộ tiêu dùng điện trong
nước? Thứ ba là một số dự án có yêu cầu nguồn nước lớn (khai thác khoáng
sản), lại đầu tư vào những địa bàn thiếu nước nghiêm trọng (khu vực Tây
Nguyên) thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến đời sống người dân. Vấn đề này
đã được xem xét như thế nào?
Ông Phan Hữu Thắng:
Các
điều kiện cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông, điện, nước... là vấn đề
có ảnh hưởng quyết định đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài nói
chung.
Các
cơ sở hạ tầng như trên, nếu không được cải thiện nhanh, chắc chắn sẽ
không đáp ứng được yêu cầu, và sẽ hạn chế khả năng triển khai thực hiện
theo đúng tiến độ (trong vài năm tới) của các dự án đầu tư nước ngoài có
quy mô lớn (không chỉ các dự án cấp giấy chứng nhận đầu tư trong năm
2008 mà cả các dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư những năm trước
đây).
Đây
cũng là vấn đề đã được nêu ra tại các diễn đàn doanh nghiệp trước đây,
cũng như diễn đàn doanh nghiệp cuối kỳ năm 2008. Chính phủ cũng đã xác
định đây là lĩnh vực có thể tạo ra nút thắt cổ chai, nên cần ưu tiên
phát triển.
Vì
thế, tốc độ tăng trưởng của cơ sở hạ tầng nói chung, luôn được lập quy
hoạch với tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều lần so với tăng trưởng GDP
(ví dụ ngành điện tăng trưởng đến 14-17%/năm, trong khi tăng trưởng GDP
khoảng 7-9%).
Để
phát triển các dự án cơ sở hạ tầng, cần huy động nguồn vốn rất lớn. Vì
vậy, Chính phủ đã áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, bên cạnh việc ưu tiên
bố trí vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn ODA, Chính phủ cũng có các chính
sách khuyến khích để huy động vốn đầu tư của tư nhân để phát triển các
loại dự án này như ưu đãi cao về thuế thu nhập doanh nghiệp, có quy đinh
pháp luật và chính sách khuyến khích đầu tư theo hình thức BOT, BTO,
BT...
Về
việc ưu tiên cho đối tác nước ngoài thì liệu có ảnh hưởng đối với hộ
tiêu dùng điện trong nước? Rõ ràng, nếu nguồn điện không được cung cấp
thì sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng điện của các hộ tiêu dùng điện nói
chung, cả về số lượng và chất lượng.
Tuy
nhiên, để giải quyết vấn đề thì phải phát triển thêm các nguồn điện.
Còn Chính phủ không có chính sách phân biệt giữa các hộ dùng điện theo
tiêu chí "nước ngoài" hay "trong nước". Đây cũng là chính sách nhất quán
của Luật đầu tư theo nguyên tắc áp dụng bình đẳng cho cả đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài.
Về
nguyên tắc thì hiện ngành điện vẫn áp dụng ưu tiên cung cấp điện cho
các dự án sản xuất hơn so với sinh hoạt, tiêu dùng khác, trong đó có cả
việc áp dụng giá điện ưu đãi, mức giá thấp hơn cho khu vực sản xuất. Tất
nhiên là áp dụng thống nhất cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài. Và trong mọi trường hợp, việc đáp ứng yêu cầu các dự án sản xuất
của cả hai đối tượng đã nêu luôn là ưu tiên số một.
Về
các dự án có yêu cầu về nước lớn (khai thác khoáng sản), đầu tư vào
những địa bàn thiếu nước nghiêm trọng (khu vực Tây Nguyên), liệu chắc
chắn ảnh hướng đến đời sống người dân? Đây là vấn đề cần xem xét khi
thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư, nhất là các dự án có yêu cầu sử
dụng rất nhiều nước và liên quan đến vấn đề đánh giá tác động môi trường
và khả năng khu vực cụ thể có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng nước hay
không.
Tôi
đồng ý đây là vấn đề quan trọng, không chỉ với các dự án khoáng sản và
UBND các địa phương khi thẩm tra chỉ nên cấp giấy chứng nhận đầu tư cho
dự án sau khi đã cân nhắc kỹ vấn đề tác động môi trường, tránh tối đa
các ảnh hưởng xấu đến nguồn nước sinh hoạt, sản xuất của người dân khu
vực bị ảnh hưởng của dự án.
Nguyen Quoc Tuan:
Xin các diễn giả hãy phân tích sự đóng góp của vốn FDI đối với năng lực cạnh tranh của Việt Nam?
Ông Ken Peng:
Giải
ngân vốn FDI vào Việt Nam trong những năm gần đây rất thiên về các
ngành cần nhiều vốn, ví dụ như dầu khí và các nguyên liệu thô khác, bất
động sản và ngành công nghiệp nặng.
Điều
này là tốt, song Việt Nam thực sự cần phải tạo ra một dây chuyền sản
xuất toàn diện, bắt đầu bằng các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao
động.
Năm
ngoái, 30% nguồn vốn FDI được đưa vào ngành công nghiệp nặng, 15% vào
dầu khí, trong khi đó 27% vào các dự án liên quan đến bất động sản.
Đây là những ngành có khả năng suy giảm nhất trong năm nay. Các dự án bất động sản không hề làm tăng năng lực cạnh tranh.
Các
dự án dầu khí thực ra làm giảm năng lực cạnh tranh trong thời gian ngắn
hạn vì chi phí cao trong sản xuất và có thể nhập khẩu sẽ rẻ hơn, nhất
là trong hoàn cảnh hiện nay khi mà giá dầu giảm xuống hai phần ba.
Đầu
tư vào công nghiệp nặng có thể bổ sung cho năng lực cạnh tranh, nhưng
vấn đề chính là Việt Nam không có đủ các nền công nghiệp hỗ trợ để làm
nguồn cho sản xuất tại Việt Nam. Điều này đúng với ngành sản xuất ôtô,
ngành điện tử và hàng tư liệu sản xuất, trừ ngành đóng tầu.
Vì
vậy, xuất khẩu phi hàng hoá của Việt Nam vẫn cần lượng nhập khẩu gần
tương đương với nó. Điều này cần đặc biệt lưu ý vì sự suy thoái toàn cầu
đang thu hẹp những lợi thế về chi phí mà Việt Nam đang có - với vai trò
là nhà sản xuất.
An Nhi:
Tôi
là người rất quan tâm đến ngành ôtô và tôi thấy trong năm 2008 Ford
Việt Nam có một thay đổi rất đáng kể. Đó là từ khi hãng có ông tổng giám
đốc mới, ông Michael Pease, về nhậm chức. Doanh số của Ford Việt Nam đã
liên tục tăng, khác hẳn so với trước đây.
Ông Michael Pease:
Cảm
ơn ghi nhận của bạn. Trước hết, tôi cần nói rằng, không riêng cá nhân
nào tạo nên thành công của cả Ford Việt Nam trong năm 2008.
Trong
vòng hơn 10 năm Ford đầu tư sản xuất tại Việt Nam, chúng tôi đã phát
triển được một đội ngũ nhân sự rất tốt. Hiện chúng tôi đã có những nhân
viên Việt Nam được điều đi làm việc tại Ford ở nước ngoài.
Trong
lĩnh vực kinh doanh nào cũng vậy, khoản đầu tư lớn nhất bao giờ cũng là
đầu tư vào con người. Tháng này, chúng tôi đã bổ nhiệm giám đốc tài
chính đầu tiên người Việt Nam và tôi tin rằng, sẽ còn có thêm những vị
trí nhân sự quan trọng được bổ nhiệm là người Việt Nam trong thời gian
tới.
Tôi
đã có kinh nghiệm gần 20 năm ở khu vực ASEAN và tôi hy vọng rằng kinh
nghiệm này cũng có một vài đóng góp nhỏ vào thành công chung của Ford
Việt Nam. Tuy nhiên, Ford Việt Nam hiện chỉ có hai chuyên gia nước ngoài
do đó, thành công thực sự của Ford ở Việt Nam là nhờ đội ngũ nhân viên
của hãng tại đây.
Huỳnh Bảo Hòa:
Tôi
là một nhà đầu tư bất động sản. Năm 2007 - 2008, tôi đã chứng kiến
nhiều thay đổi quá nhanh về chính sách của Nhà nước, đặc biệt là sự "bóp
nghẹt" của chính sách tiền tệ, phía sau đó là khó khăn của hàng loạt
doanh nghiệp và nhà đầu tư. Ông Colin Tan có ý kiến gì về một môi trường
như thế?
Ông Colin Tan:
Tôi hoàn toàn hiểu khó khăn của các nhà đầu tư trong nước trong tình hình hiện nay và với các chính sách tiền tệ thay đổi.
Tuy
nhiên, như tôi nói trước đây, các nhà đầu tư nước ngoài với nguồn vốn
mạnh lại thấy bây giờ là thời điểm rất tốt để mua và dự định các dự án
mới vì các chủ đất đang 'mềm' hơn trong các mức giá và đòi hỏi.
Một số dự án lớn ở Việt Nam vẫn đang tiếp tục vì họ có vốn mạnh và không phụ thuộc vào nguồn vốn trong nước.
Nam Phan:
Liên
quan đến con số trên 64 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký trong năm nay, xin
ông cho biết bao nhiêu % liên quan đến bất động sản? Có ý kiến cho rằng
một tỷ lệ khá lớn bất động sản được “che đậy” trong các dự án công
nghiệp. Ông có thể cho biết thực chất vấn đề này như thế nào? Nếu cho
rằng đó là nhà ở công nhân thì tỷ lệ như thế đã hợp lý chưa? Quản lý đầu
tư như thế nào để không biến thành bất động sản để bán? Đầu tư vào bất
động sản được cho là không tạo ra hàng hóa, không giúp chuyển giao công
nghệ, có đóng góp rất hạn chế cho sự phát triển bền vững của Việt Nam, ý
kiến của ông thế nào? Câu hỏi xin được dành cho ông Cục trưởng Cục Đầu
tư nước ngoài.
Ông Phan Hữu Thắng:
Chào bạn.
Trong
số 64 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký trong năm nay, đầu tư vào bất động sản
là 23,6 tỷ USD, chiếm 36,8%. Theo tôi, tỷ trọng đầu tư vào các dự án bất
động sản không có gì là "quá đà". Chúng ta vẫn đảm bảo cân đối ngành,
các ngành công nghiệp sản xuất vẫn tương đối nhiều, không bị bất động
sản lấn át...
Chúng
ta vẫn chưa có các sản phẩm du lịch đạt tiêu chuẩn quốc tế đúng nghĩa,
chưa có các khu du lịch tương tự như Phuket, Pattaya (Thái Lan).
Theo
tôi, không thể nhận định đầu tư vào bất động sản không tạo hàng hóa,
không giúp chuyển giao công nghệ, có đóng góp hạn chế cho sự phát triển
bền vững của Việt Nam. Vì các dự án bất động sản nếu triển khai tốt sẽ
tạo ra rất nhiều giá trị gia tăng, tạo thêm nhiều nhà ở chất lượng cao,
các khu du lịch đạt tiêu chuẩn quốc tế... đáp ứng được nhu cầu thực tế
về nhà ở của người dân và góp phần gia tăng lượng khách du lịch vào Việt
Nam, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập quốc dân.
Về
ý kiến cho rằng một tỷ lệ khá lớn bất động sản được "che lấp" trong các
dự án công nghiệp, tôi không rõ nhận định này căn cứ vào đâu, số liệu
nào, nhưng theo tôi không có hiện tượng này.
Nếu
có thì chỉ là đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo môi trường sống cho công nhân
để hiệu quả làm việc của người lao động cao hơn, tạo ra nhiều lợi ích
hơn cho doanh nghiệp và đất nước.
Đối
với việc cấp phép các dự án FDI có nhu cầu sử dụng đất lớn, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành và địa
phương cần thẩm tra kỹ các dự án trước khi cấp giấy chứng nhận đầu tư
để đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, tránh gây lãng phí về đất đai.
Lê Thị Vân Anh:
Mặc
dù ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đang rất non trẻ và khó khăn trong
khi đã có rất nhiều doanh nghiệp lắp ráp. Chắc chắn Ford biết điều đó,
vậy tại sao trong năm vừa qua Ford Việt Nam lại công bố khoản đầu tư
thêm hơn 10 triệu USD? Các ông kỳ vọng điều gì cụ thể vậy?
Ông Michael Pease:
Khi
chúng tôi cam kết khoản đầu tư này để tăng công suất, nhu cầu thị
trường xe hơi Việt Nam đang rất mạnh và chúng tôi tin rằng sẽ đáp ứng
được ngay nhu cầu này.
Tuy
có những khó khăn và nhu cầu thị trường giảm sút, nhưng tôi vẫn tin
rằng, với kế hoạch sản phẩm và các chương trình hỗ trợ bán hàng, chúng
tôi sẽ tận dụng được hết công suất mở rộng này.
Hiện
nay, chúng tôi vẫn sẽ tiếp tục đầu tư vào các chương trình sản phẩm
mới, công nghệ mới, và nâng cấp dây chuyền sản xuất. Chúng tôi thực hiện
những khoản đầu tư này với niềm tin vào tiềm năng lâu dài của thị
trường Việt Nam.
Thậm chí cả ở thời kỳ khó khăn, điều quan trọng là tiếp tục đầu tư cho tương lai.
Lê Hoa:
Tôi
là một người đang làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Xin cảm ơn
những chia sẻ của ông Takashi Fujii. Thực tế là khái niệm bảo hiểm nhân
thọ vẫn còn xa lạ với nhu cầu của nhiều người dân Việt Nam hiện nay,
rất khó khăn khi tiếp cận. Nhiều người vẫn chọn gửi tiền ngân hàng như
một thói quen khó thay đổi. Ông nói gì về điều này?
Ông Takashi Fujii:
Sau
hơn 10 năm phát triển, ngành bảo hiểm nhân thọ đã có những bước phát
triển đáng kể, mà trong đó thành công nhất theo tôi là đã tạo cho người
dân Việt Nam nhận thức rõ tầm quan trọng của bảo hiểm nhân thọ đối với
bản thân và gia đình họ.
Bản
chất của bảo hiểm là bảo vệ an toàn về tài chính trước những rủi ro xảy
đến với con người trong cuộc sống và đây cũng chính là mục đích khi
tham gia bảo hiểm nhân thọ. Như vậy, tham gia một hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ khác với việc bạn gởi tiền vào ngân hàng hoặc đầu tư.
Ví
dụ dễ hình dung nhất, khi khách hàng tham gia tiết kiệm với ngân hàng
với số tiền 100 hay 500 triệu đồng thì khách hàng phải nộp đúng số tiền
đó ngay từ bạn đầu, nhưng với 1 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, khách hàng
sẽ đóng phí bảo hiểm trong nhiều năm.
Và
số tiền công ty bảo hiểm cam kết chi trả khi có rủi ro xảy ra không
phải là số phí mà bạn đóng vào mà là mệnh giá hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
của bạn, ngay cả khi số phí bảo hiểm bạn đóng vào chỉ bằng 1/50 mệnh
giá của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
Thành Vinh:
Thị
trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn thường được các nhà đầu tư nước
ngoài đánh giá là hấp dẫn. Với Dai-ichi Life Việt Nam, sự hấp dẫn đó thể
hiện ở những điểm nào?
Ông Takashi Fujii:
Như
đã chia sẻ, nhiều công ty bảo hiểm nhân thọ từ nước ngoài đang chuẩn bị
và tiếp tục bước vào Việt Nam, đa phần là các công ty đều đang có văn
phòng đại diện tại Việt Nam từ nhiều năm, và chắc chắn mỗi công ty đều
có những đánh giá riêng về mức độ tiềm năng của thị trường.
Vì
thế mà sự “hấp dẫn” của thị trường theo lăng kính của mỗi công ty cũng
sẽ không hoàn toàn giống nhau. Chưa kể, thị trường Việt Nam tuy nói là
còn non trẻ nhưng cũng đã có những chuyển biến, đặc biệt là về nhu cầu
và nhận thức của khách hàng. Vì lẽ đó, “sự hấp dẫn” mà mỗi công ty nhìn
nhận cũng được điều chỉnh theo với thị trường.
Điểm
chung nhất về sự hấp dẫn mà các công ty có chung, theo tôi, đó là tỉ lệ
dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ hiện vẫn chưa đạt đúng mức tương xứng
với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Tỉ lệ này hiện nay chỉ vào
khoảng gần 5% dân số, trong khi đó ở các nước phát triển như Nhật Bản tỷ
lệ này là 90%.
Như Vui:
Xin
hỏi Tổng giám đốc Ford Việt Nam. Cá nhân ông nhận định bao giờ thì Việt
Nam mới tự sản xuất được xe oto của mình? Với giá xe tại Việt Nam, để
thấp hơn, theo ông cần những yếu tố nào?
Ông Michael Pease:
Ngành
công nghiệp xe hơi của Việt Nam đang ở giai đoạn đầu phát triển và vẫn
còn non trẻ. Thị trường Việt Nam rất tiềm năng, nhưng trong ngành xe
hơi, không có một chiếc xe nào được sản xuất hoàn toàn tại m��t quốc gia
nào đó mà với xu thế toàn cầu hóa, các hãng xe tận dụng thế mạnh cạnh
tranh của các quốc gia khác nhau để sản xuất một chiếc xe.
Tại
Việt Nam, thuế vẫn đóng một phần lớn trong giá bán của xe hơi (hơn
60%). Các hãng xe nỗ lực tăng sản lượng để hạ giá thành, nhưng nếu không
giảm thuế thì giá xe ô tô tại Việt Nam vẫn không thể giảm xuống mức như
kỳ vọng của người dân.
Nguyễn Toàn Thắng:
Xin
được hỏi Cục trưởng Phan Hữu Thắng: năm 2008, trong 60,271 tỷ USD vốn
đăng ký cấp mới, số vốn điều lệ chỉ có 15,429 tỷ USD, bằng khoảng 25,6%.
Vậy có phải phần vốn đi vay chắc hẳn là rất lớn? Như thế có tiềm ẩn
nhiều rủi ro không, thưa ông?
Ông Phan Hữu Thắng:
Việc
huy động vốn vay để thực hiện dự án là rất bình thường, đối với nhà đầu
tư cả trong và ngoài nước. Điều quan trọng là tính hiệu quả của các dự
án đó.
Trên thực tế, các tổ chức tín dụng sẽ căn cứ vào hiệu quả dự án để quyết định cho vay hay không.
Vũ Văn Tạo:
Nhiều
nhận định cho rằng năm 2009 sẽ tiếp tục là một năm rất khó khăn của
ngành công nghiệp ôtô, vậy ý kiến của ông Michael Pease như thế nào?
Ông Michael Pease:
Chắn
chắn năm nay sẽ có nhiều khó khăn hơn năm ngoái. Mặc dù lãi suất cho
vay của các ngân hàng đã giảm xuống, việc vay vốn vẫn gặp nhiều khó
khăn.
Ngoài
ra, các doanh nghiệp cũng rất lo ngại về triển vọng của năm nay nên họ
cũng thu hẹp sản xuất, kinh doanh. Vấn đề thuế cũng sẽ tiếp tục là một
thách thức đối với ngành công nghiệp ôtô Việt Nam.
Khó
khăn lớn nhất trong năm nay chính là tác động từ tình hình khủng hoảng
toàn cầu tới Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã đã tung ra gói kích cầu và
được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao vì động thái này. Chúng tôi hy
vọng là Chính phủ sẽ giúp tăng cường niềm tin của người tiêu dùng.
Cho
tới khi thị trường chứng khoán phương Tây phục hồi và xuất khẩu của
Việt Nam tăng trưởng trở lại, tình hình ở Việt Nam mới có thể bớt khó
khăn.
Đỗ Hoàng Mai Thảo:
Xin
được phép hỏi Tập đoàn Fraser Suites hiện đang đầu tư ở những thị
trường trọng điểm nào ngoài Việt Nam. Trong ảnh hưởng khủng hoảng kinh
tế toàn cầu hiện nay, nếu ở những thị trường đó Tập đoàn gặp khó khăn
thì có tác động đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam không? Hiện nay ở
những thị trường đó như thế nào?
Ông Colin Tan:
Tập
đoàn Fraser Suites trên thế giới áp dụng mô hình quản lý quốc tế, mỗi
thành viên ở các nơi trên thế giới đều hỗ trợ dịch vụ đăng ký lẫn nhau
và cùng có chuẩn dịch vụ như nhau.
Nhưng
về mặt tài chính, chúng tôi là những công ty độc lập, vì vậy Fraser
Suites ở Việt Nam không bị ảnh hưởng trực tiếp từ những vấn đề tài chính
từ công ty mẹ, nếu có.
Tuy
nhiên, tôi cũng dự đoán là chúng tôi sẽ bị ảnh hưởng từ việc lượng
khách có thể sụt giảm. Các công ty lớn hiện nay giảm nhân sự, giảm hội
họp, giảm đi lại nên có thể khách đến Fraser Suites ở Việt Nam có thể
giảm. Các tòa nhà khác cũng vậy.
Chính
trong tình hình này, mạng lưới toàn cầu và mô hình quản lý quốc tế lại
tạo cho Fraser Suites Hà Nội lợi thế cạnh tranh tốt hơn các đối thủ khác
trong việc thu hút khách.
Nguyễn Hồng Dịu:
Xin
hỏi ông Colin Tan, ông đánh giá thế nào về môi trường đầu tư tại Việt
Nam? Năm 2009, người ta nói nhiều về ảnh hưởng của khủng hoảng thế giới
và khó khăn của kinh tế Việt Nam sẽ làm giảm sự hấp dẫn. Còn ý kiến của
ông thế nào? Những giải pháp nào để khắc phục nếu có những ảnh hưởng đó?
Ông Colin Tan:
Trong
cuộc khủng hoảng hiện nay, nguồn vốn đầu tư trên thế giới nói chung bị
thắt lại nên nguồn đầu tư vào Việt Nam cũng bị suy giảm. Đó là nói chung
nhưng mỗi ngành lại bị ảnh hưởng khác nhau.
Riêng
với ngành bất động sản, tôi biết một số nhà đầu tư lớn có sẵn vốn vẫn
đang tích cực mua vào và tính đến các kế hoạch phát triển mới. Một số dự
án khu căn hộ cao cấp trước đây dự định xây để bán thì trong tình hình
này, nhà đầu tư đã có ý định chuyển sang cho thuê.
Đây
là một bước rất nhạy bén. Họ cho thuê bây giờ để có tiền trả lãi ngân
hàng và đợi thời điểm thị trường tăng cao trở lại thì bán và thu lãi.
Lữ Quốc Hưng:
Dư
luận vừa qua cũng không đồng tình với việc cấp quá nhiều dự án thép, họ
cho rằng cần cân nhắc cấp phép những dự án công nghệ cao, có khả năng
cạnh tranh chứ không phải những dự án nhỏ, công nghệ thải loại của Trung
Quốc và cần tính toán đến khả năng tiêu dùng trong nước để cấp phép hợp
lý. Xin hỏi Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, quan điểm của ông như thế
nào?
Ông Phan Hữu Thắng:
Về
vấn đề liên quan đến cấp phép các dự án thép nói chung đã được Hiệp h���i
Thép Việt Nam (VSA) đặt ra và Bộ Công Thương đã tổ chức cuộc họp ngày
25/10/2007 với các bộ, ngành, sau đó đã báo cáo và Thủ tướng Chính phủ
đã có ý kiến chỉ đạo nêu quan điểm chỉ xem xét, chấp thuận các dự án
thép cụ thể như sau:
Đối
với dự án có tính khả thi cao, công nghệ hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn
môi trường, nhà đầu tư có khả năng thu xếp vốn, sản phẩm trong nước còn
phải nhập khẩu, dự án hướng đến xuất khẩu, đảm bảo nguyên tắc hai bên
cùng có lợi, và phía Việt Nam đáp ứng được yêu cầu về điều kiện hạ tầng
cơ sở, phù hợp với Luật Đầu tư hiện hành, thì vẫn được xem xét giải
quyết.
Thủ
tướng cũng giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu, ban hành tiêu
chuẩn kỹ thuật, công nghệ, thiết bị sản xuất thép, làm cơ sở cho việc
xem xét các dự án thép.
Như vậy, quan điểm chỉ đạo của Thủ tướng về xem xét dự án thép đã cân nhắc và tính đến các vấn đề quan ngại nêu trên.
Văn Thanh Hải:
Về
đầu tư nước ngoài, năm 2008 nổi bật là sự giảm sút của nguồn vốn đầu tư
gián tiếp. Đại diện Citi nhận định thế nào về hướng vận động này trong
năm 2009 tại Việt Nam?
Ông Ken Peng:
Các
giao dịch nước ngoài chiếm khoảng 1/3 tổng số giao dịch trên sàn
Tp.HCM, giảm xuống từ tỷ lệ 3/4 hồi tháng 5/2008. Và khối lượng bán của
nhà đầu tư nước ngoài đã át hẳn khối lượng mua từ tháng 9.
Một
phần của lượng vốn đi ra này là do khủng hoảng tài chính và các nhận
định về tiềm năng kinh tế toàn cầu xấu đi. Nhưng một phần khác cũng là
do việc vốn hóa thị trường Việt Nam đã giảm xuống thấp đến mức nhiều nhà
đầu tư nước ngoài không thể tiếp tục đầu tư vào đó.
Đây
là điều khác biệt chủ yếu vì nhóm thứ hai vẫn có thể quay lại khi thị
trường tốt lên và quá trình cổ phần hóa lại tiếp tục.
Đầu
tư gián tiếp nước ngoài có thể sẽ bắt đầu lại trong năm nay (có thể vào
giữa năm) khi niềm tin vào thị trường và mức độ chấp nhận rủi ro phục
hồi lại mức bình thường sau những điều kiện suy thoái kinh tế, và vì vậy
các nhà đầu tư có thể lại theo đuổi các cơ hội thay vì nắm giữ tiền
mặt.
Sự phục hồi niềm tin này có thể xảy ra trước khi nền kinh tế bước vào giai đoạn phục hồi bền vững.
Hoài An:
Gần đây dư luận chú ý về kế hoạch giảm bớt nhân sự của Citi. Xin hỏi có kế hoạch này tại Việt Nam hay không?
Ông Ken Peng:
Trong
thời kỳ nền kinh tế có nhiều thách thức và bất ổn này, Citi cũng như
các doanh nghiệp khác phải thay đổi cho phù hợp với thị trường, tăng
cường các nỗ lực của chúng tôi nhằm cải thiện hiệu quả kinh doanh.
Mục
tiêu toàn cầu của chúng tôi là cắt giảm 20% chi phí so với mức cao nhất
và nhắm tới mục tiêu 300.000 nhân viên trên toàn cầu trong nửa đầu năm
2009.
Mặc
dù có đến một nửa số nhân lực cắt giảm là do việc bán một số bộ phận
của doanh nghiệp, ví dụ như việc bán bộ phận ngân hàng bán lẻ ở Đức và
bộ phận gia công ở Ấn Độ như chúng tôi đã thông báo, chắc chắn có ảnh
hưởng đến một số nhân viên trên toàn cầu.
Trong
thời gian tới, chúng tôi sẽ cần đầu tư vào các cơ hội kinh doanh và sẽ
tiếp tục thuê thêm nhân viên ở những khu vực có mức tăng trưởng cao.
Những
thay đổi hiện nay mà chúng tôi đang thực hiện là rất cần thiết để đảm
bảo công ty được khoẻ khoắn và có khả năng đưa toàn bộ những lợi ích mà
mạng lưới kinh doanh toàn cầu của Citi có thể mang đến cho khách hàng.
Chúng
tôi đang hoạt động kinh doanh rất tốt ở châu Á - Thái Bình Dương và tại
Việt Nam, với hàng loạt các dải sản phẩm rộng lớn mà không định chế tài
chính toàn cầu nào có thể có được.
Nhien Nguyen:
Xin
cho ý kiến về ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến FDI vào
Việt Nam trong các năm sau. Liệu Việt Nam có gặp nhiều tình trạng các dự
án đăng ký nhưng không thể giải ngân? Chính phủ có chính sách gi với
các dự án đã đăng ký mà không thể giải ngân? Cảm ơn.
Ông Phan Hữu Thắng:
Chắc
chắn cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm tới, trong đó có ảnh
hưởng đến việc giải ngân của các doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng
nhận đầu tư.
Do
đó, Cục Đầu tư nước ngoài, ngay từ tháng 5/2008, đã có văn bản yêu cầu
các sở kế hoạch và đầu tư địa phương thực hiện việc rà soát dự án. Đồng
thời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cử 3 đoàn công tác xuống làm việc trực
tiếp với các địa phương có nhiều dự án đầu tư ở cả ba miền.
Theo
báo cáo của các địa phương, mặc dù có khó khăn do ảnh hưởng từ các tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, nhưng phần lớn
các dự án đã được cấp phép đều đang tiến hành với công tác chuẩn bị
triển khai ráo riết.
Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan Trung ương cũng đang xây dựng kế hoạch
hỗ trợ tối đa cho các địa phương và các nhà đầu tư (đặc biệt là các dự
án lớn) nhằm rút ngắn quy trình, thủ tục, tháo gỡ các khó khăn, vướng
mắc gây trở ngại cho quá trình giải ngân vốn đầu tư trong năm 2009.
Đối
với các dự án không thể giải ngân, trên nguyên tắc là hỗ trợ và tạo
điều kiện tối đa cho nhà đầu tư, nếu nhà đầu tư vấn không thể triển khai
được thì chúng ta buộc phải xem xét việc rút giấy chứng nhận đầu tư,
theo đúng quy định của luật pháp.
Nguyễn Toàn Thắng:
Một
thực tế là nhiều doanh nghiệp vào Việt Nam với vốn đăng ký lớn, nhưng
vốn tự có hạn chế và họ chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng nội địa. Tình
trạng này có ở Fraser Suites không, xin cho biết?
Ông Colin Tan:
Fraser
Suites Hà Nội do một công ty rất mạnh về vốn đầu tư xây dựng và Tập
đoàn Fraser Suites cung cấp dịch vụ tư vấn về thiết kế nội thất và dịch
vụ quản lý. Vì vậy, với Fraser Suites Hà Nội, chúng tôi không gặp vấn đề
gì về vốn.
Tuy
nhiên, Tập đoàn Fraser Suites cũng đang xúc tiến việc đầu tư trực tiếp
vào một số dự án xây dựng các tòa nhà cao cấp và tình hình này không ảnh
hưởng đến các dự án đó.
Hoài Trần Vũ:
Các
doanh nghiệp tham gia giao lưu hôm nay đã bao nhiêu lần đạt Giải thưởng
Rồng Vàng dành cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam rồi? Và các ngài
đánh giá thế nào về giải thưởng này?
Ông Michael Pease:
Xin
cảm ơn bạn! Ford Việt Nam đã hân hạnh nhận Giải thưởng Rồng Vàng trong 7
năm liên tục. Chúng tôi đánh giá rất cao giải thưởng này vì đây là giải
thưởng ghi nhận những đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài vào sự phát triển kinh tế nói chung của Việt Nam.
Ford
Việt Nam tự hào vì sự ghi nhận của Ban tổ chức giải thưởng đối với chất
lượng sản phẩm và dịch vụ của Ford, những nỗ lực làm hài lòng khách
hàng, cũng như những đóng góp của Ford trong các hoạt động xã hội như
bảo vệ môi trường và an toàn giao thông.
Chúng
tôi hy vọng giải thưởng này sẽ tiếp tục vinh danh và động viên các
doanh nghiệp FDI có kết quả hoạt động kinh doanh tốt tại Việt Nam trong
những năm tới.
Ông Colin Tan:
Giải
thưởng này thực sự là nguồn động viên rất lớn với Fraser Suites Hà Nội
để chúng tôi tiếp tục làm tốt hơn và cung cấp dịch vụ tốt hơn. Giải
thưởng là sự công nhận của Việt Nam với những nỗ lực của chúng tôi trong
việc cung cấp dịch vụ tốt và đóng góp cho sự phát triển của ngành này
và của Việt Nam nói chung.
Chúng
tôi cảm thấy đây là một nguồn động viên lớn. Chính giải thưởng là một
phần của những bước tiến của ngành và của đất nước hôm nay.
Bà Nguyễn Thị Vân Anh, Phó tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam:
Năm
2008 vừa qua không phải là một năm "mưa thuận gió hòa", nói đúng hơn là
năm mà "giông tố" đã nổi lên trên khắp toàn cầu bởi cuộc khủng hoảng
tài chính, năm mà nền kinh tế Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn. Các
doanh nghiệp trong nước cũng như hầu hết các doanh nghiệp trên thế giới
đã phải gồng mình lên để đối đầu với nhiều thách thức cam go.
Nhưng
cũng thật đáng khâm phục, nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam không những đã
trụ vững mà còn năng động và sáng tạo tìm ra cách vượt khó đi lên và
phát triển.
Riêng
khối doanh nghiệp FDI, năm 2008 đã đóng góp vào ngân sách nhà nước
1,982 tỷ USD, tăng 25,8% so với năm 2007. Cũng trong năm 2008, khối
doanh nghiệp FDI đã tạo ra trên 200 nghìn việc làm mới, nâng tổng số lao
động làm việc trong các dự án FDI lên 1,467 triệu người, góp phần quan
trọng vào giải quyết vấn đề công ăn việc làm - vốn đang rất nóng bỏng
của Việt Nam hiện nay.
Những
đóng góp này còn góp phần nâng cao vị thế, niềm tin của một đất nước
Việt Nam đầy tiềm năng, đầy hấp dẫn với nhiều nhà đầu tư nước ngoài, góp
phần xây dựng hình ảnh tốt đẹp, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị của
đất nước Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Thay
mặt tòa soạn và độc giả Thời báo Kinh tế Việt Nam, tôi xin chúc mừng
các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đã đoạt giải thưởng Rồng Vàng 2008.
Chúc các doanh nghiệp trên khắp cả nước một năm 2009 thành công, vượt qua mọi khó khăn và tiếp tục phát triển vững chắc.
Xuân
đang gõ cửa khắp mọi nhà, và chúng ta cùng hy vọng vào một năm mới với
niềm tin quyết thắng. Cảm ơn các vị khách mời trong cuộc giao lưu ngày
hôm nay và xin chúc quý vị sức khỏe và hạnh phúc!
Nguồn: Báo điện tử Thời báo Kinh tế Việt Nam |
|