Những tiến sĩ Đức trong Việt Minh - Heinz Schütte
Để tưởng nhớ Georges Boudarel,2
từ trần ngày 26-12-2003
I – Những trang sử chung
Nói tới những trí thức thuộc những nước sử dụng tiếng Đức
đã đi theo Việt Minh, là đụng tới lịch sử Việt Nam giai đoạn 1941-1966, và đụng
tới cả lịch sử Pháp, Áo và Đức từ năm 1933 đến nay. Đó là những trang sử chung
của chúng ta, nên đó cũng là đề tài chúng ta gặp nhau. Cuộc hội thảo này có mục
đích soi rọi một chương đoạn còn ít được biết. Về phần tôi, chỉ có thể làm công
việc truy tìm những tư liệu và từ đó, dựng lại những sự kiện. Nhưng chứng từ
của những người đã quen biết họ, làm việc với họ cũng rất quý báu và đáng hoan
nghênh.
Tôi đã may mắn tìm ra những tư liệu, đôi khi cả
những phông tư liệu trong thư khố của Cộng hoà
Dân chủ Đức cũ (CHDCĐ), của Pháp, dưới hầm một ngôi nhà nông thôn không xa
thành phố Frankfurt trên sông Main, hay trong một căn phòng chứa vật dụng phế
thải ở Paris, hoặc nhờ một bà cụ già ở Vienna. Phải nói là trong các cuộc kiếm
tìm năm 2003, đôi khi tôi có cảm giác mình đang làm sống lại những con người đã
bị người ta bỏ quên, bỏ quên vì chuyện của họ “có vấn đề”. Trên mỗi trang tư
liệu, trong mỗi cuộc hỏi chuyện, tôi khám phá ra một nét mới trong cuộc đời của
họ. Chúng ta hãy cùng nhau bù đắp sự quên lãng ấy, dù rằng đối với những ai đã
quen biết và thương mến họ, điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng suôn sẻ.
II – Một vấn đề có lợi cho CHDCĐ
Trước khi đi theo trình tự thời gian và phác hoạ lại
một vài hành trình tiêu biểu, tôi muốn nói qua về việc hồi hương của các hàng
binh dưới góc độ chính trị CHDCĐ :
Ngày 20.2.1950, Erich Honecker, lúc đó là chủ tịch
Phong trào Thanh niên Đức (FDJ), đã ra tuyên bố kêu gọi “những người lính
Đức đang ở Việt Nam trong hàng ngũ đội quân Lê Dương”. Vì sự tham gia
Lê Dương của họ “đi ngược lại tiền đồ và danh dự của dân tộc ta”, ông
kêu gọi hãy đứng sang “phe cách mạng Việt Nam hiện nay đã có nhiều người lính
Lê Dương cũ người Đức tham gia”. Honecker hứa là người nào trở về
CHDCĐ sẽ được ân xá và tạo công ăn việc làm [3]. Bốn tháng sau, chủ tịch
CHDCĐ Wilhelm Pieck nhận được thư của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản
Việt Nam cho biết “có nhiều binh lính Đức hiện đang là tù binh của Giải
phóng quân Việt Nam”. Vấn đề này được coi là rất quan trọng, Pieck đã
báo cáo trước Bộ chính trị vì “nếu chúng ta đưa được một số (những người
này) về nước, thì là một điều... quá hay cho công tác tuyên truyền sang Tây
Đức” [4]. Và khi chuyến đầu tiên chở
lính Lê Dương cũ sắp về tới Đức, tổng bí thư Đảng xã hội thống nhất (SED)
Walter Ulbricht đã chỉ thị “phát động một chiến dịch tuyên truyền chống
chính sách tái võ trang Tây Đức, thông qua những cuộc phỏng vấn, những chương
trình phát thanh và phổ biến hình ảnh” [5].
Qua việc này, ta thấy rằng, ngay từ đầu, các hàng binh người Đức đã được sử
dụng trong cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởng của CHDCĐ...
Cũng trong thời kì đó, trong những vùng Việt Minh
kiểm soát, xì xào tin đồn là đã xảy ra (và rất có thể đã có xảy ra) một cuộc
nổi loạn của lính Âu châu đào ngũ. Đó là những người đã nghe theo tiếng gọi của
Erwin Borscher, tức Chiến Sỹ, tổng biên tập những tờ báo tuyên truyền
địch vận.
Ngày 6.8.1950, cũng ở Việt Bắc, một người Đức khác,
Rudy Schröder (mà người Việt Nam quen biết dưới cái tên Lê Đức Nhân),
được ông bạn Trần Văn Giàu cho biết “một tỉ số đáng kể” hàng binh Âu-Phi
“sắp được đưa về nước”. Schröder không tài nào hỏi thêm được chi tiết cụ
thể hơn và cảm thấy chung quanh mình là sự im lặng và nghi ngờ bao trùm [8].
Đáng chú ý là Trần Văn Giàu dùng chữ tù binh chứ không dùng chữ hàng
binh. Sự lỡ lời này cho thấy thâm tâm người Việt Nam coi những
đồng minh châu Âu của họ ra sao.
Họ là ai?
Thực ra, phải phân biệt hai loại. Thứ nhất là những người sinh ra khoảng năm
1910, sau tháng giêng 1933, đã phải bỏ nước Đức hay nước Áo sang Pháp tị nạn
phát xít, đến tháng 9 năm 1939, khi chiến tranh thế giới bùng nổ, Pháp đưa họ
vào những trại tập trung, sau đó họ đăng kí vào các đơn vị Lê Dương. Họ được
đưa sang Đông Dương và cuối cùng, họ đã gia nhập kháng chiến chống thực
dân. Số người này không đông, khoảng một chục, nhưng họ là những người có
lí tưởng chính trị, có văn hóa và có học. Những người lính Lê Dương “ngoài
khuôn mẫu”.
Loại thứ
nhì, cũng là đa số, năm 1945 ở lứa tuổi 17-25, là những thanh niên mất phương
hướng sau khi chế độ Đức quốc xã sụp đổ. Vô học, vô gia cư nghề nghiệp, tứ cố
vô thân, họ tìm thấy ở đội quân Lê Dương cơ hội giải thoát khỏi cảnh ngộ khốn
cùng, một nơi chốn nương tựa. Họ đào ngũ, chạy sang theo Việt Minh vì
nhiều lí do khác nhau, trong đó chính trị là lí do ít quan trọng hơn cả.
Từ 1946 đến 1954, tổng cộng có 1325 lính Lê Dương đã bỏ ngũ theo Việt Minh,
trong đó 673 người bỏ ngũ trong thời gian 1946-48. [9]
Như đã nói
trên, chính phủ Việt Nam đã cho binh lính Đức trở về CHDCĐ. Trong số này, có cả
tù binh lẫn “hàng binh”.[10] Từ
tháng ba 1951 đến cuối năm 1955, tổng cộng có 761 người, đi làm 7 đợt, từ Việt
Bắc, qua Bắc Kinh và Moskva, về đến Berlin. Mặt khác, Erich Frey, bí danh
Nguyễn Dân, và Georges Walter, bí danh Hồ Chí Thọ, về tới Áo vào tháng năm
1951; cũng năm đó, Rudy Schröder và Walter Ullrich tức Hồ Chí Long về tới
Berlin vào tháng 11. Riêng Erwin Borchers còn ở lại Hà Nội đến năm 1965.
Dưới đây chủ yếu tôi sẽ nói về Schröder, Frey, và Borchers là ba người đã sống
với Việt Minh từ 1945 đến đầu thập niên 1950, để tìm hiểu những động cơ nào đã
dẫn họ tới quyết định tham gia kháng chiến Việt Nam, cảnh ngộ của họ lúc ở Việt
Nam cũng như khi trở về châu Âu giữa thời kì chiến tranh lạnh.
III – Bối cảnh
lịch sử
Peter
Scholl-Latour, nhà báo Đức từng tham gia binh chủng nhảy dù của quân đội thực
dân Pháp, đã kể lại chuyến đi của ông sang Đông Dương cuối năm 1945, trên một
con tầu chở quân mà Pháp mượn được của Anh. Tàu đến Hồng Hải thì “gặp từng
đoàn tàu đi ngược chiều, trở về châu Âu, cờ chiến thắng phất phới bay trên cột
buồm. Đứng chen chúc trên boong là những cựu chiến binh người Anh từ mặt trận
Miến Điện trở về quê hương trong cảnh thanh bình...”. Những binh sĩ Anh hạnh phúc ấy chế nhạo
toán chiến binh thuộc địa chậm chân, hét to : “Các cậu đi nhầm chiều
rồi”[11]...
Đất nước (Pháp, và cả Hà Lan nữa) vừa được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của
Đức, mà họ lại dấn thân vào con đường ngược chiều lịch sử. Sau khi bị sỉ
nhục trong cuộc thế chiến, họ muốn giành lại vinh quang quá vãng ở các nước
thuộc địa. Phái hữu cũng như phái tả, kể cả Đảng Cộng Sản lúc đó là đảng lớn
nhất ở Pháp, đều nhất trí như vậy. Ý đồ ấy, xét trên bình diện lịch sử, là một
hoài vọng, xét trên bình diện đạo lí, là phi nghĩa, nhưng đối với tướng De
Gaulle, cần phải làm vậy để tạo dựng nên một huyền thoại quốc gia mới nhằm khắc
phục sự chia rẽ trong quá khứ còn gần kề, để xây dựng một khối đoàn kết quốc
gia mới, khả dĩ gột rửa quá khứ trong kí ức tập thể dân tộc.
Tháng sáu
1940, nước Pháp đầu hàng Đức. Chính quyền Pháp ở Đông Dương lâm vào thế cô lập,
không thể nào chống lại sự bành trướng của Nhật Bản, và từ giữa năm 1941, họ đã
hợp tác với Nhật Bản. Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo Đảng cộng sản Đông
Dương, lúc đó ở Hoa Nam, theo dõi tình hình trong nước và chờ đợi thời cơ Nhật
Bản thất bại để Việt Nam có thể được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của ngoại
xâm. Tháng năm 1941, họ thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, tức là Việt Minh,
một mặt trận dân tộc cứu quốc, tập hợp mọi thành phần giai cấp, nhưng quyền
lãnh đạo nằm trong tay người cộng sản.
Trên mặt
tiền ngôi nhà chung cư của tôi ở Quận 10 Paris, có gắn hai tấm cẩm thạch mang
tên hai thanh niên kháng chiến đã ngã xuống đây hồi tháng 8 năm 1944. Sau
ngày giải phóng Paris, nhiều du kích thuộc FFI (Lực lượng kháng chiến quốc nội)
đã hợp thành những trung đoàn để chiến đấu bên cạnh FFL (Lực lượng nước Pháp tự
do, dưới quyền lãnh đạo của tướng De Gaulle). Một phần các lực lượng khởi nghĩa
này ngả về phe tả, nếu không nói là cộng sản, hăng hái và quyết tâm cải tạo thế
giới, không chấp nhận lập lại Nhà nước tư sản. Sau ngày Đức đầu hàng (8 tháng
năm 1945), nhiều thanh niên đã đăng kí vào Đạo quân viễn chinh Pháp tại Viễn
Đông (CEFEO), tưởng rằng để giải phóng châu Á khỏi ách phát xít Nhật.
Nhật Bản
đầu hàng ngày 15 tháng tám 1945. Ngày 2 tháng chín 1945, Hồ Chí Minh
tuyên bố độc lập và thành lập một chính phủ đoàn kết dân tộc (dưới sự lãnh đạo
của Việt Minh). Binh sĩ trẻ trong CEFEO, nhất là những thanh niên đã tham
gia kháng chiến, bèn được giải thích rằng các phần tử bản xứ cuồng tín chống
Pháp, tức là bọn Việt Minh, được quân Nhật bại trận tiếp sức, muốn chiếm đoạt
Đông Dương, cho nên phải quét sạch những băng đảng này ở thuộc địa, cũng như
trước đây đã phải giải phóng nước Pháp khỏi ách thống trị của bạo quân quốc
xã : “Ở đây, lại xảy ra cái cảnh tượng mà các bạn đã trải nghiệm. Trước
mặt các bạn là một bọn chó má, phải tận diệt chúng như các bạn đã tận diệt bọn
Đức”[13].
IV – Những
người chống phát-xít tị nạn ở Paris – Con đường dẫn họ vào Lê Dương
Trên cơ
sở các đạo luật của nền Đệ tam Cộng hoà Pháp ban hành năm 1938 và 1939, khi
chiến tranh bùng nổ, tất cả những người Áo và Đức từ 17 đến 65 tuổi đều bị đưa
vào các trại tập trung, bất luận họ theo phát xít hay chống phát xít, du khách,
viên chức hay doanh nhân. Đàn ông phải vào trại ngay từ tháng chín 1939, còn
đàn bà bị đưa vào Vélodrome d’Hiver (Trường đua xe đạp mùa đông ở Paris) vào
tháng năm 1940, khi chấm dứt thời kì “chiến tranh kì quặc”, rồi sau đó, họ bị đưa vào các trại Milles và
Gurs ở miền nam nước Pháp. Trong năm 1939, có 1171 người Đức bị tập trung
đã đầu quân vào Lê Dương, và chỉ trong mấy tháng đầu năm 1940, số đầu quân đã
lên gấp đôi. Người ta ước tính có khoảng 3000-3500 người Đức trong trại
tập trung đã đầu quân trong thời kì 1939-40, và khoảng 5000 tù binh Đức đã gia
nhập Lê Dương trong thời gian từ tháng tám 1944 đến cuối năm 1946.[16]
Câu
chuyện cuộc đời của Rudy Schröder quê quán ở thành phố Köln (Đức) cho thấy một
chuỗi dài những ngẫu nhiên đã đưa đẩy ông vào Lê Dương, rồi bước sang hàng ngũ
Việt Minh, trở về Đông Đức, rồi cuối cùng chạy sang Tây Đức. Nó cũng cho thấy
là cái cách xếp loại “chống phát xít”, “cộng sản” đã được sử dụng một
cách quá dễ dãi để giải thích theo thuyết “tất định” hành trình của một con người...
Trong tự
truyện của mình, nhà chính trị học và triết gia Raymond Aron (từ năm 1930 đến
1933 làm trợ lí giảng dạy Pháp văn ở Trường đại học Köln) đã viết như
sau : “Tại Cologne (tên tiếng Pháp của Köln, chú thích của N.D.) tôi
được gặp một sinh viên trẻ làm tôi rất cảm mến, đó là Rudy Schröder. Cha anh
buôn bán áo mưa và ô dù. Trong thời gian ở Đức, tôi đã chơi rất thân với Rudy.
Anh ta tởm lợm chủ nghĩa quốc xã. Hai năm sau, anh chạy sang Paris và sống vất
vưởng cho đến ngày khai chiến. Lúc đó, anh đầu quân vào Lê Dương, rồi khi chiến
tranh chấm dứt, tôi được tin... ở Đông Dương anh đã chạy sang hàng ngũ của Hồ
Chí Minh. Một hôm, trên tờ Le Figaro, tôi đọc thấy một bài báo... nhan
đề Tên đại tá SS Rudy Schröder… Tôi có tìm cách viết thư liên lạc nhưng
có lẽ anh không hề nhận được. Năm 1946, ông bà thân sinh hỏi tôi có tin tức gì
không; khoảng 1960, nghe người Đức nói anh làm giáo sư Trường đại học Leipzig.
Nếu anh vẫn còn sống ở Đông Đức, tôi cũng muốn gặp lại anh. Tôi khó tin rằng
cuộc sống đã biến được anh thành một đảng viên cộng sản trung kiên. Song việc
anh đã đào ngũ khỏi Lê Dương và từ bỏ chế độ của Pháp ở Sài Gòn hay Hà Nội
không làm tôi ngạc nhiên; vả lại tôi nhân danh cái gì mà trách anh?”.[17]
Tuy có một vài tiểu tiết sai lệch, mấy dòng vừa trích của một người cựu kháng
chiến đã tóm tắt những chương chính trong cuộc đời của Rudy Schröder, chỉ thiếu
chương hồi cuối là năm 1959, ông trốn sang Tây Đức. Tiếc thay, hai người bạn
thâm giao ấy đã không bao giờ gặp lại nhau.
Ý nghĩa
cuộc đời của Schröder vượt quá phạm vi cá nhân – và điều này cũng đúng đối với
những người khác mà tôi sẽ đề cập ở đây. Như tôi đã nói ở trên, nó minh hoạ
lịch sử đau khổ của nước Đức, nước Pháp và của nước Việt Nam thế kỉ XX. Schröder
là người miễn cưỡng “đổi tuyến”. Nếu
không vì hoàn cảnh chính trị đẩy đưa thì rất có thể ông đã trở thành giáo sư
một trường đại học Đức, có quan hệ chặt chẽ với những đồng nghiệp người Pháp,
viết dăm ba cuốn sách về xã hội học, chính trị và văn học, hay lịch sử văn hoá
và viết những bài tiểu luận tuyệt vời trên các báo hay tạp chí.
Schröder
sinh năm 1911 tại Köln (Cologne), mang nặng dấu ấn của quá khứ văn minh La Mã
của thành phố này – tính tình ông bay bướm, hưởng lạc, khiếu thẩm mĩ tinh tế,
đồng thời say mê tìm hiểu, truy hỏi, khám phá những mâu thuẫn của cuộc sống.
Hai mặt đối ngẫu ấy có thể dẫn tới bệnh trầm cảm và bất mãn sâu sắc nếu đương
sự không được trọng thị trong xã hội. Trong bản Lý lịch Đảng viên
(có lẽ viết vào tháng ba 1950), Schröder khai thành phần xuất thân của mình là Tư
sản.[18]
Thời gian này, ông dùng bí danh Lê Đức Nhân, cũng có người chỉ biết ông
dưới cái tên Đức là Kerkhof(f). Thời sinh viên, ông học xã hội học, tiếng Pháp
và văn học Đức, tham gia Phái cộng sản sinh viên (KOSTUFRA).[19]
Lúc đó, thầy học của ông là người Do Thái, bị bọn quốc xã cho “về hưu”,[20]
Schröder đã ngang nhiên mang bó hoa tới tặng thầy. Tờ báo nazi Der Stürmer đã
lớn tiếng thoá mạ, coi ông là kẻ thù của chế độ, là cộng sản và thân Do Thái.
Mặc dầu hoàn cảnh lúc đó, đối với chàng thanh niên Schröder, di cư sang Paris
không phải là một đại hoạ, mà là cơ hội thực hiện một ước muốn sâu xa nhất. Tại
trường Sorbonne, ông đỗ ngay ba, bốn chứng chỉ cử nhân, làm việc bán phần cho
Viện xã hội học Frankfurt lưu vong tại Paris với cương vị trợ lí cho nhà tư
tưởng lớn Walter Benjamin.[21]
Trong một lá
thư tháng mười một 1939 viết từ New York, Max Horkheimer nói tới “Herr Schröder
(như là) một nhà bác học trẻ hết sức thông tuệ. Chúng tôi hi vọng sẽ
tranh thủ để ông trở thành một đồng nghiệp khoa học xuất sắc”.[22]
Về mặt vật chất, cuộc sống rất chật vật. Để có thể sống qua ngày đoạn tháng,
Schröder phải đi làm thêm trong một xưởng dệt, có lúc phải vác những tấm thảm
đi gõ cửa rao bán từng nhà.
Một người
bạn hồi đó, Fritz Meyer, bị giam cùng trại tập trung với Schröder. Năm
2003 ở Paris, ông Meyer kể lại cho tôi: khi tới sân vận động Colombes (ngoại ô
tây bắc Paris, chú thích của ND), họ được người ta nói rõ là họ sẽ ở mãi sau
hàng rào kẽm gai cho đến ngày chiến tranh kết thúc, trừ phi là họ đăng kí đầu
quân vào đội Lê Dương; ai “tình nguyện” đầu quân thì gia đình sẽ không bị đưa đi tập trung. Sau này, Schröder
viết: “Chỉ nghĩ tới việc vợ tôi và cháu bé chưa đầy một tuổi thôi nôi phải
vào trại an trí là tôi thấy không tài nào chịu nổi rồi”.
V – Từ Paris
đến Hà Nội qua Sidi Bel Abbès
Thật ít
có khả năng Schröder và Borchers quen nhau từ Paris... Erwin Borchers sinh năm
1906 tại Strasbourg, người vùng Alsace gốc Đức. Cha ông làm thợ tiện trước khi
trở thành quân nhân, là người nước Phổ. Mẹ ông quê vùng Alsace, thuộc một gia
đình sống bằng nghề trồng nho. Gia đình Borchers như vậy là một gia đình sống ở
vùng giáp ranh giữa hai nước, bị xâu xé giữa hai quốc gia và giữa hai chủ nghĩa
quốc gia. Con người ở đây dễ bị lâm vào thảm kịch “cái gì của con người cũng
bị chính trị hoá”, có
nguy cơ ngày mai là anh hùng... (và) ngày kia biến thành tên
phản quốc”[23]
chỉ vì muốn bám trụ ở một vùng đất bị hai chính quyền đối nghịch tranh giành...
Trong bản
lí lịch viết năm 1966 tại Berlin, Borchers cho biết cha ông hết mực ủng hộ
hoàng đế Đức khi lên đường ra trận tham gia Đại chiến thế giới lần thứ nhất,
đến khi trở về đã thành người ủng hộ chế độ cộng hoà và chủ nghĩa hoà bình,
điều này đã tác động sâu sắc khiến ông trở thành khuynh tả. Năm 1918, khi tỉnh
Alsace-Lorrraine trở lại thành lãnh thổ Pháp, gia đình ông di cư sang Đức.
Chàng Borchers “ngay từ thời con trai, đã bị chính trị ám ảnh” (Lilo Ludwig) “lãng mạn” dài dài (Susanne Borchers) theo học các
môn Pháp văn, Đức văn và sử học, nuôi mộng trở thành nhà giáo, và tham gia nhóm
xã hội chủ nghĩa. Khi Hitler lên cầm quyền, Borchers là thành viên một
nhóm tuyên truyền bí mật, in và rải truyền đơn chống nazi. Bị tố cáo và
bị công an thẩm vấn, Borchers lánh sang Pháp, tiếp tục theo học đại học ở
Aix-en-Provence và Paris, năm 1936 tốt nghiệp cử nhân văn học và ngữ văn
Đức. Ông già Borchers, một người cha độc đoán, thấy con trai bỏ nước ra
đi thì không vừa lòng chút nào, vì đối với ông, đó là một hành động phản bội tổ
quốc. Là công dân Đức, Erwin Borchers không được tuyển dụng vào giáo giới
Pháp, phải đi làm công ở hiệu sách Biblion, phố Bréa. Xin gia nhập
quân đội Pháp để chiến đấu chống Nazi thì bị từ chối, vì lấy chồng Đức là “mẹ
anh đã phản bội Tổ quốc Pháp”.[24]
Erwin Borchers bị đưa vào trại tập trung Colombes ngày 3 tháng chín 1939, tại
đây, anh kí giấy đầu quân vào Lê Dương. “Đối với tôi, trong thời kì chiến
tranh, phục vụ trong hàng ngũ Lê Dương là một điều có thể chấp nhận được về mặt
chính trị, vì Lê Dương nằm trong quân đội Pháp, khách quan mà nói, là một lực
lượng của khối đại đồng minh chống Hitler mà Liên Xô là thành viên... Lê Dương
đang đối đầu với Hitler ở Narvik, ở Monte Cassino và trên nhiều mặt tận khác...”.[25] Đúng là ở thời điểm 1939,
đạo quân Lê Dương mang hào quang chống phát-xít.
Chẳng mấy
lúc, Borchers và Schröder mất hết ảo tưởng về phong cách chính trị - quân sự
của đội quân Lê Dương. Toàn quyền Decoux ngày càng áp đặt nhãn quan “cách mạng
quốc gia” và “suy tôn chiến sĩ” theo đúng đường lối của Pétain. Đó không phải
là bầu không khí dân chủ và chống phát-xít họ chờ mong, mà giống như bầu không
khí mà họ đã trốn tránh. Vấn đề chống Nhật không đặt ra vì Decoux đã kí kết
thoả ước chấp nhận sự chiếm đóng của quân đội Nhật Bản, như Pétain đã kí kết
với Đức ở bên Pháp. Lí do Decoux nêu ra là để duy trì Đông Dương cho nước Pháp.
Borchers và Schröder đã nhận thức ra thực tại của chế độ thực dân và được biết
người An Nam đang hoạt động kháng chiến ở vùng Đông Bắc. Tổ chức kháng chiến
còn phôi thai của Pháp tại Đông Dương thì chủ trương Đông Dương phải trở về
trong lòng đế quốc Pháp, do đó họ từ chối mọi sự hợp tác với Việt Minh và dân
chúng trong công cuộc kháng Nhật. Ngày 9 tháng ba 1945, Nhật đảo chính, Pháp
thua... Việt Minh kêu gọi cùng nhau kháng chiến chống Nhật, rồi kêu gọi bình
đẳng và độc lập, phía Pháp không hiểu ra. Ngay đến năm 1946, khi Võ Nguyên
Giáp, bộ trưởng nội vụ, đón chào Leclerc, tổng tư lệnh Pháp, bằng câu : “Là
người kháng chiến Việt Nam, tôi xin chào một người Pháp kháng chiến vĩ đại...”,[31] cũng vẫn thế.
VI – Vượt khỏi
sự dấn thân dân tộc...
Đến đây,
tôi muốn dành đôi dòng để nêu câu hỏi này: Vì sao Schröder và Borchers đã sẵn
sàng hợp tác với cuộc kháng chiến của Việt Minh và đã tham gia Việt Minh với “lương
tâm yên ổn và hăng hái tin tưởng” [32] ? Đối với những người yêu
nước và dân tộc chủ nghĩa (câu hỏi này đặt ra cho người Đức và người Áo trong
hai cuộc thế chiến, và cho người Pháp trong các cuộc chiến tranh thuộc địa),
câu hỏi đặt ra là: làm sao tưởng tượng nổi là người ta rời bỏ cái nôi quốc gia
tự nhiên và đứng sang hàng ngũ địch? Cần phải nhấn mạnh là Schröder cũng như
Borchers đều không phải là những người cộng sản chính thống, họ không coi cách
mạng là mục tiêu tối thượng.
Vậy thì
cái gì đã thúc đẩy họ rời bỏ hàng ngũ? Ban đầu, như ta thấy, quyết định đầu
quân Lê Dương là do hoàn cảnh đưa đẩy. Đối với Schröder, thế giới “thiếu sự
nhất quán”, “chẳng có cách nào thoát khỏi phi lí”.[33] Nhưng bước sau, gia nhập
Việt Minh, là một quyết định gay go hơn nhiều, bởi vì đi với Việt Minh là qua
sông đốt cầu với Tây Âu. Cảm tưởng của tôi là đối với người trí thức – nhưng
không riêng gì trí thức – có một sự “giác ngộ”, một ước vọng về một thế giới
‘tự nhiên’, thì ý muốn tham gia vào một chính nghĩa vừa có tính chất chính trị
vừa có tính chất đạo lí... Sự giác ngộ ấy được thể hiện trong tập chuyện tranh
nhan đề Les Oubliés d’Annam (Những người bị quên lãng ở An Nam): sau
ngày Paris giải phóng, một thanh niên kháng chiến Pháp đầu quân vào Lê Dương để
tiếp tục chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít, và phải đối mặt với một biến cố
làm anh phải nhìn thế giới với một con mắt khác. Một tên lính Lê Dương cũng
người Pháp cãi nhau với người phu xich lô về giá cả chuyến xe, rồi rút dao đâm
chết anh xích lô. Anh thanh niên Pháp khởi tố tên lính Lê Dương, tên này chỉ bị
15 ngày tù. Anh viết thư cho mẹ: “Con không những tham gia vào một cuộc
chiến tranh bẩn thỉu, mà còn ở trong một quân đội gồm những tên sát nhân. Ô
nhục quá...”. Và “càng ô nhục hơn nữa, vài ngày sau, người đầu bếp trại
lính vốn khoái thịt chó đã bị kết án một tháng tù vì tội làm thịt con chó của
đại uý”[34].
Claudia Borscher, con gái của Erwin, xác nhận với tôi là cha cô thường hay kể
lại câu chuyện đã khắc sâu vào tâm khảm của ông. Câu chuyện ấy biểu hiện
cấu trúc xã hội của chủ nghĩa thực dân, nó làm lộ rõ những mâu thuẫn của thế
giới chúng ta đang sống. Và giúp chúng ta nhìn nó với một khoảng cách.
Điều đó
rất đúng đối với Ernst Frey, sinh năm 1915 trong một gia đình Do Thái
Hung-ga-ri không còn sùng đạo. Cha là một đảng viên dân chủ xã hội khát khao
trau giồi văn hoá. Thế giới của gia đình này gói gọn trong biên giới quốc gia,
ngôn ngữ và tôn giáo của đế chế Áo-Hung. Truyền thống Do Thái trở thành chủ đạo
từ khi bọn Nazi giam hãm họ trong truyền thống ấy. Sau một thời tuổi trẻ say mê
sùng đạo Công giáo, chàng trai Ernst đã tìm thấy con đường cộng sản chủ nghĩa
thông qua giai đoạn dân chủ xã hội và hoạt động trong VSM (Hội học sinh xã hội
chủ nghĩa). Phải nói thêm là hành trình của Ernst mang nặng dấu ấn kinh nghiệm
cá nhân về chủ nghĩa bài Do Thái và chủ nghĩa quốc xã. Ernst Frey đã tìm thấy ở
chủ nghĩa Marx một phản mô hình cung cấp cho anh những công cụ cần thiết để đấu
tranh chống chủ nghĩa phát xít.
Năm 1934,
“gia nhập Liên đoàn cộng sản thanh niên”, Frey viết, “tôi đã trao
hiến toàn bộ con người tôi cho đảng”. Câu tiếp theo rất có ý nghĩa vì nó
giúp ta hiểu nhiều khúc quay ngoắt trong cuộc đời phong ba của Ernest Frey: “Sự
quy phục toàn diện của tôi là tự nguyện, không một chút do dự, tôi đặt Đảng lên
trên mọi giá trị”. Con người ông bị ám bởi một thứ chủ nghĩa Mêsia nửa
chính trị nửa tôn giáo, bởi mặc cảm cứu rỗi được biện minh bởi sự bức hại của
chế độ Nazi. Do “hoạt động trong một hội kín (VSM) và bị lên án phản quốc”,
Frey đã bị bỏ tù và “vĩnh viễn khai trừ” khỏi các trường đại học trên
toàn nước Áo.[35]
Ngày 15 tháng ba 1938, “cả thành phố Vienna bị thất điên bát đảo
– Führer tiến vào thành phố”. Mẹ của cậu Ernst “giữa
ban ngày ban mặt bị đánh đập, phết sơn lên khắp người, nhục mạ, phỉ nhổ và nhạo
báng hàng giờ liền”. Cuối cùng, trước tối hậu thư, “phải chọn lựa
giữa tù đày hay lưu vong”, Frey quyết định xung phong vào Lữ đoàn quốc tế ở
Tây Ban Nha. Trên đường đào vong, ông bị bọn SS bắt được, giam cầm trong tù ba
tháng rồi bị đại đế chế Đức truất tịch. Sang Paris, ông đi gõ cửa từng nhà để
chào bán bút chì. Khi chi bộ đảng quyết định không cho phép sang Tây Ban Nha,
Frey đăng kí đầu quân 5 năm vào Lê Dương để chống Hitler; đói meo, không một xu
dính túi. Ngày 17 tháng ba, ông lên tàu Dupleix ở hải cảng Casablanca;
ngày 1 tháng bảy 1941 cặp bến Sài Gòn. Cuối năm ấy, cùng với Schröder, Borchers
và mấy người khác, Frey thành lập một chi bộ cộng sản trong đội quân Lê Dương
đồn trú ở Việt Trì.[36]
Công phẫn
trước sự hợp tác Pháp-Nhật và sự móc ngoặc với các nước phe trục, họ tìm cách
bắt liên lạc với những đảng viên xã hội Pháp ở Hà Nội. Họ cũng tìm cách bắt
chuyện với những người An nam mít ở Việt Trì, nhưng quả là xôi hỏng bỏng
không vì dường như người bản xứ không thể nào tưởng tượng được là có những
người Âu quan tâm tới họ, muốn thảo luận với họ. Trong các buổi họp bí mật của
chi bộ, lúc đầu họ còn bàn tới chiến tranh và mổ xẻ chủ nghĩa phát xít, nhưng
chẳng mấy lúc, đề tài chủ nghĩa thực dân đã trở thành chủ đạo.[37] Họ muốn thống nhất chi bộ của họ
và bộ phận địa phương của kháng chiến Pháp thành một mặt trận thống nhất để bắt
liên lạc với Đảng cộng sản Đông Dương hay Việt Minh. Tháng mười một 1943, ở
trung tâm Hà Nội, gần hồ Hoàn Kiếm, Frey gặp một đại diện cấp cao của ĐCSĐD.
Cuộc gặp do Georges Walter dàn xếp qua sự trung gian của Louis Caput, bí thư
Đảng bộ Bắc Kì của Đảng xã hội Pháp.[38] Đầu năm 1944, Borchers gặp tổng
bí thư đảng, Trường Chinh, “trên một cánh đồng ruộng gần Hà Nội”,[39]
tuy lúc đó Trường Chinh không nói mình là ai. Tôi có cảm tưởng chi bộ Lê Dương
đã được sáp nhập vào ĐCSĐD vào đầu mùa hè 1944, [40] và đó là mối liên hệ duy nhất
thực sự giữa Việt Minh và nước Pháp tự do trước ngày Nhật đảo chính 9 tháng ba
1945. Trường Chinh đã đề nghị các phần tử người Âu chống phát xít hãy cộng tác
với Việt Minh song không nhóm nào, phe De Gaulle hay Đảng xã hội, muốn chấp
nhận ý tưởng một nước Việt Nam độc lập. Viễn cảnh liên minh quân sự Âu-Việt
chống Nhật với mục tiêu Việt Nam độc lập đã tan biến.

Hình 1
Từ trái qua phải:
Ngồi: Phạm Văn Đồng, Erwin Borchers / Chiến Sỹ, Ernst Frey / Nguyễn Dân,
Võ Nguyên Giáp, Đặng Bích Hà (vợ tướng Giáp) ; Đứng : Lưu Văn Lợi, X, X, Rudy
Schröder / Lê Đức Nhân (Bộ ảnh sưu tầm của H. Schütte)
VII - …tiến tới đoàn kết cộng hoà &
chống thực dân
Sau ngày
9 tháng ba, một vài người Pháp quy phục Việt Minh vì muốn trốn tránh sự đàn áp
của quân Nhật. Borchers, Frey và Schröder cùng mấy ngàn binh sĩ bị Nhật bắt làm
tù binh, lúc đầu bị giam trong thành Hà Nội, sau đó bị đưa lên trại “tận diệt” gần
Hoà Bình.[41]
Họ bị lao đao vì bệnh kiết lị và thương hàn. Nhật Bản đầu hàng ngày 15 tháng
tám, Việt Minh tiến hành Cách mạng tháng Tám như một dòng thác lũ dân tộc chủ
nghĩa. Schröder ghi : “Người an-nam-mít đã trở thành người Việt Nam”.[42]
Ngày 2 tháng 9, Hồ chủ tịch tuyên bố độc lập với mục đích xây dựng một quốc gia
đoàn kết thành một khối thống nhất và thuần nhất.
Các tù
binh được trả tự do ngày 16 tháng 9. Frey-Schröder đã có nhiều cuộc họp với các
đảng viên xã hội tập hợp chung quanh Louis Caput, có lẽ với sự thoả thuận ngầm
của Jean Sainteny, với mục đích dùng các đảng viên chi bộ làm trung gian nhằm
đưa chính phủ Hồ Chí Minh nhận thương lượng với các đại diện của Pháp có mặt
tại chỗ, nhưng đại diện Pháp không chấp nhận độc lập là điều kiện tiên
quyết – tối cùng, họ chỉ chấp nhận thảo luận về những phương thức
đưa tới một nền độc lập trong tương lai. “Họ vẫn dùng chữ An-na-mít”,
Frey nhận xét, “còn chúng tôi nói: Người Việt Nam”.[43]
Frey thu
xếp với Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp để ông và hai bạn Walter
Ullrich và Georges Wächter chuyển sang hàng ngũ Việt Nam, vì như lời Borchers, “nơi
đây, triết học sắp trở thành thực tiễn, và tôi có cảm tưởng họ sẽ cần tới chúng
ta”.[44]
Cuộc đào ngũ của họ được nguỵ trang thành một công tác gián điệp cho chính
quyền Pháp (như Schröder viết) hay một công tác do Caput-Sainteny giao cho nhằm
thuyết phục những người lãnh đạo Việt Minh chịu thương lượng với Uỷ viên Cộng
hoà Pháp ở Bắc Kì. Nhóm đồng chí đi ra khỏi Thành cổ Hà Nội trong một
chiêc xe Buick cũ. Tôi mường tượng công cuộc mới này quyến rũ và kích động họ
tới mức nào. Họ vừa sống sót sau một cuộc đại chiến, họ còn trẻ tuổi, và chắc
mẩm đã tìm ra chính nghĩa...
Đầu mùa
thu 1945, Nhật đầu hàng và Việt Nam tuyên bố độc lập, người Pháp không còn có
thể nói họ ở Đông Dương để đánh các lực lượng phát xít phương Đông như trước đó
họ chiến đấu chống Đức quốc xã và chính quyền Quốc gia Pháp cô-la-bô.
Nói như vậy chẳng ai tin. Từ nay, rõ ràng người Pháp là kẻ xâm lăng, chống lại
những người yêu nước, những người quốc gia đang bảo vệ nền độc lập của đất
nước; một cách nào đó, họ đã trở thành bọn Nazi của người Việt Nam và Việt
Minh. Quân lính Pháp ngày càng thắc mắc, nghi hoặc : “Trước mặt họ,
người ta nói thế, là Cộng sản; nhưng Cộng sản là như thế nào? Ở Pháp, chính
đảng số 1 không phải là Cộng sản sao?... Có thể nào tin vào lời nói cửa miệng
của bọn lãnh đạo tồi tệ như vậy không?... Có một điều họ chắc chắn : trước
mặt họ, là những người Việt Nam chiến đấu cho độc lập của đất nước họ”.[45]
Trong
những người đổi hàng ngũ nói trên, có những người đã làm vì tinh thần đoàn kết
xuyên quốc gia, họ “đã chọn một tổ quốc mới, tin tưởng vào nhân sinh quan và
đường lối chính trị của tổ quốc mới – họ nói tới tổ quốc cũ như là nói tới một
đất nước thù địch”.[47]
Sau khi những người “phản quốc vì lí tưởng” ấy đã bước sang “bên kia”, họ được
tổng bí thư Trường Chinh phân công vào cơ quan tuyên truyền (riêng Walter
Ullrich công tác trong quân đội, sau được phong hàm trung tá, dưới bí danh Hồ
Chí Long; còn Georges Wächter tức Hồ Chí Thọ trước khi làm báo đã theo học
trường kĩ sư ở Vienna, nên được sắp xếp làm công tác kĩ thuật và tổ
chức). Schröder làm bình luận viên Đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam, còn
Frey làm việc dưới quyền tướng Giáp, nghiên cứu quân sự và tổ chức những lớp
học quân sự đầu tiên cho Quân đội Nhân dân. Borchers mang quân hàm trung
tá, làm chính uỷ phụ trách tuyên truyền địch vận; ông có nhiệm vụ biên tập các
tài liệu tuyên truyền tiếng Pháp và tiếng Đức, và từ năm 1951 trở đi, phụ trách
tuyên huấn cho khối tù binh Lê Dương người Đức. Bộ ba Borchers, Frey và
Schröder chuẩn bị xuất bản tuần báo La République (Cộng hoà), rồi Le
Peuple (Nhân Dân) “nhằm làm cho người Pháp thấy chính phủ Việt Nam và
Việt Minh không phải là phiến loạn mà là những tổ chức hợp pháp, dân chủ. Mọi
mưu toan dùng võ lực tái chiếm sẽ được coi là vi phạm nhân quyền”.[48] Có lẽ những tờ báo này
cũng nhắm cả giới độc giả thượng lưu Việt Nam biết tiếng Pháp.

Hình 2
Từ trái sang phải:
Dương Bạch Mai, Ernst Frey / Nguyễn Dân, Trường Chinh, X,
Georges Wächter / Hồ Chí Thọ, Rudy Schröder / Lê Đức Nhân
(Bộ ảnh sưu tầm của H. Schütte)
VIII – Vỡ mộng, tìm đường trở về
Các nhà lãnh đạo của nước Việt Nam mới chủ yếu là
những trí thức hay những nhà cách mạng chuyên nghiệp, phần đông đã học trường
trung học Pháp-Việt và thạo tiếng Pháp, nhưng họ chưa bao giờ là những nhà
chiến lược quân sự, kĩ thuật viên, kính tế gia hay những người tổ chức bộ máy
hành chính. Vì vậy những người ngoại quốc từ bỏ hàng ngũ để đi theo kháng
chiến, quân nhân cũng như dân sự, học cao và có khả năng kĩ thuật, trung thành
với sự nghiệp kháng chiến và sẵn sàng hi sinh, đã được hoan nghênh tích cục,
một số đã giữ những vị trí cao.
Borchers,
như đã nói trên, được cử làm chính uỷ, với quân hàm trung tá trong quân đội,
phụ trách địch vận. Hữu Ngọc, nhà báo và nhà văn nổi tiếng, phụ trách khối
“hàng binh” người Âu trong thời kì chiến tranh (dưới quyền chỉ huy của tướng
Nguyễn Chí Thanh). Từ năm 1947, cùng với bạn là Borchers, đã ấn hành các tờ báo
Waffenbrüder – Kampforgan der Deutschen im Dienste Viet-Nams và Frères
d’armes – Organe de Combat des Amis du Viet-Nam (Chiến hữu -- Cơ quan ngôn
luận của những người Bạn của Việt Nam). Đến năm 1950, hai tờ này đổi tên thành Heimkehr
và Retour (Trở về). Chiến Sỹ còn dạy tiếng Đức cho Hữu Ngọc, và “nhất
là văn hoá Đức!” (theo yêu cầu của Hữu Ngọc). Giữa thập niên 1950, Hữu Ngọc
đã dịch các chuyện kể của anh em họ Grimm ra tiếng Việt – âu cũng là hệ
quả thứ yếu của một cuộc chiến tranh ghê gớm từ đó đã nảy sinh những gì anh
hùng, cao đẹp nhất cũng như những gì thú tính và tàn bạo nhất của con người.
Như vậy
là khi nhận thấy trong hàng ngũ Việt Minh, mình đã mất dần ảnh hưởng và trở
thành vô dụng, Frey đã “phát điên”. Để tìm ra đáp án cho một thực tế quá đớn
đau, ông đã chọn giải pháp tín ngưỡng. Đó cũng là cách giải quyết cùng một lúc
hai vấn đề: rời Việt Nam và trở về nước. Thật vậy, tôi tự hỏi, muốn trở về và
được chấp nhận, trong tình cảnh của E. Frey, phải chăng chỉ có một cách là trở
về như một người “khác” – “khác” con người trước kia phải ra đi vì bị ruồng
bỏ – cụ thể là trở về như một tín đồ Công giáo sùng đạo. ‘Giải pháp’ này
có ưu điểm là nó thoả mãn truyền thống văn hoá thống trị của nước Áo. Bằng sự
‘tái sinh’ trong niềm tin Công giáo, Frey có thể tìm ra chỗ đứng trong xã hội
Vienna. Ở một cấp độ khác, theo đạo còn là cách tiếp tục cuộc thánh chiến
thường trực mà ông đeo đuổi là giải thoát thế gian khỏi sự ngự trị của cái Ác.
Về tới
Vienna năm 1951, Frey đến trụ sở Đảng cộng sản để báo cáo về các hoạt động và
chiến tích của mình từ năm 1938. Rồi ông lấy vợ, sinh được hai đứa con gái,
sống bằng nghề đi chào hàng may dệt. Tại Vienna, quây quần chung quanh Frey là
cả một lứa thanh niên say mê nghe ông kể chuyện quá khứ, coi ông là cha đẻ tinh
thần, là mẫu mực chính trị. Chưa hết. Công việc chào hàng nay đây mai đó, đưa
ông đi khắp các miền nước Áo và nước Đức, cũng là cơ may để ông thoát ra khỏi
kiếp sống tiểu tư sản và thân phận một người kể chuyện. Thật ra, Frey có máu cờ
bạc, đi chào hàng cũng là dịp đi khắp các sòng bạc. Trên thảm xanh của sòng
bạc, chẳng hạn như sòng bạc Baden-Baden, nửa say nửa tỉnh, ông muốn tìm lại
những cảm giác mạnh của những cuộc phiêu lưu mạo hiểm đã lùi vào quá vãng, mà
nay ông muốn tái tạo trên chiếu bạc dưới con mắt dò xét của hồ lì. Vào những
năm cuối đời, Frey bỏ đạo để hoạt động bảo vệ môi trường, rồi lại đùng đùng bỏ
đảng xanh, về làm đầu bếp tại xứ đạo của một người bạn là linh mục Faust, làm
việc quần quật để trang trải những món nợ sòng bạc. Ông từ trần năm 1994 tại
Vienna, với lời trối trăng để lại cho hai người con gái: “Các con phải xuất
bản cho được cuốn sách của bố”.
Các cuốn
nhật kí viết ở Việt Bắc của Schröder là nguồn tư liệu quý giá giúp ta hiểu
nhiều điều, đặc biệt là mối quan hệ giữa hàng binh người Âu và các đồng chí
Việt Nam của họ. Schröder “cảm thấy bị bỏ rơi như một người làm công bị sa
thải vậy”. Tháng tám 1951 ông rời Việt Nam, tháng mười một về tới Cộng hoà
Dân chủ Đức, dạy Đức văn và lịch sử trong một trường trung học ở thành phố
Dresden. Năm 1953, ông kí hợp đồng làm việt cho cơ quan mật vụ Stasi.[56] Nhiệm vụ của ông là báo
cáo về “những phần tử tiêu biểu trong giới trí thức”, nghĩa là về những
đồng nghiệp và học trò của mình, cũng như về bạn bè cũ trong đội quân Lê Dương.
Tôi đã được đọc những bản báo cáo này và có thể kết luận Schröder không hề tố
cáo ai cả. Ngược lại, trên những trang viết ấy, ông từng bước phê phán chế độ
và biểu lộ sự nôn nóng, tuyệt vọng của mình về hoàn cảnh cuộc sống. Vào cuối
thập niên 1950, ông bị “khó khăn chính trị” và mất việc. Sau đó ông làm thợ
tiện trong nhà máy; cuối năm 1959 cùng với người vợ trẻ, trốn sang Tây Đức. Hi
vọng làm báo không thành, cuối cùng Schröder phải nhận một chỗ dạy Pháp văn tại
một trường tư ở Frankfurt trên sông Main với đồng lương bạc bẽo. Tháng giêng
1977, ông chết trong cô đơn, tuyệt vọng, nhưng đến giờ phút cuối cùng, Schröder
vẫn tiếp tục viết.
Tình cảnh
của Frey, Borchers và Schröder minh hoạ thảm kịch cùng cực của con người sống
giữa hai trận tuyến, Zwischenfrontmensch. Năm 1945, Việt Minh nồng
nhiệt nhận đón Frey và các bạn ông. Với sở trường về tuyên truyền, tổ chức,
hiểu biết kĩ thuật và quân sự về mặt lí thuyết cũng như trong thực hành, họ đã
giúp ích cho Việt Minh. Song, sau thắng lợi của chiến dịch biên giới đông bắc
năm 1950, tình hình thay đổi hoàn toàn với sự có mặt đông đảo của các cố vấn
Trung Quốc, từ đó bắt đầu một quá trình “cải tạo cộng sản chủ nghĩa” trong một
phong trào cho đến lúc ấy vẫn mang sắc thái của một mặt trận nhân dân. Từ nay,
cố vấn Trung Quốc mới là đồng chí cách mạng quốc tế chủ nghĩa, còn hàng binh Âu
châu là người ngoại quốc, người ngoài, là những kẻ đào tẩu từ hàng ngũ quân
địch. Cuối cùng, cái gọi là mối mâu thuần “hiện sinh” giữa những người dân
thuộc địa và những người da trắng khiến cho người ta không thể tín nhiệm người
Âu[57] bởi
vì họ sống “không hài hoà” với quê hương hay với bản sắc của họ; trong con mắt
Việt Nam, họ sẽ không bao giờ vượt qua được mâu thuẫn cơ bản đó, đơn giản vì họ
không phải là người Việt! Không những thế, họ là những người có đầu óc phê
phán, không bao giờ chịu ngoan ngoãn thi hành chỉ thị của Đảng mà không thảo
luận, phản biện. Trong cuộc gặp ở Ban chấp hành Trung ương ngày 15 tháng tám
1950, anh Thận (tức là Trường Chinh) đánh giá họ là “thiếu bồi dưỡng
về mặt tư tưởng, và có biểu hiện... chủ nghĩa sô-vanh”. Schröder coi
câu nói đó là một lời Hinauswurf, cho “về chơi xơi nước”.[58]
Phải nói là ở thời điểm ấy, nhiệt tình cách mạng của mùa thu 1945 nhờ đó họ gắn
bó khắng khít với nhau trong mấy năm trời nay đã nguội lạnh. Cuối năm 1950,
Frey, Schröder, Borchers, Wächter và Ullrich ăn mừng Lễ giáng sinh với nhau, và
chính những ngày sống chung này đã “rọi sáng những mối quan hệ giả tạo, thậm
chí dối trá” giữa họ với nhau, và cho thấy rõ “sự nối kết tạm bợ giữa họ
với nhau không xuất phát từ mục đích chung và hoạt động chung, mà chỉ vì họ
cùng chống đối”.[59]
Chính vì thế mà từ năm 1954 trở về sau, chỉ vài ba người Âu còn ở lại Việt
Nam...
Nói theo
hình tượng của Adorno, Frey Schröder và Borchers xuất thân từ “cuộc đời
thương tổn”. Họ là những con người bị bầm giập, mang đầy thương tích, bị
bứt khỏi những ước vọng gia đình, sự nghiệp, dân tộc, bị ném vào một thế giới
thù nghịch và phi lí. Trong cơ ngũ Lê Dương, cái không khí “đại đồng”, những
“tận tâm, tình đồng đội, cảm giác mạnh mẽ”[60]
chỉ có trong những tờ rơi tuyên truyền tuyển mộ, và hoàn toàn vắng bóng trong
thực tế hàng ngày làm bằng sự tuân phục, bạo hành và đơn điệu – vả lại, họ là
những người lính ở ngoài mọi khuôn mẫu. Cách mạng Việt Minh hiện ra trong mắt
những con người đang thèm khát hành động vì chính nghĩa ấy như một dự phóng về
tiến bộ thuận chiều lịch sử, đồng thời hứa hẹn mang lại cho họ một quê hương,
tổ quốc. Họ sẵn sàng thuần phục cá tính vì giấc mơ kiến tạo một xã hội nhân bản
hơn, để rồi cuối cùng phát hiện ra rằng họ lại sa vào cạm bẫy cực quyền đòi hỏi
họ hiến dâng tất cả mà không mảy may khoan thứ những dị biệt cá nhân. Trong
nhật kí tháng hai 1951, Schröder chua chát ghi lại: “Giả sử bây giờ ông già
râu phán một câu: ‘Cái giẻ trắng mà các chú thấy kia màu đen’, mọi người
sẽ tin là thế; cán bộ sẽ coi đó là kinh thánh. Chuyện ấy đã tững xảy ra đâu đó
rồi. Goebbels còn xạo gấp mấy, nhưng người dân Đức có lẽ vì thích tự
thôi miên tập thể, đã tin lời Goebbels. Ở đây, người ta còn đi xa hơn nữa: họ
tự thuyết phục và xác quyết là từ trước đến nay họ vẫn tin rằng cái giẻ trắng
kia màu đen. Điều đó, người Đức làm không nổi. Bởi vì họ ý thức được rằng trước
thời quốc xã, mọi sự không như H(itler) và G(oebbel nói”. Tự do mà họ ước
mong hiện nguyên hình độc tài. Không những thế, họ đã hăng hái góp phần vào đó.
Ở đây, tôi không thể đi sâu để bàn về những động cơ đã thúc đẩy họ, các hoạt
động của họ, và cũng không thể tìm hiểu họ ý thức tới mức nào về những hậu quả
sự chọn lựa lúc đó của họ. “Tôi đã sống hoà điệu với chính tôi”, nhiều
năm sau, một người trong họ đã viết như vậy.[61]
Thay mặt mọi người, và vẫn giữ quyền tự do của mình để tố cáo chế độ độc tài.
Song họ
vẫn ở “giữa hai trận tuyến”. Schröder, Frey và Borchers là những người tranh
đấu và những trí thức. Tranh đấu và chiến đấu ngoài mặt trận không phải do tạng
người hay tâm tính, mà là do hoàn cảnh lịch sử đưa đẩy. Dẫu sao, hành trình của
họ cũng phù hợp với truyền thống nho sĩ / tráng sĩ Việt Nam mà tiêu biểu là
Nguyễn Trãi (1380-1442), bên trung bên hiếu, đã chọn chữ trung. Và họ cũng
không khác các đồng chí Việt Nam của họ đã tạm thời phải biến thành những quán
quân của một thứ chủ thuyết “thiên niên kỉ” (millénarisme) mác xít đi
trước cả Frantz Fanon. Qua trải nghiệm thực tiễn, họ phân tích nghĩa quốc gia
(xã hội) và từ đó dấn thân vào cuộc đấu tranh chống thực dân. Tới khi nhận diện
Nhà nước toàn trị là nguồn gốc của mọi sự đàn áp, thì ngay từ năm 1950, họ mất
hết ảo tưởng về chủ nghĩa xã hội của Bắc Việt Nam. Nguyễn Đình Thi, nguyên tổng
thư kí Hội Văn hoá cứu quốc (thập niên 1940), ít lâu trước khi từ trần, đã phát
biểu như sau : Schröder và Boudarel “gặp vấn đề khi họ phải chấp nhận
tôn ti trật tự của Đảng”.[62]
ĐCS Việt Nam, trong cao trào cách mạng, đã để họ ở lại bên lề đường khi
không cần tới họ nữa. Và đời họ thêm một lần tàn tạ.
Heinz Schütte
Paris, 24 décembre 2003
138 rue La Fayette
75010 Paris
tél/fax: 01.42.09.44.75
e-mail: heinzschutte@hotmail.com
(Nguyễn Ngọc Giao biên dịch từ nguyên tác tiếng Pháp)
(*) Hiện hữu và Hư vô, tác phẩm
triết học của Jean-Paul Sartre (công bố năm 1943). Theo Heinz Schütte, một
thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sang Pháp dự Hội nghị
Fontainebleau (mùa hè 1946), bạn của Rudy Schröder, đã mang về Hà Nội cho ông
một bản (chú thích của N.D.)
Chú thích của Thời Đại Mới: Độc giả có thể xem
thêm bài Cha tôi, giữa những quê hương
của Claudia Việt-Đức Borchers (http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=1529&rb=0401&von=)
[1] Bài này (có sửa lại chút ít) đã được trình bày tại cuộc hội thảo về
những hàng binh người Đức đi theo Việt Minh (thập niên 1940-50) tổ chức tại
Viện Goethe (Hà Nội) trong hai ngày 8 và 9 tháng giêng 2004.
[2] Kính tặng hương hồn Georges Boudarel
(GB). Cuộc đời của GB in sâu dấu ấn của Việt Nam kể từ năm 1949 khi ông 24 tuổi.
Trong những năm qua, ông đã khuyến khích tôi tiếp tục nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong tinh
thần mà ông vẫn theo đuổi : đoàn kết phê phán. Militant và học giả, GB
là một trong những người Pháp đầu tiên đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.
[3] Điện của E. Honecker gửi Nguyễn Văn
Hướng, đại diện Việt Nam
ở Praha, 20 tháng hai 1950. Thư khố quốc gia Bundesarchiv (BA) : DY
24/3691
[4] Leo Zuckermann gửi Wilhelm Pieck, Berlin 9 tháng sáu 1950.
BA : NY 4182/1269
[5] W. Ulbricht gửi Hermann Axen, 29
tháng ba 1951. BA : NY 4182/1269
[6] Bộ trưởng Mielke gửi Tổng thanh tra
Gutsche. Berlin, 5 tháng tư 1951. Bundesbeauftragter für die Unterlagen des
Staatssicherheitsdienstes der ehemaligen Deutschen Demokratischen Republik (Thư
khố của Bộ công an cũ Stasi) (B St U) : MfS-BdL/Dok. Nr. 003670
[7] Verwaltung Gross-Berlin, Abtlg. II, gez.
Herbst, tháng hai 1957, Arbeitsrichtlinie. B St U : MfS AS 1310/67,
trang 000015
[8] Nhật kí
của R. Schröder 6 juillet, 6 tháng tám và 23 tháng chạp 1950. Fonds Maria Schröder (FMS)
[9] Eckart Michels, Deutsche in der
Fremdenlegion. Mythen und Realitäten. Paderborn 1999, tr. 160
[10]
BA: NY 4090/488
[11] Peter Scholl-Latour, Der Tod im Reisfeld.
Dreißig Jahre Krieg in Indochina. München 1988, tr. 29.
[12] Wilhelm Reschl, Europas letzte Söldner, in : DAMALS, 2/96,
tr. 69.
[13]
Jean-Luc Einaudi, Viêt-Nam! La guerre d’Indochine (1945-1954), Paris
2001, tr. 133.
[14] Jean-Pierre Hallo, Monsieur Légionnaire.
L’homme et ses traditions. Paris 1994, tr. 29, trích dẫn theo Michels,
sđd., tr. 190.
[15] Michels, sđd., tr. 104
[16] Michels, sđd., tr. 119 và 164
[17] Raymond Aron, Mémoires, Paris,
Julliard 1983, tr. 72/73
[18] FMS
[19] Lebenslauf des Schröder, Reiner, Josef,
Rudy. Berlin
9 tháng mười một 1951, in: B St U: Ddn. AIM 808/59, tr.000058-000063
[20] Leo Spitzer gửi Raymond Aron. Cologne 24 tháng chín
1933, trong : Thư khố riêng của Raymond Aron, hộp 209, với sự cho phép của
Dominique Schnapper và Elisabeth Dutartre.
[21] Klaus Brill gửi Max Horkheimer, New York.
Paris 31 tháng ba 1936, trong: Max Horkheimer, Gesammelte Schriften,
vol. 15: Briefwechsel 1913-1936. Frankfurt am Main 1995, tr. 504
[22] Max Horkheimer gửi Raymond Aron, Paris. New York 20 tháng mười
một 1936, trong: Horkheimer, sđd., tr. 729
[23] Reinhold Schneider, Verhüllter Tag,
Köln 1962, tr. 164
[24] Bà mẹ của Erwin Borchers cũng bị ông cụ thân
sinh truất quyền thừa kế vì đã lấy một “tên Phổ bẩn thỉu” (Saupreuße). Thông báo miệng
của Lilo Ludwig, em gái Borchers, Berlin 28 tháng sáu 2003.
[25] Lebenslauf. Berlin 14 mai 1966, trong : B
St U : MfS AP 14061/73, trang 000008
[26] S. P. 554, 6 tháng bảy 1940; trong: Fonds
Philippe Delaunay (FPD)
[27] R. Schröder gửi Hilde Schröder, 23 tháng chín
1940, Bel-Abbès 16 tháng hai 1941 và Bel-Abbès 27 tháng hai 1941
[28] Michels, sđd, tr. 136
[29] Raymond Aron, Lời tựa, trong: André
Thérive, Essai sur les Trahisons, Calman-Lévy, Paris 1951, tr. XIV
[30] Thư Schröder gửi vợ, 1 tháng tám 1941,
trong : FPD
[31] Jean Lacouture, Hô Chi Minh. Seuil, Paris
1967, tr. 115
[32] Bản thảo đánh máy của Schröder 260 trang không
tựa đề (MS), FMS, tr. 58
[33] MS, p. 174
[34] Lax-Giroud, Les Oubliés d’Annam, édition
intégrale, Aire Libre, Dupuis (1990 et 1991) 2000, tr. 54-55
[35] Ernst Frey, Vietnam
mon amour. Ein Wiener
Jude im Dienst von Hô Chi Minh, nhà xuất bản Doris Sottopietra, Vienne 22002, tr. 64 et 94. Frey muốn
theo học hoá học kĩ thuật
[36] như trên., tr. 118/119, 121, 170
[37] Ferry Stern, Und ist es auch Wahnsinn,
tr. 655. – Đây nguyên thuỷ là bản thảo 1216 tranh đánh máy của Frey, được FS
biên tập và xuất bản..
[38] Stern, sđd., tr. 692-726
[39] Borchers, Lebenslauf, tr. 000010/11
[40] Stern, sđd., tr. 704
[41] Schröder, MS, tr. 113
[42] như trên, tr. 117
[43] Stern, sđd, tr. 793
[44] Schröder, MS, tr. 58
[45] Gérard Tongas, J’ai vécu dans l’enfer
communiste au Nord Viêt-Nam. Les nouvelles éditions Debresse, Paris 1960, tr.
173
[46] Arkady Fiedler, Im Lande der wilden Bananen,
VEB F.A. Brockhaus Verlag, Leipzig 1959, tr. 170
[47] Margret Boveri, Verrat im 2o. Jahrhundert,
I – Für und gegen die Nation, Rowohlt, Hamburg 1956, tr.111
[48] Frey, sđd., tr. 206
[49] Jacques Doyon, Les Soldats Blancs de Hô Chi
Minh, Fayard, Paris 1973
[50] Frey, sđd., tr. 206; Schröder, MS, tr. 60
[51] B St U : MfS FV 2/71, tr. 000011
[52] Pierre Sergent, Un Étrange Monsieur Frey,
Fayard, Paris 1982, tr. 305, 309
[53] FMS
[54] Hỏi chuyện Trần Duy, Hà Nội, ngày 18 tháng mười
2002
[55] Lebenslauf, tr. 000062. – Trong các hồ sơ của Stasi,
có nhiều lính Lê Dương cũ tố cáo Schröder… Trong một cuốn sổ nhật kí nhỏ tí, S
ghi trong khi thi hành kỉ luật, biệt đội ‘T’ không có biểu hiện hoảng
loạn , và hôm sau : Từ 7g đến 4g chiều, viết ‘tự bạch’ và thư
gửi TW , 11 và 12 tháng sáu 1949.
[56] B St U: Ddn. AIM 808/59 –
Personalakte
[57] Hỏi chuyện Hữu Ngọc, Hà Nội, ngày 18 tháng năm
1999.
[58] Nhật kí Schröder ngày 18 tháng tám 1950
[59] Thư của NEX (Borchers) gửi Kerkhof, 28 tháng hai
1951, FMS
[60] Boveri, I, sđd., tr. 35
[61] Rudolf Schröder, In partibus infidelium,
bản thảo, tr. 15, FMS
[62] Hỏi chuyện Nguyễn Đình Thi, Hà Nội, ngày 21 tháng
mười 2002.
© Thời
Đại Mới - Số 3 - Tháng 11/2004