Những trở ngại trong xử lý cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng. (Điều 3- khoản 4 – Luật cạnh tranh)
Cạnh tranh không lành mạnh có thể hiểu theo hai
góc độ:
Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực thương
mại:
•- Ép buộc trong kinh doanh;
•- Gièm pha doanh nghiệp khác;
•- Gây rối hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp khác;
•- Quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh;
•- Khuyến mại nhằm cạnh tranh
không lành mạnh;
•- Phân biệt đối xử của hiệp
hội;
•- Bán hàng đa cấp bất chính.
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực thương mại được giải thích cụ thể tại điều 42 đến 48- Luật cạnh tranh.
Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực Sở hữu
công nghiệp (SHCN):
•- Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
•- Xâm phạm bí mật kinh doanh;
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
SHCN được quy định cụ thể tại Điều 130 – Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT):
a. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ
thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch
vụ;
b. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về
xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của
hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;
c. Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là
thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của
chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý chủ sở hữu
nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và
không có lý do chính đáng;
d. Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng
tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được
bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm
mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng
của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.
Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
lần đầu tiên đã được thừa nhận là một bộ phận cấu thành của bảo hộ Sở hữu công
nghiệp vào năm 1900 tại Hội nghị ngoại giao Brusels về Sửa đổi Công ước Paris
về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bằng việc bổ sung Điều 10 bis vào Công ước.
Ở đâu có tự do cạnh tranh là ở đó có khả năng xảy ra hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là kết quả tất yếu của một hệ
thống kinh tế thị trường tự do cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu không có biện pháp
hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi người
tiêu dùng và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nhân phần
lớn hoạt động vì lợi nhuận của chính mình, cần phải có cạnh tranh giữa các đơn
vị kinh tế tự chủ. Thông qua cạnh tranh người mua là người được hưởng lợi, và
xã hội cũng phát triển. Mọi doanh nghiệp luôn nỗ lực cung cấp các sản phẩm có
ích, hiệu quả, tiết kiệm nhất, giá thành rẻ nhất và chất lượng tốt nhất nhằm
được người tiêu dùng lựa chọn. Tuy nhiên, sự nỗ lực của một doanh nghiệp chân
chính sẽ trở nên vô nghĩa nếu như có những hiện tượng không tuân thủ quy tắc cơ
bản của cạnh tranh, cố ý lừa dối người tiêu dùng và giành lợi thế bằng cách hạ
thấp đối thủ cạnh tranh.
Cạnh tranh “không lành” thì luôn “mạnh”?
Hy vọng là đây chỉ là cách nghĩ thiển cận của ai
đó mất lòng tin tạm thời vào các quy định pháp luật. Nhưng quả thật, hiện nay
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra ở Việt Nam vô cùng phổ biến và
ngày càng gia tăng, nhưng sự điều chỉnh và chế tài của pháp luật trong lĩnh vực
này dường như “trở tay” không kịp. Đặc biệt là những hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực SHCN đang diễn ra thường xuyên hơn, gây thiệt hại cho
các doanh nghiệp có chủ trương cạnh tranh lành mạnh và người tiêu dùng. Hễ một
Nhà hàng ăn uống có một cái tên ấn tượng trên biển hiệu và kinh doanh hiệu quả
thì ngay lập tức sẽ có hàng chục “bản sao” biển hiệu đó rải rác trên khắp thành
phố, cùng địa bàn quận hoặc thậm chí trên cùng một con đường nhỏ. Khi một
sản phẩm của một doanh nghiệp A, mang Nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ trở nên chiếm
lĩnh thị trường, được người tiêu dùng ưa chuộng thì không bao lâu sau hàng tá
cơ sở khác cũng tung ra sản phẩm giống y hệt từ kiểu dáng, màu sắc và mang chỉ
dẫn thương mại gây nhầm lẫn với Nhãn hiệu đã đăng ký. Đương nhiên là chất lượng
không thể bằng nhưng sản phẩm cố ý gây nhầm lẫn giá thành có thể rẻ hơn. Do đó,
người tiêu dùng bị nhầm lẫn giữa các sản phẩm, không biết đâu là sản phẩm mang
Nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ mà mình mong muốn mua và phân vân về chất lượng sản
phẩm. Hậu quả là sản phẩm của doanh nghiệp chân chính bị rơi vào thế cạnh tranh
trực diện, ảnh hưởng lớn tới uy tín, thị phần và đối mặt với việc thương
hiệu của mình bị “nuốt” dần. Điều đáng nói hơn là người tiêu dùng phần lớn
không nhận dạng được các thủ thuật cạnh tranh không lành mạnh, hoặc nếu có nhận
ra thì cũng lắc đầu cho qua bởi liệu có thể phản ứng sao đây khi đó đã trở
thành hiện tượng phổ biến trong xã hội? Chúng ta không khỏi tự hỏi do đâu mà
những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đang diễn ra và tăng lên hàng ngày
hàng giờ?
Lý do cố hữu: thiếu cơ sở pháp luật?…
Điểm lại các quy định pháp luật liên quan đến
lĩnh vực cạnh tranh và Sở hữu trí tuệ của Việt Nam, có thể nhận thấy rằng đã có
các quy định điều chỉnh trực tiếp về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Trước khi Luật cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ ra đời, quyền chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp được ghi nhận bảo hộ trong
Nghị định của Chính phủ số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000. Với sự ra đời của Luật
cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ, hệ thống pháp luật về chống cạnh tranh không
lành mạnh liên quan tới quyền SHCN khá rõ ràng về các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh, đạt độ tương thích với pháp luật quốc tế và pháp luật các nước khác
trên thế giới. Các nhà làm luật đã kỳ vọng rằng Pháp luật về bảo hộ quyền chống
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN sẽ bước đầu chủ động tạo môi
trường pháp lý để hạn chế tối đa hậu quả của các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh, khuyến khích các nhà kinh doanh đầu tư vào khoa học- công nghệ, phát
triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế để đạt được hiệu quả như
mong muốn quả không đơn giản chút nào.
Hầu hết các quy định pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh đều là quy phạm nội dung, còn thiếu các quy phạm thủ tục và
những hướng dẫn cụ thể về trình tự xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực SHCN. Phải thừa nhận rằng đó là thực trạng chung của công tác xử
lý xâm phạm quyền SHTT, chứ không chỉ của riêng việc xử lý cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực SHCN.
Như đã đề cập ở trên, quy định pháp luật về bảo
hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh của Việt Nam đã có độ tương thích
nhất định với Pháp luật quốc tế nhưng sự mâu thuẫn lại xảy đến giữa chính các
quy định pháp luật trong nước với nhau. Các quy định pháp luật xử lý cạnh tranh
không lành mạnh và các quy định pháp luật bảo hộ quyền SHTT khác, quy định pháp
luật thương mại, doanh nghiệp vẫn chưa có sự đồng bộ, thống nhất. Một ví dụ
điển hình cho thấy sự xung đột giữa quyền tác giả, quyền kinh doanh và quyền đối
với Nhãn hiệu. Doanh nghiệp A đã đăng ký bảo hộ Nhãn hiệu hàng hoá cho sản
phẩm/dịch vụ mà họ đang kinh doanh. Sau đó, Doanh nghiệp B đăng ký kinh doanh
cùng tên với Nhãn hiệu mà Doanh nghiệp A đã đăng ký bảo hộ. Doanh nghiệp C lại
có Giấy chứng nhận bản quyền tác giả cho tác phẩm là mẫu chữ, logo có trên biển
hiệu, cùng tên với Nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ. Rõ ràng, hành vi sử dụng chỉ
dẫn thương mại của Doanh nghiệp B và Doanh nghiêp C là hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Nhưng khi đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng
nhận đăng ký Bản quyền tác giả bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghĩa là họ
đã có được những quyền hợp pháp tương ứng với những tài liệu đó. Luật sư bảo vệ
quyền lợi cho khách hàng là Doanh nghiệp A sẽ phải lập luận thế nào để có thể
xử lý được hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi hành vi này lại được dựa trên
cơ sở một sự bảo hộ khác, được xác lập theo đúng trình tự pháp luật? Ngay cả
các cơ quan thực thi quyền Sở hữu trí tuệ, trong quá trình xử lý loại hành vi
xâm phạm quyền SHTT này đôi khi cũng khó đưa ra một quyết định triệt để vì có
quá nhiều cách áp dụng pháp luật khác nhau cho cùng một vụ việc, mà nghe
chừng cứ cân nhắc mãi thì “cách hiểu nào cũng không sai!”
… Hay hệ thống cơ quan thực thi hoạt động
chưa hiệu quả?
Theo quy định pháp luật hiện hành, thì cơ quan
thực thi quyền SHTT nói chung, trong đó có hành vi cạnh tranh không lành
mạnh liên quan đến quyền SHCN bao gồm sáu Cơ quan:
•-
Toà án nhân dân
•-
Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực Khoa học- Công nghệ
•-
Quản lý thị trường
•-
Hải quan
•-
Công an
•-
Uỷ ban nhân dân các cấp
Ngoài ra, theo Luật cạnh tranh, cơ quan xử lý, xử
phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh là Cơ quan quản lý cạnh tranh do Chính
phủ quyết định thành lập. Tháng 2/2005, Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Thương
mại đã được thành lập, có thẩm quyền xử lý những hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực thương mại như: ép buộc trong kinh doanh, quảng cáo so sánh,
bán hàng đa cấp bất chính.
Khi cho rằng người khác có hành vi cạnh tranh
không lành mạnh liên quan đến quyền SHCN, chủ thể bị thiệt hại có quyền làm Đơn
đề nghị Cục SHTT thẩm định về hành vi đó. Cục SHTT sẽ ban hành Công văn, kết
luận hành vi thẩm định là hoặc không là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Nếu
có, người bị thiệt hại dựa trên kết luận thẩm định của Cục SHTT chủ động yêu
cầu một trong sáu cơ quan trên xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh tuỳ
theo thẩm quyền của từng cơ quan. Tuy hệ thống cơ quan thực thi đã được pháp
luật quy định cụ thể, nhưng sự phối hợp giữa các cơ quan hầu như không có, cơ
quan nào trong quá trình thực thi cũng gặp phải những khó khăn nhất định.
Biện pháp bảo hộ được lựa chọn cuối
cùng:
Những Luật sư hành nghề trong lĩnh vực Sở hữu trí
tuệ thường rất dè dặt khi tiếp cận và tư vấn hoặc bảo vệ cho khách hàng trong
một vụ xử lý cạnh tranh không lành mạnh. Bởi lẽ, chúng tôi dự liệu được việc xử
lý xâm phạm SHTT nói chung, xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói riêng rất
khó khăn và kéo dài, khó dứt điểm trong một hành lang pháp lý đã khá đủ nhưng
chưa thống nhất. Hơn nữa, Luật sư phải đứng trước nghĩa vụ chứng minh hàng loạt
vấn đề khác nhau để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong một vụ việc xử lý
hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
•§ Sản phẩm bị cạnh tranh không lành
mạnh là sản phẩm có danh tiếng, uy tín của chủ thể bị thiệt hại;
•§ Kiểu dáng bao bì, nhãn sản phẩm
của chủ thể bị thiệt hại là chỉ dẫn thương mại;
•§ Người bị kiện đã sử dụng các chỉ
dẫn thương mại để làm sai lệch nhận thức và thông tin về hàng hoá nhằm mục đích
lợi dụng uy tín, danh tiếng của chủ thể bị thiệt hại trong sản xuất kinh doanh,
và làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác;
•§ Chủ thể bị thiệt hại đã thiệt hại
do hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Tất cả những vấn đề cần phải chứng minh nêu trên
đều là những tiêu chí định tính, được xem xét bằng nhận thức chủ quan, không có
định lượng cụ thể, và không dễ chứng minh chút nào. Trong khi đó, đối với các
xâm phạm quyền SHCN được cấp Văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu chỉ cần chứng minh
quyền của mình bằng văn bằng bảo hộ. Trên thực tế, nếu như các biện pháp bảo vệ
quyền khác (như quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp) không
thể bảo vệ chủ sở hữu đối tượng SHTT trước hành vi xâm phạm tinh vi như bắt
chước màu sắc, cách thức quảng cáo,… thì chủ sở hữu mới đành lựa chọn khởi kiện
người sử dụng những thành quả đầu tư của mình vào mục đích kinh doanh trên cơ
sở hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Có nghĩa là quyền chống cạnh tranh không
lành mạnh là biện pháp bảo hộ cuối cùng, nếu các biện pháp bảo hộ khác
không có hiệu quả và ít ai đặt hy vọng vào tính khả thi của biện pháp cuối cùng
này, kể cả các Luật sư.
Đã đến lúc phải đồng bộ hoá các quy định
pháp luật:
Sự xung đột pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
không lành mạnh như đã phân tích, xét cho cùng luôn làm ảnh hưởng đến quyền lợi
và môi trường kinh doanh lành mạnh của các doanh nghiệp. Trong một vụ việc xử
lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nếu các bên đưa ra các cơ sở bảo hộ
quyền khác nhau: Giấy chứng nhận bản quyền Tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký Nhãn hiệu hàng hoá,… thì hẳn là khiến cơ
quan thực thi bế tắc không thể giải quyết dứt điểm. Kết quả là phần lớn các vụ
việc cạnh tranh không lành mạnh đều chưa có hướng xử lý chắc chắn.
Theo lý thuyết kinh tế học, mục tiêu đặt ra là
sao cho cạnh tranh trong kinh tế cũng tương tự như trong thể thao, ở đó người
giỏi nhất sẽ là người chiến thắng và người sử dụng tiểu sảo và hành vi gian dối
sẽ bị loại khỏi cuộc chơi. Không ai khác người tiêu dùng sẽ là người trọng tài
công bằng nhất, ngăn chặn doanh nhân không trung thực bằng cách không quan tâm
đến hàng hoá hoặc dịch vụ của họ và ủng hộ những doanh nhân trung thực. Đó là
một cơ chế tự điều chỉnh ở tầm quá hoàn hảo mà chúng ta chưa thể ngay lập tức
đạt đến được. Bởi vậy, trước mắt, cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật
trong lĩnh vực này thật hoàn chỉnh, để các quy định pháp luật bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ trở nên thống nhất. Việc bảo hộ quyền cho đối tượng SHTT này sẽ
không làm ảnh hưởng đến việc bảo hộ quyền cho đối tượng SHTT khác.
Có lẽ sứ mệnh của các đạo luật gốc như Luật cạnh
tranh và Luật Sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực này là quá lớn, phải đặt nền tảng
cho một cơ chế thực thi quyền SHTT và cạnh tranh thương mại hoàn hảo. Trong khi
sức truyền tải của chừng ấy chương, điều là có hạn, nên nội dung của các quy
định pháp luật trong lĩnh vực xử lý cạnh tranh không lành mạnh còn khái quát.
Với tình trạng này, hiệu quả của nó chắc chắn sẽ phụ thuộc vào khả năng trung
thành nhưng linh hoạt của các văn bản chi tiết hoá. Chúng ta nên tham khảo kinh
nghiệm các quốc gia có nền kinh tế và pháp luật cạnh tranh đã phát triển qua
hơn một thế kỷ như Cộng hoà Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada,… Họ luôn bộc lộ một
tư duy pháp lý mở về xử lý cạnh tranh không lành mạnh, luôn cố gắng lượng
hoá một cách cụ thể những dấu hiệu của hành vi mà nhà làm luật coi là cạnh
tranh không lành mạnh. Ngoài ra, trong quá trình thực thi, luật pháp của các quốc
gia này còn trao cho cơ quan thực thi quyền phân tích tính ảnh hưởng (tác
động) của từng trường hợp cụ thể đối với thị trường để quyết định biện
pháp áp dụng đối với từng người vi phạm.
Rõ ràng tình trạng gia tăng của hiện tượng cạnh
tranh không lành mạnh không phải là nguyên nhân dẫn đến trở ngại trong việc xử
lý loại hành vi này. Trái lại, sự chậm trễ phản ứng của pháp luật mới chính là
nguyên nhân khiến hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày càng nhân rộng
lên, phức tạp hơn. Vấn đề mấu chốt cần làm để giải quyết trở ngại đó là sự kết
hợp hài hoà giữa sự chi tiết của pháp luật và tính năng động của các cơ quan
thực thi. Lẽ dĩ nhiên, Luật sư luôn được đòi hỏi một kiến thức chuyên sâu về
SHTT và thương mại cũng như lòng kiên trì để tham gia vào lĩnh vực này.
(SUNLAW sưu tầm trên internet - chưa rõ tác giả)
--------------------------------------------------------------------------------
THAM KHẢO DỊCH VỤ LUẬT LIÊN QUAN:
1. Dịch vụ tư vấn Giải thể Doanh nghiệp tư nhân;
2. Dịch vụ tư vấn Giải thể Công ty cổ phần;
3. Dịch vụ tư vấn thông báo tạm ngừng hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần;
4. Dịch vụ tư vấn chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh Công ty cổ phần;
5. Dịch vụ tư vấn Giải thể Công ty TNHH 2 thành viên trở lên;
6.
Dịchvụ tư vấn đăng ký chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại
diện,địa điểm kinh doanh Công ty TNHH 2 thành viên trở lên;
7. Dịch vụ tư vấn : Thông báo tạm ngừng hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH 1TV do tổ chức làm chủ sở hữu;
8. Dịch vụ tư vấn Giải thể Công ty TNHH 1TV do tổ chức làm chủ sở hữu;
9. Dịch vụ tư vấn Giải thể Công ty TNHH 1TV do cá nhân làm chủ sở hữu;
10.
Dịch vụ tư vấn thông báo tạm ngừng hoạt
độngkinh doanh của Công ty TNHH 01 thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu;
11. Luật sư tư vấn Giải thể Doanh nghiệp;
12. Dịch vụ tư vấn giải thể chi nhánh;
13. Dịch vụ luật sư đại diện theo ủy quyền của Doanh nghiệp;
14. Dịch vụ Luật sư cho công ty;
15. Dịch vụ luật sư tư vấn pháp lý dài hạn cho doanh nghiệp;
16. Tư vấn Giải thể Công ty;
17. Tư vấn tạm ngưng hoạt động doanh nghiệp;
18. Tư vấn giải thể doanh nghiệp.
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM
--------------------------------------------------------------------------------