Những yếu tố làm giảm khả năng ứng phó của Việt Nam trong các vụ kiện bán phá giá
Tại bài viết “Giảm thiểu thiệt hại trong các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài khi các doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn” trên Nghiên cứu Lập pháp số tháng 11/2007, chúng tôi đã phân tích cụ thể tổng quan về các vụ kiện bán phá giá mà doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn.
Từ thực
tiễn ấy, chúng ta đã nhận ra những hạn chế trong nhận thức và kinh nghiệm của
các doanh nghiệp cũng như sự thụ động của các Hiệp hội, các cơ quan hữu trách.
Để làm rõ vấn đề hơn nữa, chúng tôi tập trung phân tích về mặt lý luận và nhận
thức những hạn chế cơ bản được coi là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó
của doanh nghiệp trong các vụ việc về bán phá giá.
1. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam
1.1 Chưa nhận thức đúng đắn về bản chất pháp lý của hiện tượng bán phá
giá
Có lẽ, vấn đề bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá sẽ không tạo ra sự
quan tâm của xã hội và luật pháp nếu không có sự kiện các sản phẩm cá tra, cá
basa của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị cho là bán phá giá nên bị áp thuế
chống bán phá giá đe dọa đến sự thịnh vượng của nhiều ngành kinh tế đang phát
triển như chăn nuôi, chế biến … trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới. Khoa
học pháp lý Việt Nam
đã tiếp nhận các lý thuyết về bán phá giá, pháp luật chống bán phá giá hàng hóa
nhập khẩu trong bối cảnh doanh nghiệp của chúng ta đang là bị đơn. Pháp luật
chống bán phá giá được xây dựng không từ nhu cầu thực tế thị trường mà từ sức
ép của quá trình hội nhập với tâm trạng bất bình về những tổn thất do biện pháp
chống bán phá giá được các nước áp dụng đang gây ra cho các doanh nghiệp xuất
khẩu của Việt Nam.
Vì vậy, sự hạn chế trong hiểu biết về bản chất pháp lý của hành vi bán phá giá
là điều tất yếu. Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá đủ để chứng minh cho
nhận định trên.
Trong pháp luật hiện hành tồn tại hai khái niệm bán phá giá được quy định
trong Pháp lệnh Giá năm 2002 và Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
vào Việt Nam năm 2004. Khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh Giá coi “bán phá giá là hành vi
bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường
Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt
hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và lợi
ích của Nhà nước”. Vì Pháp lệnh này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân
trong nước và nước ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nên quy
định về bán phá giá trên không chỉ áp dụng cho sản phẩm nội địa mà còn có thể
áp dụng với những sản phẩm nhập khẩu được mua bán trên thị trường Việt Nam. Mặc
dù được đánh giá là văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh bán phá giá, song
Pháp lệnh Giá đã đưa ra một định nghĩa ngây thơ và mơ hồ về bán phá giá. Từ
định nghĩa trên, có hai căn cứ để xác định về hiện tương bán phá giá: thứ
nhất, giá bán của hàng hóa, dịch vụ quá thấp so với giá thông thường trên
thị trường Việt Nam; thứ hai, mục đích của doanh nghiệp thực hiện hành
vi là chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại
đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và lợi ích
của Nhà nước. Các căn cứ trên dù được chi tiết hóa thì cũng khó có thể xác định
rõ ràng và công bằng. Bởi, (i) Pháp luật thực sự gặp khó khăn khi xác định giá
thông thường của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Việt Nam của một sản
phẩm cụ thể để điều tra về hiện tượng bán phá giá. Riêng với hàng hóa nhập
khẩu, sẽ là vô lý nếu sử dụng giá bán của chúng tại thị trường Việt Nam và giá thông thường cũng trên thị trường
Việt Nam
để quy kết chúng bán phá giá. Nếu làm như vậy chắc chắn sẽ tạo ra những xung
đột lớn trong quan hệ thương mại với các nước có liên quan; (ii) Quy định mơ hồ
về mức quá thấp của giá bán thực tế so với giá trị thông thường của hàng
hóa, dịch vụ. Cho đến nay, các văn bản hướng dẫn Pháp lệnh Giá vẫn né tránh,
không chi tiết hóa được nội dung của khái niệm bán phá giá. Do đó, chúng ta
không thể hiểu được giá bán của hàng hóa, dịch vụ thấp hơn giá thông thường đến
mức nào thì được coi là quá thấp để kết luận có bán phá giá; (iii) Mặt
khác, khi sử dụng mục đích chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh và khả
năng gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác, cho Nhà nước là một trong hai căn
cứ để kết luận về hành vi bán phá giá đã làm cho việc điều tra thêm phức tạp và
không phù hợp với pháp luật về bán phá giá trong thương mại quốc tế. Có thể
nói, quy định về bán phá giá trong Pháp lệnh Giá dường như chỉ có giá trị lịch
sử mà thiếu điều kiện để phát huy hiệu lực thực tế.
Còn theo Điều 2 Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, thì : “Hàng hoá có xuất xứ từ nước hoặc
vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam nếu hàng
hoá đó được bán với giá thấp hơn giá trị thông thường”. “Giá trị thông thường
của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự đang được bán trên thị trường
nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thương mại
thông thường”. Khái niệm này đã kế thừa trọn vẹn quy định về bán phá giá trong
Hiệp định Chống bán phá giá của WTO năm 1994. Tuy nhiên, sự tiếp nhận của pháp
luật Việt Nam
chỉ đơn giản là kế thừa những thành quả pháp lý đã qua phát triển trên dưới một
thế kỷ mà chưa tích lũy đủ nhận thức lý luận và kinh nghiệm thực tế về bán phá
giá.
Thực chất, pháp luật chống bán phá giá của WTO cũng chịu ảnh hưởng lớn và là
sự thừa hưởng những thành tựu phát triển từ pháp luật chống bán phá giá của các
nước phát triển. Quá trình phát triển của pháp luật chống bán phá giá ở các nước
tiên phong chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Trong đó,
sự thay đổi trong quan niệm về tính bất chính của hiện tượng bán phá giá, sự
phát triển của quá trình tự do hóa thương mại và nhu cầu bảo hộ ngành sản xuất
nội địa ngày càng cao, sự giảm sút năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc
tế và sự phát triển không ngừng của các thị trường đang phát triển … là những
nhân tố cơ bản.
Vào thời sơ khai, quan niệm về tính bất chính của hiện tượng bán phá giá gắn
liền với lý thuyết về định giá cướp đoạt (định giá hủy diệt – predatory
pricing). Vì vậy, các chuẩn mực của lý thuyết cạnh tranh về hành vi định giá
cướp đoạt được pháp luật chống bán phá giá sử dụng nhằm kết luận có hay không
hiện tượng bán phá giá. Theo đó, để kết luận về hiện tượng bán phá giá, cơ quan
điều tra phải xác định hai căn cứ: (i) giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông
thường của sản phẩm tương tự tại nước xuất khẩu; và (ii) ý định phá hoại hoặc
gây tổn hại tới ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu. Với quan
niệm này, pháp luật chống bán phá giá thực sự mang sứ mệnh bảo vệ sự cạnh tranh
lành mạnh trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên, do lý thuyết về định giá cướp
đoạt được nghiên cứu và hình thành từ các diễn biến cạnh tranh trên thị trường
nội địa của một quốc gia, nên khi nó được sử dụng làm cơ sở lý luận cho pháp
luật điều chỉnh quan hệ cạnh tranh trong thương mại quốc tế đã gây ra những
phức tạp và khó khăn cho quá trình áp dụng. Việc điều tra xác định mức giá của
sản phẩm nhập khẩu được bán phá giá mang tính cướp đoạt dường như khó thực hiện
bởi có quá nhiều khác biệt về quan niệm, tập quán về chi phí sản xuất, chuẩn
mực kế toán … Bối cảnh đó làm cho pháp luật chống bán phá giá ít được áp dụng ở
thời kỳ đầu mới hình thành.
Khi tự do hoá thương mại phát triển, những áp lực từ thị trường như sự kêu
đòi được bảo vệ từ các doanh nghiệp nội địa, nghiệp đoàn lao động … đã buộc các
quốc gia phải tìm kiếm phương thức bảo hộ hợp pháp và hợp lý. Các nước phát
triển, đặc biệt là Hoa Kỳ đã có những cải tiến trong việc đưa ra các căn cứ xác
định bán phá giá, quá trình điều tra bán phá giá nhằm phụng sự cho mục đích của
họ.
Sự thay đổi của pháp luật về chống bán phá giá tập trung vào việc tách khả
năng hủy diệt ra khỏi phạm vi khái niệm bán phá giá. Các luận thuyết về thương
mại quốc tế cũng đã có thay đổi tương tự. Theo đó, “điểm trung tâm ban đầu về
sự khác biệt giá cả có thể mô tả như trọng điểm về “phân biệt đối xử qua giá”.
Hình như có một khái niệm cho rằng bán cho những người khác nhau những giá khác
nhau là ít nhiều bất chính. Có lẽ, đây là di sản của các khái niệm thời trung
cổ về giá cả công bằng[1]. Như vậy, bán phá giá chỉ còn là hiện tượng khác biệt
giữa giá thông thường của hàng hóa tương tự tại thị trường quốc gia xuất khẩu
và giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu. Nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá thông
thường thì kết luận có bán phá giá và ngược lại. Với sự thay đổi này, việc xác
định về hiện tượng bán phá giá có vẻ đơn giản hơn nếu đã xác định được hai mức
giá làm cơ sở cho sự so sánh. Sự phức tạp chỉ còn là quá trình xác định giá
xuất khẩu và giá thông thường của sản phẩm nhập khẩu. Nhưng khi quan niệm bán
phá giá chỉ là sự khác biệt về giá thì chưa đủ cơ sở để kết luận rằng hàng hóa
bán phá giá có khả năng gây hại cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu;
chưa đủ để khẳng định về khả năng cạnh tranh ưu việt về giá của hàng hóa đã bán
phá giá như quan niệm về giá cướp đoạt. Thế cho nên, chưa phát sinh quyền tự vệ
của nước nhập khẩu dù kết luận điều tra là đã có hiện tượng bán phá giá.
Trong khi đó, cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để hình thành pháp luật
chống bán phá giá là quyền tự vệ và quyền được bảo hộ ngành sản xuất nội địa
của quốc gia nhập khẩu trước khả năng cướp đoạt thị phần một cách bất chính của
các doanh nghiệp nước ngoài. Chỉ khi hàng hóa nhập khẩu có năng lực cạnh tranh
ưu việt không do lợi thế so sánh mà do ý thức chấp nhận thiệt hại ngắn hạn bằng
cách bán phá giá thì mới coi là bất chính trong cạnh tranh. Với nguyên tắc đó,
dù đã thay đổi quan niệm về bán phá giá, nhà nước và pháp luật vẫn phải đảm bảo
không xâm hại đến tự do kinh doanh và không ngăn trở những hành vi cạnh tranh
hợp pháp, lành mạnh cho dù có tổn hại đến ngành sản xuất nội địa có năng lực
cạnh tranh kém hơn. Vì thế, lý thuyết về định giá cướp đoạt vẫn được giữ lại một
phần giá trị bằng quy định về các điều kiện tiên quyết để áp dụng biện pháp
chống bán phá giá là: (i) có hiện tượng hàng hóa nhập khẩu bán phá giá; (ii)
ngành sản xuất nội địa kinh doanh sản phẩm tương tự với hàng hóa nhập khẩu đã
bị tổn hại hoặc bị đe dọa gây tổn hại; (iii) có quan hệ nhân quả giữa bán phá
giá và thiệt hại. Dường như, các nhà hoạch định chính sách thương mại quốc tế
đã kỳ vọng là gắn kết bản chất cạnh tranh bất chính bằng sự phân biệt giá với
mục tiêu cướp đoạt thị trường nhập khẩu và coi đó là nền tảng lý luận cho pháp
luật chống bán phá giá.
Những thay đổi kể trên đã tạo ra những khoảng trống pháp lý để các nước thực
hiện các chiến lược bảo hộ ngành sản xuất nội địa trước sức ép cạnh tranh từ
hàng hóa nhẩp khẩu hơn là chống lại cạnh tranh bất chính trong thương mại quốc
tế. Có thể luận giải kết luận này từ những đánh giá:
Trước hết, trong lý thuyết về phân biệt giá, sự bất chính được diễn
giải từ quyền được đối xử bình đẳng giữa các khách hàng có điều kiện giao dịch
như nhau và những suy đoán về mục đích của hành vi như chiếm thị trường bằng
chiến lược đòn bẩy, tối đa hóa doanh thu … Song, vẫn tồn tại những quan điểm
bênh vực cho rằng, phân biệt giá là chiến lược kinh doanh lành mạnh bởi việc áp
dụng giá khác nhau có thể do khả năng trả giá của khách hàng hoặc do sức ép
cạnh tranh không giống nhau trên các vùng thị trường khác nhau … Tình trạng
xung đột về quan điểm nêu trên đã buộc chính sách và pháp luật cạnh tranh của
một quốc gia phải có cơ chế để sàng lọc những hành vi phân biệt giá lành mạnh
ra khỏi phạm vi của sự phân biệt giá bất chính – công việc không hề đơn giản
trong quan hệ thương mại quốc tế. Khi bán phá giá được hiểu đơn giản là sự phân
biệt giá thì hiện tượng giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường tại nước
xuất khẩu vẫn có thể là kết quả của sự cạnh tranh lành mạnh về giá. Vì vậy, sự
đơn giản trong điều tra bán phá giá bằng cách so sánh giữa giá xuất khẩu và giá
trị thông thường của hàng hóa nhập khẩu để điều tra hành vi bán phá giá chưa đủ
để sàng lọc những trường hợp khác biệt về giá nhưng không bất chính do điều
kiện khách quan. Nếu bị lạm dụng, pháp luật chống bán phá giá có thể được sử
dụng để đánh đồng hành vi xuất khẩu hàng hóa với giá thấp là kết quả của cạnh
tranh lành mạnh với bán phá giá để cạnh tranh bất chính.
Để sàng lọc, chính sách và pháp luật về chống bán phá giá đã đặt ra các căn
cứ, các chuẩn mực rất chặt chẽ, phức tạp trong việc điều tra về giá trị thông
thường, giá xuất khẩu và các nguyên tắc trong so sánh giá. Tuy nhiên, một lần
nữa, sự phức tạp lại ẩn khuất các toan tính bảo hộ bởi khả năng lạm dụng việc
điều tra để tính toán ra những căn cứ so sánh giá phản cạnh tranh và phi thực
tế. Ví dụ, quy định về việc lựa chọn giá bán của sản phẩm tương tự tại quốc gia
thứ ba có điều kiện phát triển như nước nhập khẩu làm giá trị thông thường để
so sánh có thể sẽ bị lạm dụng để dễ dàng kết luận có hiện tượng bán phá giá. Sự
phức tạp trong quá trình điều tra các loại giá vẫn chưa đủ để tìm nguyên nhân
của hiện tượng khác biệt về giá – mà nguyên nhân lại là yếu tố hết sức quan
trọng được lý thuyết về phân biệt giá sử dụng để kết luận về sự bất chính của
hành vi. Như vậy, ngay từ quan niệm về bán phá giá đã hàm chứa khả năng bị lạm
dụng để chống lại hiện tượng hàng hóa nhập khẩu được bán rẻ trên thị trường
nhập khẩu.
Sau nữa, để có thể lên án hành vi phân biệt giá trong thương mại quốc
tế, pháp luật chống bán phá giá quy định về việc điều tra thiệt hại mà ngành
sản xuất sản phẩm cạnh tranh của nước nhập khẩu gánh chịu do bán phá giá gây
ra. Theo đó, thiệt hại có thể là sự suy giảm thực tế về doanh thu, thị phần,
lợi nhuận, sản lượng … Pháp luật chống bán phá giá của WTO và của các nước phát
triển luôn đặt ra những nguyên tắc như “việc xác định thiệt hại hay sự đe dọa
gây thiệt hại về vật chất phải được tiến hành dựa trên các chứng cứ thực tế và
không được phép chỉ căn cứ vào phỏng đoán, suy diễn hoặc một khả năng mơ
hồ”[2]; hoặc luôn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia phải
cân nhắc, phân tích mọi nhân tố có thể gây
ra những thiệt hại nói trên cho ngành sản xuất nội địa để tránh quy kết một
cách chủ quan cho hành vi bán phá giá. Tuy nhiên, khi tách việc điều tra thiệt
hại ra khỏi phạm vi của việc điều tra về hiện tượng bán phá giá đã có thể tạo
ra những khả năng quy kết bất lợi cho hàng hóa nhập khẩu. Theo đó, (i) đương
nhiên là khi hàng hóa nhập khẩu thực sự có lợi thế cạnh tranh về giá so với
hàng hóa nội địa của nước nhập khẩu chắc chắn sẽ gây sự suy giảm thực tế hoặc
tiềm năng cho các doanh nghiệp của nước nhập khẩu cho dù có bán phá giá hay
không. Vì thế, chỉ cần kết quả điều tra khẳng định có bán phá giá (giá xuất
khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa nhập khẩu) thì biện pháp chế
tài có thể được áp dụng ngay cả khi giá xuất khẩu được hình thành từ môi trường
cạnh tranh lành mạnh. Điều này có thể thấy rõ qua quy định về biên độ thiệt
hại (price underselling) trong pháp luật chống bán phá giá của Liên minh
Châu Âu (EU)[3]. Cơ quan điều tra của EU sẽ xác định mức giá bán lý thuyết
trong EU (là tổng giữa chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ và lợi nhuận hợp lý)
để so sánh với giá của hàng hóa nhập khẩu; đồng thời, tiến hành so sánh với giá
bán hàng hóa tương tự của các doanh nghiệp nội địa với mức giá lý tưởng để xem
xét tình trạng chịu lỗ của ngành sản xuất nội địa. Mặc dù lý do được đưa ra là
để xem xét tình hình giá cả thực tế của thị trường và đảm bảo việc bảo vệ
ngành sản xuất trong nước phải tỷ lệ với thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra,
song điều đó cũng cho thấy nhu cầu bảo vệ các doanh nghiệp nội địa được đặt
trên nhiệm vụ duy trì sự lành mạnh của thị trường cạnh tranh. (ii) Vì là những
nội dung điều tra khá độc lập, nên khi gắn kết thiệt hại mà ngành sản xuất nội
địa phải gánh chịu với hiện tượng bán phá giá bằng mối quan hệ nhân quả đã luôn
tồn tại độ chênh và những đánh giá có tính chủ quan của cơ quan điều
tra. Để lên án bán phá giá, buộc phải chứng minh về thiệt hại thực tế hoặc tiềm
năng mà ngành sản xuất nội địa gánh chịu. Tuy nhiên, sự suy giảm hay không phát
triển của một ngành sản xuất có thể do hành vi bán phá giá hoặc những tác động
khách quan trên thị trường như sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng của khách hàng …
Cho nên, pháp luật chống bán phá giá luôn đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyển
phải điều tra, phân tích những tác động khách quan từ thị trường đến tình hình
phát triển của ngành sản xuất nội địa, song việc lắp ghép thiệt hại với hiện
tượng bán phá giá bằng quan hệ nhân quả vẫn tồn tại nhũng sai lệch nhất định mà
ở đó có thể có sự chủ quan, suy đoán.
Có thể nói, sự thay đổi trên đã làm cho pháp luật về bán phá giá dễ dàng
được áp dụng trong thực tế. Tuy nhiên, điều đó cũng đã tạo ra khoảng trống pháp
luật dung dưỡng những toan tính bảo hộ thị trường nội địa trước sự cạnh tranh
của hàng hóa nhập khẩu cho dù lành mạnh. Bi quan hơn, có quan điểm cho rằng:
pháp luật chống bán phá giá đã là biện pháp bảo hộ kiểu mới được thừa nhận hợp
pháp và có thể làm cản trở tiến trình tự do hóa thương mại. Thế cho nên, đã có
nhiều tranh luận chưa đến hồi kết trong các cuộc đàm phán gần đây về thương mại
quốc tế như các phiên đàm phán trong vòng Doha
giữa các nước phát triển và đang phát triển[4].
1.2. Sự phức tạp trong pháp luật chống bán phá giá của WTO và của các
quốc gia
Cho đến nay, pháp luật về bán phá giá được coi là một trong những phần phức
tạp nhất của hệ thống pháp luật thương mại quốc tế. Điều đó đã tạo cơ hội cho
những toan tính bảo hộ bởi những quy định chi tiết, rắc rối có thể cản trở khả
năng kháng kiện của các bị đơn. Có thể chứng minh nhận định này qua các luận
điểm sau:
Một là, các tiêu chí xác định giá trị thông thường, giá xuất khẩu,
sản phẩm tương tự trên thị trường nước xuất khẩu và nước nhập khẩu,… được điều
chỉnh chi tiết song vẫn mở rộng thẩm quyền của cơ quan điều tra và xử lý vụ
việc. Pháp luật của các quốc gia đã quy định thống nhất về định nghĩa bán phá
giá, các căn cứ xác định bán phá giá và điều kiện áp dụng các biện pháp chống
bán phá giá. Song, trong các quy định của pháp luật luôn chứa đựng những nội
dung dự phòng bằng cách sử dụng câu chữ chung chung, khái quát mà muốn làm rõ
phải thực hiện hàng loạt các bước phân tích phức tạp, đòi hỏi kỹ năng chuyên
sâu về kế toán, kiểm toán, phân tích tài chính, thị trường, pháp lý …. Ví dụ,
Điều 2.1 của Hiệp định chống bán phá giá nêu: “giá trị thông thường là giá có thể
so sánh được trong điều kiện thương mại thông thường, đối với sản phẩm tương tự
khi được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác”. Những tiêu chí
không rõ ràng được sử dụng trong điều trên như giá có thể so sánh được, điều
kiện thương mại thông thường buộc pháp luật và cơ chế thực thi phải làm rõ.
Tuy nhiên, khi giải thích, pháp luật lại tiếp cận vấn đề từ mặt trái, theo đó,
“trong trường hợp không có các sản phẩm tương tự được bán trong nước theo các
điều kiện thương mại thông thường tại thị trường nước xuất khẩu hoặc trong
trường hợp việc bán trong nước đó không cho phép có được sự so sánh chính xác
do điều kiện đặc biệt của thị trường đó hoặc do số lượng hàng bán tại thị
trường trong nước của nư��c xuất khẩu hàng hóa quá nhỏ, biên độ bán phá giá sẽ
được xác định thông qua so sánh với mức giá có thể so sánh được của sản phẩm
tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp, với điều kiện là mức
giá có thể so sánh được này mang tính đại diện, hoặc được xác định thông qua so
sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa cộng thêm một khoản hợp lý
chi phí quản lý, chi phí bán hàng, các chi phí chung và lợi nhuận”[5].
Với hai tình huống dự phòng và các điều kiện để áp dụng nó, pháp luật chống bán
phá giá đã trao quyền kết luận và lựa chọn cho cơ quan điều tra và xử lý vụ
việc.
Cũng trong quy định trên, một nội dung rất quan trọng là việc quyết định một
sản phẩm là sản phẩm tương tự với hàng hóa nhập khẩu. Đây là yếu tố hết
sức quan trọng trong bất kỳ vụ việc điều tra nào vì nó không chỉ xác định sản
phẩm nào (đại diện cho ngành công nghiệp nội địa) thuộc phạm vi để phân tích
thiệt hại, mà còn liên quan đến xác định sản phẩm nào của thị trường nước xuất
khẩu sẽ được sử dụng để xác định giá trị thông thường. Như vậy, việc xác định
chính xác hay sai lầm về phạm vi của sản phẩm tương tự tất yếu sẽ ảnh
hưởng đến tính đúng đắn của kết luận điều tra về biên độ phá giá và tình trạng
thiệt hại[6]. Hiệp định của WTO không đưa ra bất kỳ một sự hướng dẫn nào ngoài
định nghĩa tại Điều 2.6. Theo thông lệ, các quốc gia thường sử dụng những tiêu
chí sau để xác định sản phẩm tương tự, bao g��m: các đặc tính vật lý của hàng
hóa, mức độ chuyển đổi thương mại của các sản phẩm, các nguyên liệu thô đựơc sử
dụng trong sản xuất, những phương thức sản xuất và công nghệ sản xuất, những
chức năng và mục đích sử dụng cuối cùng của hàng hóa, phân loại ngành công
nghiệp, giá cả, chất lượng. Việc lựa chọn những tiêu chí nào kể trên hoàn
toàn phụ thuộc vào quyết định của cơ quan điều tra – quyết định ấy có thể chứa
đựng sự tuỳ tiện và những toan tính nhất định. Là bị đơn, doanh nghiệp Việt Nam không thể
dự liệu được những tiêu chí nào sẽ được cơ quan điều tra sử dụng. Khi đó, chúng
ta sẽ rơi vào thế bất lợi và rất vất vả cho quá trình chứng minh.
Hai là, một trong những nguyên tắc quan trọng mà pháp luật của WTO và
của các quốc gia đặt ra là đảm bảo tính minh bạch, khách quan và công bằng.
Theo đó, tất cả các bên quan tâm đều được tạo điều kiện, cơ hội đầy đủ để bảo
vệ quyền lợi của mình như quyền được biết các thông tin mà cơ quan điều tra sử
dụng có liên quan đến quyền lợi của mình (trừ những thông tin mật); quyền được
chuẩn bị phần trình bày trên cơ sở những thông tin đó. Đặc biệt, các bên đều có
quyền và trách nhiệm phải trả lời các câu hỏi do cơ quan có thẩm quyền đặt ra trong
thời hạn nhất định và cung cấp các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu. Bản câu hỏi
và chứng cứ do các bên cung cấp được coi là căn cứ khá quan trọng nhằm xác định
về bán phá giá và tình trạng thiệt hại. Tuy nhiên, một thực tế là : mặc dù
không có những thay đổi lớn về các khái niệm như: thế nào là bán phá giá, giá
trị thông thường, giá xuất khẩu hay thiệt hại thực tế hoặc tiềm năng … nhưng
pháp luật của các nước như Hoa Kỳ, EU, Canada… luôn có sự sửa đổi, bổ sung,
thay đổi về nội dung của bản câu hỏi điều tra. Trong thời gian không dài, dường
như bản câu hỏi ngày càng phức tạp và đỏi hỏi quá nhiều về lượng thông tin cần
cung cấp về việc bán hàng tại thị trường nội địa, bán hàng tại nước thứ ba … Ví
dụ, vào năm 1987, bản câu hỏi dài 52 trang, thì sang năm 1988 đã tăng lên 73
trang, năm 1989 là 128 trang và đến năm 1990 thì số trang lên đến 158 trang[7].
Thêm nữa, mỗi quốc gia còn tự đặt ra các tiêu chuẩn về số hóa, hiện đại hóa
hệ thống sổ sách kế toán, chứng từ tài liệu để chứng minh. Những yêu cầu nói trên
dù được lý giải là để đảm bảo sự khách quan, đúng đắn và công bằng, song thực
tế cho thấy điều ngược lại. Các doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia vụ việc
khó có thể chủ động đối phó để kháng kiện khi các chuẩn mực luôn thay đổi, thậm
chí vượt quá khả năng chứng minh trong khoảng thời gian quá ngắn. Lúc đó, với
quyền được sử dụng dữ liệu sẵn có, cơ quan có thẩm quyền của nước điều
tra có thể có những động thái gây bất lợi cho bên có hàng hóa bị điều tra.
Ba là, nội dung của pháp luật chống bán phá giá còn nhiều khoảng
trống có thể bị lạm dụng khi điều tra, từ đó tạo thuận lợi để kết luận có bán
phá giá, có thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa nhằm dễ dàng áp dụng các biện
pháp chế tài. Minh chứng điển hình là quy định về phương pháp cộng dồn thị phần
xuất khẩu của các nước cùng xuất khẩu sản phẩm bị kiện vào nước nhập khẩu và
phư��ng pháp zeroing khi xác định biên độ phá giá.
Về phương pháp cộng dồn: Hiệp định chống bán phá giá của WTO và pháp
luật của các nước đều quy định về khối lượng hàng hóa nhập khẩu không đáng kể
để đình chỉ vụ điều tra[8]. Lập luận được đưa từ một nguyên lý cơ bản của lý
thuyết về định giá cướp đoạt. Theo đó, một mức giá bất thường được đặt ra để
cướp đoạt thị phần của đối thủ thì người thực hiện hành vi chỉ đạt được mục
đích khi họ đủ khả năng chi phối thị trường. Khả năng nói trên thường được xác
định từ thị phần của doanh nghiệp trên thị trường. Với số lượng không đáng kể,
hàng hóa nhập khẩu cho dù có bán phá giá cũng không đủ khả năng gây thiệt hại
cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu. Tuy nhiên, đoạn tiếp theo của
Điều 5.8 của Hiệp định chống bán phá giá cũng như pháp luật của các nước lại
cho phép cộng gộp thị phần xuất khẩu của các nước cùng xuất khẩu sản phẩm bị
kiện vào nước nhập khẩu. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền của các nước sẽ không
đình chỉ vụ việc cho dù “số lượng nhập khẩu của các sản phẩm tương tự từ mỗi
nước có khối lượng dưới 3% song t���ng số các sản phẩm tương tự nhập khẩu từ
những nước này chiếm trên 7% tổng nhập khẩu sản phẩm tương tự vào nước nhập
khẩu”. Việc cộng gộp thị phần đã mở rộng cơ hội để các doanh nghiệp trong ngành
sản xuất nội địa chứng minh hàng hóa nhập khẩu nói chung là nguyên nhân gây ra
hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho họ. Điều đó một lần nữa cho thấy, về lý
thuyết, pháp luật chỉ quan tâm đến việc ngăn chặn thiệt hại do cạnh tranh trong
thương mại quốc tế gây ra cho ngành sản xuất nội địa hơn là chống lại các hành
vi cạnh tranh bất chính. Từ thực tiễn chống bán phá giá của Hoa Kỳ và EU cho
thấy, việc sử dụng phương pháp cộng gộp đã làm thay đổi kết quả từ phủ định
sang khẳng định về thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa bán phá giá và thiệt
hại trong phần lớn các vụ kiện. Vì thế, pháp luật chống bán phá giá có thể được
khai thác nhằm ngăn chặn sự phát triển của nguồn hàng hóa nhập khẩu chưa mạnh
nhưng đang dần khẳng định trên thị trường.
Về phương pháp Zeroing khi tính biên độ phá giá: trong quá trình điều
tra về việc bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện hàng loạt các
phép tính để so sánh giữa giá xuất khẩu với giá trị thông thường của từng lô
hàng từ các nguồn nhập khẩu khác nhau. Sau đó tổng hợp kết quả chung để xác
định biên độ phá giá cho sản phẩm bằng phương pháp bình quân gia quyền. Hiệp
định chống bán phá giá chỉ đặt ra những nguyên tắc cơ bản mà không quy định cụ
thể về phương pháp cho việc so sánh. Pháp luật của từng quốc gia có quyền chủ
động quy định hoặc trao quyền quyết định cho cơ quan có thẩm quyền sử dụng các
phương pháp phù hợp trên cơ sở những nguyên tắc đó. Nhiều quốc gia đã sử dụng
phương pháp zeroing để so sánh. Theo đó, khi tiến hành so sánh giá trị thông
thường bình quân gia quyền của mỗi loại sản phẩm với giá xuất khẩu bình quân
gia quyền của loại sản phẩm đó, nếu kết quả là âm (tức là giá xuất khẩu cao hơn
giá thông thường – loại sản phẩm đó không bán phá giá – biên độ phá giá là âm)
cơ quan điều tra sẽ mặc nhiên chuyển kết quả về bằng không. Thế cho nên, đến
khi tổng hợp biên độ phá giá của từng sản phẩm để tính biên độ phá giá cho sản
phẩm nhập khẩu nói chung, biên độ phá giá âm đã không được sử dụng để bù đắp
cho biên độ phá giá dương. Kết quả tất yếu là biên độ phá giá tổng hợp sẽ cao
hơn so với thực tế (so với biên độ phá giá được tính từ tổng hợp cả biên độ phá
giá âm)[9]. Phương pháp tính toán này đã gây nên làn sóng phản đối từ các quốc
gia có doanh nghiệp bị điều tra và nảy sinh tranh chấp thương mại quốc tế phải
giải quyết bằng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO[10]. Cho đến nay, phương
pháp zeroing ít được sử dụng, song cũng không có cơ sở pháp lý để ngăn chặn khả
năng tạo ra các phương pháp tính toán tương tự gây bất lợi cho bên bị điều tra.
Như vậy, dù pháp luật chống bán phá giá đã được thống nhất về cơ bản, song
còn rất nhiều nội dung bất định gây ra những tranh cãi về sự công bằng và khả
năng lạm dụng của cơ quan có thẩm quyền để bảo hộ cho thị trường nội địa hơn là bảo vệ cạnh tranh lành
mạnh. Với tình trạng đó, doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn cũng gặp nhiều bất
lợi, khó khăn khi kháng kiện.
1.3. Vị thế thương mại của Việt Nam còn khá khiêm tốn trên thị
trường quốc tế
Vị thế của Việt Nam
trên thị trường chung đã có thay đổi tích cực khi chúng ta gia nhập WTO. Những
khó khăn, trở ngại trong các vòng đàm phán song phương, đa phương để gia nhập
WTO cho thấy sự lo ngại của các nước đối tác về tiềm năng phát triển của thị
trường Việt Nam, mặt khác, nó cũng cho thấy vị thế hiện tại của Việt Nam là
chưa cao. Sự tương thuộc trong thương mại vẫn là một chiều khi các sản phẩm thế
mạnh và tỷ trọng giá trị thương mại của chúng ta trong các dòng mậu dịch quốc
tế chưa đủ để ảnh hưởng đáng kể đến sự tăng trưởng cho khu vực và quốc tế.
Trong khi đó, những biến động về chính trị, quân sự và thương mại từ thị trường
chung lại có thể tác động khá lớn đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Với vị thế
khiêm tốn đó, doanh nghiệp và các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ít có cơ
hội để tạo sức ép buộc chính quyền của các nước phải tôn trọng nguyên tắc công
bằng của tự do thương mại khi họ phải chịu những áp lực chính trị, kinh tế, xã
hội từ các lực lượng trên thị trường nội địa.
Chúng ta vẫn bị nhiều quốc gia xếp vào danh mục nước có nền kinh tế phi thị
trường để áp dụng quy trình điều tra với các biện pháp đặc biệt trong các vụ
việc chống bán phá giá. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh thêm rằng, quy chế về nền kinh
tế phi thị trường chưa từng tồn tại trong pháp luật chống bán phá giá của GATT
và WTO mà chỉ thuộc cấp độ pháp luật quốc gia. Cho nên, tùy thuộc vào quan niệm
và nhu cầu bảo hộ ngành sản xuất nội địa mà các nước đặt ra những tiêu chí khác
nhau để xác định thế nào là nền kinh tế phi thị trường. Có một số nội dung cần
lưu ý khi đề cập đến vấn đề này là: (i) Khi quy chế kinh tế phi thị trường được
áp dụng trong các vụ việc chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu, dù quy trình
tiến hành vẫn không thay đổi về bản chất, song các công đoạn điều tra được thực
hiện phức tạp, chi tiết với những quan tâm đặc biệt từ các cơ quan có thẩm
quyền nói chung và các điều tra viên[11]. Thực tế đó đã nảy sinh nhiều lo ngại
từ các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho rằng tự do thương mại đã bị bóp méo
bằng những chiến lược phân biệt đối xử do ảnh hưởng từ những bất đồng về chính
trị khi các nước phát triển sử dụng quy chế phi thị trường đối với họ. Cuộc
tranh luận chưa kết thúc, quy chế phi thị trường vẫn tồn tại và được áp dụng
phổ biến cho những quốc gia đang và đã từng có nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
(ii) Vì chỉ là quan niệm của từng quốc gia, nên quy chế về nền kinh tế phi thị
trường đôi khi được sử dụng để thương lượng và ngã giá trong các cuộc đàm phán
về thương mại quốc tế. Ví dụ, trong thời gian vừa qua, với những nỗ lực đáng
kể, Việt Nam
được một số nước cam kết thừa nhận là hoạt động theo cơ chế thị trường. Tuy
nhiên, do vị thế thương mại còn hạn chế, chúng ta đã phải tự nguyện thừa
nhận là phi thị trường để đổi lại quyền được tham gia chính thức vào các diễn
đàn kinh tế thế giới[12]. Trong thời gian chưa được công nhận là có nền kinh tế
thị trường, doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc
phát triển xuất khẩu nếu bị ngành sản xuất sản phẩm cạnh tranh của nước nhập
khẩu khởi kiện vụ việc chống bán phá giá bởi lẽ, việc tạo ra các lập luận, bằng
chứng về việc bán phá giá đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường thường
dễ dàng hơn so với các quốc gia có nền kinh tế thị trường. (iii) Sự phức tạp về
pháp lý và kỹ thuật điều tra trong các vụ việc chống bán phá giá đã làm cản trở
khả năng kháng kiện của các doanh nghiệp là bị đơn kể cả khi đã thực sự nỗ lực
hợp tác với cơ quan có thẩm quyền. Dù pháp luật của các nước buộc phải điều chỉnh
một cách hợp lý khi có những khác biệt về sản phẩm, chênh lệch chi phí, tập
quán và quy trình sản xuất, kinh doanh giữa doanh nghiệp của các nước bị điều
tra và nước thứ ba để kết luận điều tra là khách quan, trung thực, song những
mức độ và những yếu tố cấu thành giá trị thông thường được điều chỉnh do cơ
quan điều tra quyết định. Thành ra, ý kiến và những thông tin của bị đơn trong
trường hợp này chỉ còn có giá trị tham khảo.
Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy rằng, khi vị thế của Việt Nam còn khiêm
tốn, việc chúng ta gặp bất lợi khi kháng kiện chống bán phá giá là tất yếu.
1.4. Sự hiểu biết về các chuẩn mực của thương mại quốc tế của doanh nhân
Việt Nam
còn nhiều hạn chế
Hơn hai thập niên qua, sự phát triển của các dòng thương mại tự do ra vào Việt
Nam đem đến nhiều cơ hội cho thị trường phát triển với tốc độ nhanh, ổn định
song cũng đủ để các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhận thức được sự phức
tạp của giao thương quốc tế. Có lẽ, sự phức tạp nói trên có nguồn gốc từ tính
chất vừa hợp tác, vừa cạnh tranh giữa các lực lượng tham gia quan hệ kinh tế
quốc tế. Trong sự hợp tác, đã có nhiều chuẩn mực được đặt ra về kỹ thuật, kế
toán, kiểm toán, chất lượng sản phẩm … với mục đích tạo sự tương thích cho quá
trình nối kết các vùng thị trường khác nhau thành khu vực mậu dịch chung, thống
nhất. Nhưng sự khác nhau về nhận thức, kinh nghiệm và lịch sử của các thị
trường có trình độ phát triển không đồng đều tất yếu sẽ phát sinh nhiều phức
tạp. Ngoài ra, các quốc gia luôn kêu đòi sự tôn trọng tự do thương mại nhằm mở
rộng khả năng buôn bán, song mặt khác, họ luôn tìm kiếm van an toàn để bảo hộ
cho sự phát triển của thị trường nội địa. Trong bối cảnh đó, các tranh chấp
phát sinh là điều đương nhiên. Những chuẩn mực của thương mại tự do phần lớn
chịu sự chi phối từ các quốc gia phát triển cho dù về lý thuyết chúng là sản
phẩm của các cuộc đàm phán quốc tế. Cùng với vị thế thương mại khiêm tốn, những
hạn chế trong nhận thức và trong thái độ tuân thủ các chuẩn mực nói trên đã làm
cho doanh nghiệp của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam gặp nhiều
bất lợi trong cạnh tranh và tranh chấp quốc tế, đặc biệt là các tranh chấp về
bán phá giá. Thực tế cho thấy, phần lớn sổ sách kế toán của doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp
ứng được những tiêu chuẩn cơ bản mà cơ quan điều tra đòi hỏi. Thế cho nên,
những thông tin về chi phí kinh doanh, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm, nguồn
nguyên liệu, lợi thế so sánh … của thị trường Việt Nam gần như không được sử dụng làm
cơ sở tính toán giá trị thông thường để điều tra về biên độ phá giá. Đâu đó vẫn
còn thói quen lập sổ đen, sổ trắng trong kinh doanh thì tất yếu sẽ không có
bằng chứng hợp lệ đáng tin cậy khi tham gia các vụ kiện chống bán phá giá.
1.5. Năng lực tài chính và tinh thần đoàn kết của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế
Tham gia kháng kiện vụ việc chống bán phá giá, các doanh nghiệp bị đơn
thường phải chi trả nhiều khoản phí, chủ yếu là thuê luật sư tư vấn và các chi
phí khác phục vụ cho việc điều tra … Riêng đối với nhu cầu tư vấn pháp lý, đội
ngũ luật sư Việt Nam hiện nay chưa đủ năng lực để tham gia các vụ kiện chống
bán phá giá ở nước ngoài nên phải thuê luật sư nước ngoài có trình độ cao, có
kinh nghiệm thương trường quốc tế, có khả năng tác động đến các lực lượng thị
trường và cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu. Kinh nghiệm của Trung
Quốc và qua thực tế của vụ việc Hoa Kỳ điều tra bán phá giá đối với sản phẩm
tôm đông lạnh của Việt Nam cho thấy, nếu kết hợp được hoạt động tư vấn của luật
sư nước điều tra với luật sư của nước bị điều tra sẽ đem lại hiệu quả khả quan
cho công tác kháng kiện. Điều này đồng nghĩa với việc phía bị đơn phải gánh
chịu những khoản chi phí khá lớn cho hoạt động tư vấn. Hơn nữa, với thời gian
tham gia kháng kiện càng dài, các chi phí mà doanh nghiệp phải chi trả càng
lớn, trong khi sản lượng xuất khẩu chắc chắn giảm dần. Tất cả những cái đó cộng
lại thì trong điều kiện hiện tại, những gánh nặng tài chính nói trên dường như
vượt quá khả năng của doanh nghiệp Việt Nam với đa số là doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Cho nên, có doanh nghiệp đã không tích cực kháng kiện để tránh các
khoản tài chính kháng kiện mà chuyển hướng xây dựng thị trường xuất khẩu mới và
chấp nhận mất thị trường xuất khẩu hiện tại.
Song song với những hạn chế về năng lực tài chính và kinh nghiệm thương
trường, các doanh nghiệp Việt Nam
chưa thực sự có được tinh thần đoàn kết trong các vụ tranh chấp về bán phá giá
trong thương mại quốc tế. Vấn đề này tuy nhỏ nhưng nó cũng có ảnh hưởng rất lớn
đến khả năng ứng phó các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài mà hàng hoá có
xuất xứ từ Việt Nam.
2. Đề xuất giải pháp
Trong các bài viết trước đây, chúng tôi đã nêu giải pháp cụ thể nhằm giảm
thiểu thiệt hại của doanh nghiệp Việt Nam
trong các vụ kiện bán phá giá ở nước ngoài khi doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn.
Nhưng nhìn tổng thể hơn, để tháo gỡ những trở ngại như đã phân tích, có lẽ
chúng ta cần phải đồng bộ thực hiện những giải pháp sau:
Một là, nhận thức rõ ràng về bản chất của tự do hóa thương mại nói
chung và pháp luật chống bán phá giá nói riêng. Không nên ngây thơ cho rằng, tự
do hóa thương mại sẽ chào đón nhiệt tình những thành quả kinh doanh lành mạnh
theo tinh thần cây ngay không sợ chết đứng, mà cần xác định đâu đó vẫn
tồn tại nhu cầu và toan tính bảo hộ, nhất là khi các biện pháp bảo hộ truyền
thống như thuế quan hoặc rào cản kỹ thuật … đang dần bị bãi bỏ theo các cam kết
quốc tế. Với thực trạng trên, có nhiều khả năng pháp luật chống bán phá giá bị
lạm dụng và trở thành công cụ bảo hộ hiện đại cho ngành sản xuất nội địa, nhằm
giảm sức ép cạnh tranh bằng cách kìm hãm sự phát triển của hàng hóa nhập khẩu.
Thế cho nên, quan niệm của các quốc gia phát triển về bán phá giá và bản chất
của bán phá giá đã được thay đổi cho phù hợp với nhu cầu thực tế của họ. Với
khả năng chi phối của họ, quan niệm đó đã được công nhận chính thức trong diễn
đàn thương mại toàn cầu bằng Hiệp định chống bán phá giá của WTO. Vì thế, dưới
góc độ chính sách, nhà nước và các hiệp hội nên xây dựng chiến lược phổ biến,
đào tạo cho doanh nghiệp đã, đang và sẽ tham gia xuất khẩu hàng hóa để họ nhận
thức được rằng: (i) các vụ kiện chống bán phá giá nói riêng và các tranh chấp
trong cạnh tranh quốc tế nói chung là tất yếu khi chiến lược phát triển xuất
khẩu thành công; (ii) quan niệm về bán phá giá trong thương mại quốc tế không
phải là bán lỗ vốn, mà chỉ đơn giản là sự phân biệt giá. Doanh nghiệp
xuất khẩu vẫn có thể bị kết luận là bán phá giá cho dù không có dấu hiệu của
cạnh tranh không lành mạnh. Do đó, khi tham gia thương mại quốc tế, các doanh
nghiệp nên xây dựng và thực hiện chiến lược cạnh tranh về giá hợp lý để vừa
phát triển thị trường, vừa tránh bị quy kết là bán phá giá. Hơn nữa, một khi
chúng ta không thể thay đổi quan niệm về bán phá giá thì điều phải làm khi tham
gia vào các vụ kiện về bán phá giá là không dồn toàn bộ nguồn lực cho các cuộc
tranh luận không hồi kết về sự công bằng trong giao thương quốc tế mà nên tìm
kiếm giải pháp tức thời và lâu dài để giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại
nếu kết luận khẳng định có bán phá giá.
Hai là, nâng cao khả năng kháng kiện của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần
chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế hoạt động kế toán, thống kê, sổ sách, hình thức
giao dịch ngoại thương … bằng quy định của pháp luật. Nội dung này muốn được
thực hiện cần có sự hợp tác từ phía cơ quan nhà nước, từ các doanh nghiệp với
thái độ thượng tôn pháp luật.
Ngoài ra, phải minh bạch hóa các chính sách kinh tế của Nhà nước đối với các
doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước để tránh tình
trạng doanh nghiệp bị quy kết là được hưởng tài trợ từ chính phủ. Dù bị coi là hoạt động trong nền kinh tế phi thị
trường, song các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu vẫn còn cơ hội để thoát khỏi
quy chế điều tra đặc biệt bằng cách chứng minh bản thân hoạt động theo nguyên
lý thị trường. Trong đó, chứng cứ và lập luận đưa ra đủ để chứng minh doanh
nghiệp đã thoát khỏi khả năng chi phối, kiểm soát từ các cơ quan nhà nước. Muốn
làm được điều này, ngay từ trong quan hệ nội địa, Nhà nước cần giới hạn và công
khai sự can thiệp vào tổ chức quản lý nội bộ, kế hoạch kinh doanh và các yếu tố
kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần lưu giữ những tài liệu, sổ
sách, chứng từ, hợp đồng … làm bằng chứng cho sự độc lập của mình khi quyết
định các vấn đề trong kinh doanh.
Ba là, thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp để nâng cao vị thế thương
mại của Việt Nam
trên thị trường khu vực và toàn cầu. Thời gian tham gia vào sân chơi chung chưa
dài, song cũng đủ để doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước hiểu rằng yếu thế
trong giao thương quốc tế luôn đồng nghĩa với bất lợi trong cạnh tranh và chịu
thiệt thòi trong các tranh chấp. Do đó, cùng với việc tổ chức kháng kiện hợp lý
trong từng vụ việc cụ thể, doanh nghiệp và nhà nước cần có chiến lược cụ thể để
tăng cường vị thế thương mại của thị trường Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp phải
củng cố ý thức kinh doanh lành mạnh, minh bạch và cạnh tranh công bằng, tôn
trọng các chuẩn mực trong thương mại quốc tế đã được thừa nhận. Bên cạnh chiến
lược phát triển, mở rộng thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp nên rèn luyện bản
lĩnh “chịu đòn” trong mậu dịch quốc tế để có thể chủ động, kiên trì kháng kiện
thay vì bỏ cuộc chấp nhận mất thị trường. Tất nhiên, để có bản lĩnh nói trên,
doanh nhân không thể đơn độc mà cần đoàn kết tạo nên sức mạnh tập thể khi tham
gia vụ kiện. Với các cơ quan nhà nước, không cho phép duy trì vai trò điều
hành, dẫn dắt mà là hợp tác với doanh nghiệp để phát triển thị trường. Các
chính sách phát triển xuất khẩu hay nhập khẩu phải luôn coi trọng vị trí trung
tâm của doanh nhân. Bên cạnh đó, cần tăng cường các cuộc đàm phán song phương,
đa phương ở cấp Chính phủ để góp phần nâng cao vị thế thương mại của quốc gia
hoặc ít nhất là giải thoát doanh nghiệp khỏi diện bị quy kết là hoạt động trong
nền kinh tế phi thị trường.
[1] John H.Jackson (2001), Hệ thống thương mại thế giới,
Nxb. Thanh niên, Hà Nội, tr. 345.
[2] Khoản 3.7 Điều 3 Hiệp định chống bán phá giá của WTO
năm 1994.
[3] Biên độ thiệt hại được định nghĩa là niêm yết giá thấp
hơn giá bán trên thị trường EU. Nói cách khác biên độ thiệt hại là sự khác biệt
giữa giá hàng hóa nhập khẩu và giá bán lý thuyết trong EU.
[4] Xem thêm Đinh Thị Mỹ Loan (Chủ biên), Chủ động ứng phó
với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, Nxb. Lao động – xã
hội, H. 2006. tr 17-22.
[5] Điều 2.2 Hiệp định chống bán phá giá của WTO năm 1994.
[6] Đinh Thị Mỹ Loan, sđd, tr 22-23.
[7] Đinh Thị Mỹ Loan, sđd, tr. 49.
[8] Điều 5.8 Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định
cuộc điều tra sẽ bị đình chỉ ngay lập tức trong trường hợp cơ quan có thẩm
quyền xác định được khối lượng hàng nhập khẩu bán phá giá từ một nước nào đó
chiếm ít hơn 3% tổng nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu.
[9] Xem thêm Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, Các vụ
kiện chống bán phá giá tiêu biểu, Hà Nội, 2007, tr. 17-20.
[10] Vụ tranh chấp giữa EU và ấn độ liên quan đến sản phẩm
khăn lanh trải giường cotton được Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB)
thụ lý và giải quyết vào năm 2001 theo Phán quyết của Ban hội thẩm WT /DS141/R
đoạn 6.233.
[11] Ví dụ, Hoa Kỳ điều động 80 nhân viên của Bộ Thương mại
để điều tra những vụ việc chống bán phá giá với hàng hóa của 7 nước có nền kinh
tế phi thị trường (chiếm 2/3 tỗng số nhân viên trong bộ phận điều tra), trong
khi chỉ cần 40 người điều tra các vụ việc chống bán phá giá của hơn 100 nước có
nền kinh tế thị trường.
[12] Trong phiên đàm phán Việt Nam – Hoa Kỳ lần thứ 12 (năm
2006) về việc Việt Nam gia nhập WTO, Việt Nam và Hoa Kỳ đã có cam kết sẽ công
nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường sau 12 năm kể từ thời điểm gia
nhập WTO của Việt Nam – theo Đinh Thị Mỹ Loan, sđd, tr. 122.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 112, THÁNG 12 NĂM 2007 - NGUYỄN
NGỌC SƠN – Đại học Luật TPHCM & NGUYỄN PHI THĂNG – Sở Nội vụ Lâm Đồng
--------------------------------------------------------------------------------
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------