Nuôi con nuôi thực tế: Thực trạng và giải pháp
Theo chúng tôi, khi xây dựng Luật Nuôi con nuôi cần cân nhắc và có quy định cụ thể, hợp tình, hợp lý để giải quyết thỏa đáng những trường hợp nuôi con nuôi thực tế đã tồn tại trong quá khứ, nhằm bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi.
1. Nhận diện quan hệ nuôi con nuôi thực tế
1.1. Một số dạng nuôi con nuôi trong thực tế xã hội Việt Nam
Trong đời sống xã hội Việt Nam, việc nhận nuôi con
nuôi đã tồn tại từ lâu, với nhiều lý do và mục đích khác nhau, nhưng lý
do cơ bản, phổ biến nhất là vì lòng từ tâm, lòng thương người, muốn cưu
mang, giúp đỡ những người rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Với quan niệm như
vậy, việc nhận con nuôi, nhận cha mẹ nuôi đã được thực hiện khá rộng
rãi trong đời sống nhân dân.
Với ý nghĩa là một quyền tự do dân sự của cá nhân,
việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có thể được thực hiện theo những
cách thức khác nhau, tuỳ theo sự lựa chọn của cá nhân trong những điều
kiện, hoàn cảnh nhất định. Tuy nhiên có thể thấy, có hai cách thức xác
lập quan hệ nuôi con nuôi trong thực tế. Đó là xác lập quan hệ nuôi con
nuôi về mặt xã hội và xác lập về mặt pháp lý.
Việc nhận nuôi con nuôi có thể được xác lập về mặt
pháp lý, thông qua sự kiện đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Đối với những trường hợp có đăng ký, giữa người
nhận nuôi và con nuôi phát sinh quan hệ cha mẹ và con trước pháp luật.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi
được nhà nước công nhận và bảo vệ. Vấn đề này không nằm trong khuôn khổ
phân tích của bài viết này. Trong phạm vi của bài viết này, chỉ xin bàn
đến những dạng xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi trong thực tế mà
không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong thực tế đời sống tồn tại khá nhiều các
trường hợp nhận con nuôi nhưng không đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là những trường hợp xác lập quan hệ
nuôi con nuôi về mặt xã hội. Tuy nhiên không phải tất cả các trường hợp
nhận nuôi con nuôi không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đều là nuôi con nuôi thực tế. Qua nghiên cứu cho thấy, trong thực
tế đời sống xã hội Việt Nam, quan hệ nuôi con nuôi đã từng tồn tại một
số dạng cơ bản sau:
- Nuôi con nuôi theo phong tục tập quán
- Nuôi con nuôi để khuếch trương quyền thế của gia đình
- Nuôi con nuôi để lấy phúc
- Nuôi con nuôi trên danh nghĩa
- Nuôi con nuôi thực tế.
Chúng tôi xin phân tích một số dạng hình thành quan
hệ nuôi con nuôi trong thực tế mà không có sự công nhận của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, để có cơ sở hiểu rõ hơn và phân biệt giữa nuôi con
nuôi thực tế với các dạng quan hệ nuôi con nuôi khác trong thực tế đời
sống.
* Nuôi con nuôi theo phong tục tập quán: việc
nhận trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa làm con nuôi là một việc làm
thiện, nhân đạo, là một phong tục tốt đẹp, thể hiện đạo lý của dân tộc
và được xã hội ủng hộ. Trách nhiệm cứu người, cưu mang những người
nghèo khổ, tàn tật nặng, mồ côi mà không có người thân thích để nương
tựa cũng đã được phản ánh trong pháp luật nhà Lê qua bộ Quốc triều hình
luật(1). Những quy định này của pháp luật đã có tác dụng nhất định
trong việc khuyến khích nhận trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa làm con
nuôi, nhận những người già neo đơn, “không thể tự mình mưu sống được”
làm cha, mẹ nuôi trong đời sống cộng đồng ở xã hội Việt Nam.
Bên cạnh đó, ở một số vùng miền còn tồn tại tập tục
nối nòi. Nối nòi là một tục lệ khá phổ biến, có tính chất đặc trưng của
các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc ở Trường Sơn Tây Nguyên,
như dân tộc Ê Đê. Nối nòi được hiểu là sự thay thế người khác bằng một
người trong họ hàng của người chết để tiếp tục duy trì quan hệ hôn
nhân, nhằm duy trì dòng họ, nòi giống. Tập tục của người Ê Đê là: “gẫy rầm sàn thì phải thay, gẫy giát sàn thì phải thế, người này chết thì phải nối bằng một người khác”(2).
Người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, nên việc nối nòi theo dòng họ mẹ, để
dòng họ mẹ không bị tuyệt tự là một điều quan trọng. Vì vậy, quyền thừa
kế cũng được xác định theo dòng họ mẹ (Điều 182, Điều 183, Điều 185
Luật Tục Ê Đê). Do đó trong trường hợp một người phụ nữ không có con
thì “phải tìm nuôi lấy một đứa con của người chị hay của người em
gái mình, không có đứa này thì phải tìm một đứa khác trong cùng một họ
với mình” và khi đó người con được thừa kế mọi của cải của người
phụ nữ để lại (Điều 106 Luật Tục Ê Đê). Theo tập quán mẫu hệ, nên trong
những trường hợp này người ta thường nuôi một người con gái của chị, em
gái cùng họ với người nuôi: “muốn nuôi một người con gái để làm giống, muốn nuôi một người con như chính mình đẻ ra để tránh mất giống tuyệt nòi…” (Điều 107 Luật Tục Ê Đê).
Người Mường, Thái, Dao, Thổ, Mông, Khơ Mú đều có
phong tục nhận nuôi con nuôi. Đối với các gia đình dân tộc Mường, Thái
mà không có con thì họ thường nhận một đứa con của người anh hay người
em làm con nuôi và coi nó như con đẻ của mình(3). Người Chăm cũng
thường nhận nuôi con nuôi là người trong tộc họ, nếu không có thì kiếm
người ngoài tộc(4). Người Chăm theo chế độ mẫu hệ, con gái út được
hưởng tài sản thừa kế và có trách nhiệm quản lý tài sản để thờ cúng cha
mẹ tổ tiên. Người Chăm có quan niệm rằng “phận của đàn ông là chiến đấu, phận của đàn bà là sinh nở”(5).
Vì vậy, việc nuôi con nuôi là nhằm có người kế tục dòng họ mẹ. Điều này
thường xảy ra tương tự đối với các dân tộc theo chế độ mẫu hệ ở Trường
Sơn – Tây Nguyên(6). Như vậy, có thể nói, việc nhận các
cháu trong họ (con anh, chị, em) làm con nuôi đã trở thành một phong
tục tập quán tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Điều đó phù hợp với tâm lý
của người Việt Nam là muốn đông con nhiều cháu, nên dù có con đẻ, họ
vẫn “muốn nhận nhiều con nuôi từ những gia đình khác”(7).
Những quan hệ nuôi con nuôi theo phong tục tập quán
như vậy có thể vì lợi ích của người nhận nuôi, của gia đình dòng họ
người nhận nuôi nhiều hơn vì lợi ích của con nuôi. Các quan hệ nuôi con
nuôi theo phong tục tập quán đã từng tồn tại từ lâu trong cộng đồng các
dân tộc thiểu số và hiện nay vẫn còn tồn tại. Những quan hệ nhận nuôi
con nuôi này được xã hội, cộng đồng thừa nhận, các bên đã thực hiện
quyền và nghĩa vụ của quan hệ cha mẹ và con trên thực tế, mặc dù có thể
không thực hiện việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
* Nuôi con nuôi để khuếch trương quyền thế của gia đình:
Trong đời sống xã hội Việt Nam, việc nuôi con nuôi còn nhằm khuếch
trương quyền thế của gia đình. Bởi vì theo quan niệm của xã hội Việt
Nam, “tầm cỡ và sự giàu có của một gia đình gắn chặt với thế lực chính
trị và xã hội”. Nhiều gia đình đã có con đẻ vẫn nhận nuôi con nuôi, vì
muốn có “nhiều gia nhân và nhiều bà con họ hàng, cho nên họ có phong
tục nuôi con nuôi lẫn nhau (không phân biệt con trai hay con gái) trong
dòng họ của mình…”(8). Những đứa trẻ được nuôi có thể xuất thân từ
những gia đình khá giả, có địa vị ngang hàng với gia đình nhận nuôi,
nhưng phần lớn là trẻ sinh ra trong những gia đình nghèo. Việc nhận
nuôi con nuôi như vậy thường diễn ra ở những gia đình trong giới cầm
quyền, nhằm mục đich được hưởng một số lớn đất đai. Việc nhận nuôi
những đứa trẻ từ các gia đình nghèo khổ còn nhằm mục đích có thêm nguồn
nhân công mà không phải trả tiền. Những đứa trẻ này tuy được nhận làm
con nuôi nhưng không có quyền lợi như con đẻ, “việc nuôi con nuôi kiểu
này có tính chất một quan hệ họ hàng giả tưởng, mối quan hệ giữa cha mẹ
nuôi và con nuôi tương tự như giữa ông chủ và người tuỳ thuộc”(9). Việc
nuôi con nuôi nhằm khuếch trương quyền thế của gia đình thường tồn tại
trong các gia đình địa chủ phong kiến trước đây. Hiện nay việc nhận
nuôi con nuôi để có thêm người giúp việc trong gia đình có thể vẫn tồn
tại, nhưng việc nhận nuôi con nuôi chỉ có tính chất hình thức, không có
giá trị pháp lý. Giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi cũng
không tồn tại quan hệ cha mẹ và con trên thực tế.
* Nuôi con nuôi để lấy phúc: Trong thực tế
đời sống, có không ít trường hợp vì mê tín mà người ta nhận nuôi một
đứa trẻ, coi như con của mình để làm phúc, để có thể giảm bớt tai vạ,
những điều không may mắn cho gia đình hoặc để vợ chồng có thể sinh được
con của mình. Người được nhận nuôi có thể là bất cứ đứa trẻ nào, có thể
là trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ con nhà nghèo đông con… Giữa người
nhận nuôi và đứa trẻ được nhận nuôi có thể có quan hệ quen biết hoặc
không quen biết… Người nhận nuôi đối xử với người con nuôi như con đẻ,
nhưng việc nuôi con nuôi có thể không được sự công nhận của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
* Nuôi con nuôi trên danh nghĩa: đây là những
trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống. Nuôi con nuôi trên danh nghĩa
là việc các bên nhận nhau là cha mẹ nuôi và con nuôi xuất phát từ tình
cảm, nhưng không gắn với quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con, không
nhằm mục đích hình thành quan hệ cha mẹ và con trong thực tế. Các bên
có thể đối xử với nhau, gọi nhau là cha mẹ và con, nhưng không ràng
buộc thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau trên thực tế. Hai bên
thường không sống chung với nhau. Việc nuôi con nuôi này không phụ
thuộc vào bất cứ điều kiện nào, mà chỉ tuỳ thuộc vào tình cảm, sự tự
nguyện của các bên, phù hợp với cách ứng xử, chuẩn mực đạo đức chung
của xã hội. Việc nuôi con nuôi này thường được thực hiện dưới hình thức
thoả thuận bằng lời giữa các bên chủ thể. Quan hệ cha mẹ và con trong
hình thức này thường chỉ tồn tại trên danh nghĩa, có ý nghĩa đối với
hai bên chủ thể, mà không có ý nghĩa nhiều lắm đối với những người khác
trong gia đình của hai bên, những người xung quanh và xã hội. Tuy
nhiên, trong xã hội Việt Nam, hình thức nhận con nuôi hoặc nhận cha mẹ
nuôi trên danh nghĩa thường hay xảy ra, vì người Việt Nam vốn có lối
sống trọng tình, trọng nghĩa, hiếu đễ. Ví dụ: việc nhận những người già
cả, không có khả năng lao động là cha nuôi, mẹ nuôi để chăm sóc, nuôi
dưỡng; việc bạn bè của những đồng đội đã hy sinh trong chiến tranh nhận
những người mẹ liệt sỹ làm mẹ nuôi; hoặc cho con làm con nuôi của những
người có tài, có đức, giỏi giang… trên danh nghĩa để con cái có thể học
được những phẩm chất tốt đẹp của họ… Hình thức nuôi con nuôi trên danh
nghĩa thể hiện nét đẹp trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Đặc
biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường, việc nuôi con nuôi trên danh
nghĩa còn thể hiện sự chăm sóc, quan tâm của cộng đồng đối với những
người nghèo khổ, già cả, trẻ mồ côi không nơi nương tựa. Điều đó ít
nhiều tạo điều kiện giúp đỡ họ bớt khó khăn, tạo niềm tin cho họ trong
cuộc sống. Việc nhận nuôi con nuôi này chủ yếu hướng tới những giá trị
đạo đức, tinh thần, nhưng không có giá trị pháp lý.
Những dạng quan hệ nuôi con nuôi trên đều có đặc
điểm chung là không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tuy nhiên không phải các dạng quan hệ nuôi con nuôi đó đều là nuôi con
nuôi thực tế. Để xác định quan hệ nuôi con nuôi nào là quan hệ nuôi con
nuôi thực tế cần hiểu rõ bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế.
1.2. Khái niệm và bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế:
*Khái niệm nuôi con nuôi thực tế:
Nuôi con nuôi thực tế là hình thức nuôi con nuôi làm
hình thành quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được
nhận làm con nuôi. Việc nhận nuôi thoả mãn đầy đủ các điều kiện của
việc nuôi con nuôi, không trái với mục đích của việc nuôi con nuôi và
đạo đức xã hội. Người con nuôi cùng sống trong gia đình cha mẹ nuôi.
Giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi có mong muốn thiết lập
quan hệ cha mẹ và con, đối xử với nhau trong tình cảm cha mẹ và con,
đồng thời thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối
với nhau để xây dựng một gia đình thật sự. Quan hệ cha mẹ và con giữa
hai bên đã được xác lập trong thực tế, được họ hàng và mọi người xung
quanh công nhận. Việc nhận nuôi con nuôi có thể được thực hiện bằng lời
nói hoặc văn bản thoả thuận giữa hai bên gia đình, nhưng không đăng ký
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quan hệ nuôi con nuôi thực tế phải có đầy đủ các dấu hiệu sau:
- Về ý chí của các bên: Giữa người nhận nuôi và con
nuôi có mong muốn thiết lập quan hệ cha mẹ và con, đã thật sự coi nhau
như cha mẹ và con, đối xử với nhau trong tình cảm cha mẹ và con.
- Về chủ thể: người nhận nuôi và con nuôi đáp ứng
đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, như điều kiện về
tuổi, tư cách đạo đức, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng…
- Về khách quan: các bên đã cùng chung sống với
nhau, gắn bó, cư xử với nhau trong tình cảm cha mẹ và con, thực hiện
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau. Quan hệ
giữa cha mẹ và con giữa hai bên được họ hàng và mọi người xung quanh
thừa nhận. Việc nuôi con nuôi là đúng mục đích, không trái pháp luật và
đạo đức xã hội.
Như vậy, chỉ khi một quan hệ nuôi con nuôi có đầy đủ
các dấu hiệu trên thì mới được coi là nuôi con nuôi thực tế. Trước đây,
trong thực tế giải quyết các tranh chấp về nuôi con nuôi, đặc biệt là
những tranh chấp liên quan đến quyền thừa kế, tòa án cũng dựa vào những
dấu hiệu trên để xem xét có hay không có quan hệ nuôi con nuôi thực tế.
Khi được công nhận là quan hệ nuôi con nuôi thực tế thì giữa người nhận
nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của quan hệ
cha mẹ và con.
Trong các dạng quan hệ nuôi con nuôi đã tồn tại
trong thực tiễn đời sống có quan hệ được coi là nuôi con nuôi thực tế,
còn những quan hệ không có đủ các dấu hiệu trên thì không được công
nhận là nuôi con nuôi thực tế. Để có cơ sở nhận biết quan hệ nuôi con
nuôi thực tế cần xem xét bản chất của quan hệ này.
* Bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế:
Có thể nói, bản chất c��a quan hệ nuôi con nuôi thực
tế là đã hình thành và tồn tại quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận
nuôi và người được nhận nuôi trong thực tế cuộc sống. Quan hệ cha mẹ và con được xác lập phù
hợp với mong muốn, tình cảm của các bên và được thể hiện rõ ràng, công
khai trong cuộc sống, nhưng chưa được công nhận của cơ quan có thẩm
quyền.
Để làm rõ bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế
có thể phân biệt giữa quan hệ nuôi con nuôi thực tế với nuôi con nuôi
danh nghĩa.
Có quan điểm cho rằng: “con nuôi thực tế cũng giống
như con nuôi trên danh nghĩa, là sự thoả thuận miệng giữa hai gia đình
về việc nuôi con nuôi mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, (có một số ít trường hợp có văn bản viết tay giữa hai gia đình).
Tuy nhiên loại con nuôi này khác với con nuôi trên danh nghĩa là người
con nuôi ở hẳn với cha mẹ nuôi và gắn bó với cha mẹ nuôi”(10).
Có thể nhận thấy quan hệ con nuôi thực tế và con
nuôi danh nghĩa có dấu hiệu giống nhau là đều không đăng ký tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, song về bản chất của hai quan hệ là khác nhau.
Theo chúng tôi, con nuôi thực tế là người được nhận làm con trên cơ
sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi, giữa người nuôi
và người được nhận nuôi đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của
cha mẹ và con đối với nhau, nhưng không đăng ký việc nuôi con nuôi tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quan hệ nuôi con nuôi thực tế khác quan hệ con nuôi trên danh nghĩa ở những điểm sau:
Thứ nhất, quan hệ con nuôi trên danh nghĩa là
một quan hệ xã hội, không phải là một quan hệ pháp luật, không được
pháp luật điều chỉnh. Ngược lại, con nuôi thực tế là một hiện tượng xã
hội có thể được pháp luật điều chỉnh khi có những điều kiện nhất định,
trong giai đoạn nhất định.
Thứ hai, quan hệ con nuôi trên danh nghĩa
không đòi hỏi phải tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiện
nuôi con nuôi (như điều kiện về chủ thể giữa các bên…), nhưng quan hệ
con nuôi thực tế chỉ có thể được công nhận có giá trị pháp lý khi tuân
thủ đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi nhưng không đăng ký
nuôi con nuôi.
Thứ ba, quan hệ con nuôi trên danh nghĩa
không tồn tại quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa cha mẹ nuôi và con
nuôi, nhưng trong quan hệ con nuôi thực tế hai bên đã thực sự chung
sống với nhau, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con
đối với nhau.
Thứ tư, con nuôi trên danh nghĩa không làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, nhưng
đối với con nuôi thực tế thì giữa cha mẹ nuôi và con nuôi vẫn có quyền
và nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ và con theo luật định (khi được công
nhận).
Trong thực tế đời sống có thể tồn tại nhiều dạng
nuôi con nuôi mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền như
đã phân tích ở mục trên. Dựa trên những dấu hiệu bản chất của quan hệ
nuôi con nuôi thực tế có thể phân biệt, xác định khi nào một quan hệ
nuôi con nuôi không có đăng ký được công nhận là nuôi con nuôi thực tế.
Chỉ khi được công nhận là quan hệ nuôi con nuôi thực tế thì giữa các
bên chủ thể mới có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy
định của pháp luật.
Tuy nhiên, về nguyên tắc, những quan hệ kiểu này
không được công nhận về mặt pháp lý. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới
quyền lợi của các bên và có phần không phù hợp với thực tế khách quan
của quan hệ nuôi con nuôi. Do đó, để bảo đảm quyền lợi của các bên chủ
thể trong quan hệ nuôi con nuôi thực tế, nhà nước cần có những biện
pháp mềm dẻo, linh hoạt để giải quyết một cách thiết thực, có hiệu quả
vấn đề này trong thời gian gần nhất.
2. Pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi thực tế
Nuôi con nuôi thực tế là một hiện tượng khách quan
luôn tồn tại trong đời sống xã hội ở nước ta. Tuy nhiên không phải lúc
nào nhà nước cũng ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh vấn đề
này. Thông thường quan hệ nuôi con nuôi thực tế được điều chỉnh, giải
quyết bằng các quy phạm đạo đức và phong tục tập quán. Nhà nước đã có
sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ nuôi con nuôi thực tế qua
một số văn bản pháp luật trong mỗi giai đoạn nhất định.
Luật HN&GĐ năm 1959 là đạo luật đầu tiên của nhà
nước ta điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi. Trong Luật này, vấn đề nuôi
con nuôi mới chỉ được quy định rất sơ sài bởi một điều luật (Điều 24).
Theo quy định của điều luật này thì “việc nhận nuôi con nuôi phải
được Ủy ban hành chính cơ sở mơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa
trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch”. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 1959 không có quy định gì về các điều kiện của việc nuôi con nuôi.
Luật HN&GĐ năm 1986 quy định về nuôi con nuôi
trong một chương riêng, với quy định về tuổi của người được nhận làm
con nuôi, ý chí của các bên và “việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ hộ tịch”.
Như vậy, Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 đều quy
định việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
công nhận và ghi vào sổ hộ tịch thì mới có giá trị pháp lý.
Với các quy định tại Luật HN&GĐ năm 1959, Luật
HN&GĐ năm 1986 như trên đã dẫn đến cách hiểu là việc nuôi con nuôi
chỉ cần cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ hộ tịch
mà không bắt buộc phải đăng ký việc nuôi con nuôi như quy định tại Điều
72 Luật HN&GĐ năm 2000. Tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi thì
cách hiểu như vậy là chưa đúng với bản chất của việc đăng ký hộ tịch.
Theo các văn bản pháp luật về đăng ký hộ tịch thì có thể hiểu đăng ký
hộ tịch bao gồm hai việc gắn liền với nhau: đó là công nhận các sự kiện
hộ tịch (hoặc còn gọi là xác nhận các sự kiện hộ tịch theo Điều 1 Nghị
định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch,
Điều 1 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005) và ghi các sự kiện
đã được công nhận đó vào sổ hộ tịch. Điều này cũng được thể hiện rõ
ràng trong Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP
ngày 16/1/1961 và Thông tư số 05 –NV ngày 21/1/1961 của Bộ Nội vụ hướng
dẫn thi hành Điều lệ đăng ký hộ tịch mới (mục D: Đăng ký và ghi chú
việc nuôi con nuôi). Sự công nhận việc nuôi con nuôi của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền được thể hiện bằng Quyết định công nhận việc nuôi
con nuôi. Quyết định đó được trao cho các bên đương sự, là một loại
giấy tờ hộ tịch và là chứng cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá
nhân. Đồng thời với việc ra quyết định công nhận việc nuôi con nuôi,
việc nhận nuôi con nuôi phải được ghi vào sổ hộ tịch. Ghi vào sổ hộ
tịch là việc xác nhận một sự kiện hộ tịch và lưu trữ những thông tin
gắn liền với nhân thân của cá nhân vào sổ gốc, là cơ sở pháp lý làm
phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của cá nhân.
Những thông tin về việc nuôi con nuôi được ghi trong sổ hộ tịch (cụ thể
là Sổ đăng ký việc nuôi con nuôi) là cơ sở để cấp lại bản sao Quyết
định công nhận việc nuôi con nuôi khi Quyết định đó bị mất hoặc bị hư
hỏng không thể sử dụng được. Bản sao được cấp từ sổ gốc có giá trị pháp
lý như bản chính.
Như vậy, có thể nói, theo quy định của pháp luật,
việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công
nhận và ghi vảo sổ hộ tịch mới có giá trị pháp lý, thực chất đó chính
là đăng ký việc nuôi con nuôi.
Tuy nhiên trong thực tế nhận nuôi con nuôi, vì nhiều
lý do khác nhau mà việc này không được thực hiện. Nhiều trường hợp quan
hệ nuôi con nuôi đã được thực hiện trên thực tế nhưng lại không có sự
công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không được ghi vào sổ hộ
tịch nên việc nuôi con nuôi không có giá trị pháp lý, làm ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự.
Để giải quyết một cách hợp tình hợp lý, phù hợp với
thực trạng khách quan của quan hệ nuôi con nuôi thực tế và bảo vệ được
lợi ích chính đáng của các bên đương sự, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày
20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp
dụng Luật HN&GĐ năm 1986 (viết tắt là Nghị quyết số
01/1988/NQ-HĐTP) quy định: “Những điều kiện về nuôi con nuôi đã được
quy định trong các điều 34, 35, 36, và 37 nhưng trước khi Luật này được
ban hành thì những điều kiện đó chưa được quy định đầy đủ. Vì vậy,
những việc nuôi con nuôi trước khi ban hành Luật mới vẫn có giá trị
pháp lý, trừ những trường hợp nuôi con nuôi trái với mục đích xã hội
của việc nuôi con nuôi (như: nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động hoặc
để dùng con nuôi vào những hoạt động xấu xa, phạm pháp). Nếu việc nuôi
con nuôi trước đây chưa được ghi vào sổ hộ tịch nhưng việc nuôi con
nuôi đã được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiện nghĩa vụ
với con nuôi thì việc nuôi con nuôi vẫn có những hậu quả pháp lý do
luật định”.
Theo quy định này thì nếu việc nuôi con nuôi được
bắt đầu từ trước ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực (ngày 3 -1-
1987) mà chưa đăng ký, thì việc nuôi con nuôi vẫn có giá trị pháp lý do
luật định trong khoảng thời gian luật HN&GĐ năm 1986 còn hiệu lực.
Do đó, nếu xảy ra tranh chấp trong khoảng thời gian này thì quan hệ cha
mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi vẫn được
công nhận, do việc áp dụng Luật HN&GĐ năm 1986 và Nghị quyết số
01/1988/NQ-HĐTP. Tuy nhiên nếu sau khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu
lực mà quan hệ nuôi con nuôi đó vẫn chưa được đăng ký tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền thì sẽ không có giá trị pháp lý.
Ví dụ: Bà H nhận cháu T làm con nuôi từ năm 1982,
lúc đó cháu 3 tuổi, nhưng không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và chưa được ghi vào sổ hộ tịch. Bà H và cháu T đã sống
trong tình cảm mẹ con đối với nhau, quan hệ mẹ con được mọi người xung
quanh và họ hàng thừa nhận. Giả sử năm 1999 bà H chết, nếu có tranh
chấp về thừa kế, thì T vẫn được công nhận là con nuôi thực tế của bà H
nên được thừa kế tài sản của bà H theo quy định của Nghị quyết số
01/1988/NQ-HĐTP. Nhưng nếu bà H chết năm 2002 thì vấn đề sẽ trở nên
phức tạp hơn, vì theo Luật HN&GĐ năm 2000, T sẽ không được công
nhận là con nuôi thực tế của bà H nữa nên không được thừa kế tài sản
của bà H. Điều này là không phù hợp với thực tế khách quan và bản chất
của quan hệ nuôi con nuôi, nên không đảm bảo được quyền lợi chính đáng
của các bên đương sự.
Theo Điều 72 Luật HN&GĐ năm 2000, “việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào sổ hộ tịch”. Điều 17 Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27-3-2002 quy định: “Những
trường hợp nhận nuôi con nuôi được xác lập trước ngày 01 tháng 01 năm
2001, ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật, mà
chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng có đủ điều kiện
theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và trên thực tế,
quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đã được xác lập, các bên đã thực
hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình, thì được pháp luật công
nhận và được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc
đăng ký nuôi con nuôi. Nếu có tranh chấp liên quan đến việc xác định
quan hệ giữa cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được
nhận làm con nuôi thì do Toà án giải quyết”.
Như vậy, việc nuôi con nuôi thực tế chỉ được công
nhận nếu việc nuôi con nuôi đó được xác lập giữa “công dân thuộc các
dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa” trước ngày
1/1/2001 nhưng chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với
các trường hợp nuôi con nuôi phát sinh sau ngày 1/1/2001 giữa công dân
các dân tộc thiểu số phải thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi theo
Điều 16 của Nghị định số 32/2002/NĐ-CP. Như vậy, theo Luật
HN&GĐ năm 2000, về nguyên tắc, những trường hợp nhận nuôi con nuôi
diễn ra trước khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực (ngày 1/1/2001),
dù là bao lâu đi nữa, cũng không được công nhận có giá trị pháp lý, nếu
chưa được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, (trừ một số trường hợp
ngoại lệ nhận nuôi con nuôi giữa đồng bào dân tộc thiểu số với nhau
đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa). Đồng thời, mọi trường hợp nuôi con
nuôi sau ngày 1/1/2001 mà không đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền đều
không có giá trị pháp lý. Điều đó có nghĩa là sẽ không công nhận quan
hệ nuôi con nuôi thực tế sau khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực.
Có thể thấy, nếu áp dụng những quy định này một cách
cứng nhắc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích chính đáng của các
bên trong quan hệ nuôi con nuôi, và không phù hợp với thực tế khách
quan của quan hệ nuôi con nuôi. Bởi vì, có nhiều trường hợp, quan hệ
nuôi con nuôi đã được xác lập trên thực tế, giữa hai bên đã thực hiện
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau, việc nuôi
con nuôi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, phù hợp với mục đích của việc
nuôi con nuôi và đã tồn tại trong một thời gian dài, được mọi người
công nhận, đến nay con nuôi có thể đã trên 15 tuổi, nên nếu các bên có
nguyện vọng đăng ký việc nuôi con nuôi thì không có cơ sở để giải
quyết, vì vậy quyền lợi của các bên không được bảo đảm. Trong những
trường hợp này, khi có tranh chấp hoặc một sự kiện nào đó xảy ra, như
có yêu cầu được hưởng di sản thừa kế của người chết là cha nuôi, mẹ
nuôi… thì không có cơ sở để giải quyết. Do đó, theo chúng tôi, đối với
những trường hợp này, nhà nước cần có biện pháp linh hoạt, mềm dẻo nhằm
bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các bên, đồng thời phù hợp
với thực tế khách quan của quan hệ nuôi con nuôi.
3. Giải pháp giải quyết tình trạng con nuôi thực tế hiện nay
Thực tế cho thấy hiện nay phát sinh khá nhiều yêu
cầu giải quyết các quan hệ về nhân thân và tài sản giữa người nhận nuôi
con nuôi với người được nhận nuôi, mà việc nhận nuôi đó chưa được công
nhận của cơ quan có thẩm quyền và chưa được ghi vào sổ hộ tịch, mặc dù
quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên đã tồn tại trên thực tế trong thời
gian dài, có khi hàng chục năm. Việc cần có một giải pháp có tính khả
thi để giải quyết tình trạng này là một yêu cầu khách quan và cấp
thiết, cần được pháp luật quan tâm điều chỉnh, đặc biệt khi Luật Nuôi
con nuôi đang được xây dựng.
3.1. Phương hướng chung: Theo chúng tôi, giải quyết vấn đề con nuôi thực tế phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính
đáng của các bên trong quan hệ cha mẹ và con phù hợp với thực tế và bản
chất khách quan của quan hệ nuôi con nuôi.
Thứ hai, chỉ công nhận có quan hệ cha mẹ và
con đối với những trường hợp nuôi con nuôi mà các bên chủ thể đáp ứng
đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi vào thời điểm bắt đầu xác lập
quan hệ tương ứng với các quy định của pháp luật có hiệu lực tại thời
điểm đó và các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con
đối với nhau trên thực tế.
Thứ ba, chỉ công nhận quan hệ nuôi con nuôi
thực tế đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau thực
hiện trên lãnh thổ Việt Nam.
Thứ tư, chỉ công nhận quan hệ nuôi con nuôi
thực tế đối với những trường hợp quan hệ nuôi con nuôi bắt đầu trước
khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực.
3.2. Giải pháp cụ thể: Trên cơ sở đó,
giải quyết vấn đề nuôi con nuôi thực tế có thể được điều chỉnh bằng một
văn bản pháp luật riêng biệt, có thể bằng Nghị quyết của Quốc hội về
việc thi hành Luật Nuôi con nuôi, tương tự như cách giải quyết đối với
các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước khi Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực. Có thể quy định cụ thể một
số trường hợp sau:
- Trường hợp thứ nhất: Quan hệ nuôi con nuôi đã được
xác lập trước ngày 3/1/1987, ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực,
mà người nhận nuôi và con nuôi đáp ứng đủ các điều kiện của việc nuôi
con nuôi theo quy định của luật HN&GĐ năm 1986, các bên đã thực
hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau trên
thực tế, quan hệ cha mẹ và con đã được mọi người thừa nhận và vẫn đang
tồn tại trên thực tế, thì được công nhận có quan hệ cha mẹ và con theo
quy định của pháp luật. Các bên có nguyện vọng đăng ký việc nuôi con
nuôi thì được khuyến khích và giải quyết. Nếu các bên thực hiện đăng ký
việc nuôi con nuôi thì quan hệ cha mẹ và con vẫn được công nhận từ khi
bắt đầu chung sống.
- Trường hợp thứ hai: Quan hệ nuôi con nuôi được bắt
đầu từ sau ngày 3/1/1987 (ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực) đến
trước ngày 1/1/2001, trong đó người nhận nuôi và con nuôi đáp ứng đủ
các điều kiện của việc nuôi con nuôi theo quy định của Luật HN&GĐ
năm 1986 tại thời điểm xác lập quan hệ, các bên đã thực hiện đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau trên thực tế, quan hệ
cha mẹ và con đã được mọi người thừa nhận và vẫn đang tồn tại trên thực
tế, thì các bên có quyền được đăng ký việc nuôi con nuôi để hợp pháp
hóa quan hệ nuôi con nuôi trong thời gian 2 năm, kể từ ngày văn bản
riêng biệt điều chỉnh vấn đề này có hiệu lực, kể cả trong trường hợp
con nuôi đã quá tuổi theo luật định. Nếu việc nuôi con nuôi được đăng
ký trong thời hạn 2 năm đó thì quan hệ cha mẹ và con giữa các bên được
công nhận kể từ khi bắt đầu xác lập. Nếu trong khoảng thời gian 2 năm
các bên chưa thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi mà có tranh chấp thì
quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi vẫn được công
nhận. Nếu sau thời hạn 2 năm, các bên vẫn không thực hiện thủ tục đăng
ký việc nuôi con nuôi thì khi có tranh chấp, quan hệ giữa hai bên không
được công nhận là quan hệ cha mẹ và con.
- Trường hợp thứ ba: mọi quan hệ nuôi con nuôi bắt
đầu từ ngày 1/1/2001 mà không đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền thì đều không có giá trị pháp lý.
Theo chúng tôi, khi xây dựng Luật Nuôi con nuôi cần
cân nhắc và có quy định cụ thể, hợp tình, hợp lý để giải quyết thỏa
đáng những trường hợp nuôi con nuôi thực tế đã tồn tại trong quá khứ,
nhằm bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ
nuôi con nuôi.
3.3. Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi thực tế
Khi công nhận quan hệ nuôi con nuôi thực tế, Nghị
quyết của Quốc hội cần quy định cụ thể về hệ quả pháp lý sẽ phát sinh
của việc nuôi con nuôi đó tương ứng mỗi hình thức nuôi con nuôi cụ thể.
Về nguyên tắc, việc lựa chọn theo hình thức nuôi con
nuôi trọn vẹn hay nuôi con nuôi đơn giản tùy thuộc vào ý chí của các
bên chủ thể có quyền trong việc cho – nhận con nuôi. Trong trường hợp quan hệ nuôi con nuôi
thực tế được công nhận mà người con nuôi đã có đủ khả năng thể hiện ý
chí của mình, thì việc lựa chọn hình thức nuôi con nuôi cũng phải có sự
thể hiện ý chí của người con nuôi. Ý chí lựa chọn hình thức nuôi con
nuôi của các chủ thể được thể hiện công khai bằng văn bản khi thực hiện
thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi.
Trên cơ sở ý chí của các bên chủ thể, hiệu lực của
hình thức nuôi con nuôi đơn giản hay trọn vẹn được áp dụng kể từ thời
điểm quan hệ nuôi con nuôi thực tế được công nhận.
Giải quyết vấn đề nuôi con nuôi thực tế là một vấn
đề phức tạp, nhưng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, chi phối mạnh mẽ đến
quyền, lợi ích của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi. Về mặt xã
hội, giải quyết tốt vấn đề nuôi con nuôi thực tế còn góp phần củng cố
những quan hệ xã hội tốt đẹp, thể hiện bản chất của nhà nước trong việc
quan tâm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người dân, qua đó củng cố
lòng tin của nhân dân vào pháp luật của nhà nước./.
(1) Xem Điều 294, Điều 295 Quốc triều hình luật
(2) Xem Điều 98, Điều 99 Luật tục Ê Đê (tập quán pháp), NXB Chính trị quốc gia, Hà nội 1996, tr.120 -121
(3) Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1999), Chuyên đề: Mối quan hệ giữa tập tục và pháp luật, tr.70
(4) Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1999), Chuyên đề: Mối quan hệ giữa tập tục và pháp luật, tr..101
(5)Trương Tiến Hưng (2004), “Mấy ý kiến về luật
tục của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận về thừa kế”, Nhà nước và pháp luật,
(8), tr. 28-32.
(6) Vũ Đình Lợi (1994), Gia đình và hôn nhân
truyền thống ở các dân tộc Malayô – Pôlynêxia Trường Sơn – Tây Nguyên,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 60-61
(7) Insun Yu, Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII- XVIII, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr.153.
(8) Insun Yu, s. đ. d, tr. 143
(9) Insun Yu, s. đ. d, tr. 143
(10) Vũ Ngọc Bình, Vấn đề con nuôi nước ngoài, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000, tr.70
SOURCE: TẠP CHÍ DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT, SỐ CHUYÊN ĐỀ PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI, NĂM 2009
TS. GVC. NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Khoa Luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội