Phân biệt khiếu nại và tố cáo, một số vấn đề cần lưu ý khi giải quyết khiếu nại, tố cáo
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được Hiến pháp và Pháp luật ghi nhận. Để những quyền này được đảm bảo thực thi trên thực tế đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, đòi hỏi những hiểu biết của công dân về khiếu nại, tố cáo phải đạt đến một trình độ nhất định. Bên cạnh đó, trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân từ phía các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền phải luôn đúng pháp luật, công bằng, khách quan, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.
Yêu cầu này, hiện nay, vẫn chưa hoàn toàn được đáp ứng và
đang tiếp tục được chú ý tới. Các Luật khiếu nại, tố cáo cùng những văn bản
pháp luật khác có liên quan đã được ban hành nhằm tạo khung pháp lý cho hoạt
động khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Song, vấn đề phát sinh
trong quá trình thực thi pháp luật về khiếu nại, tố cáo là đã có không ít
trường hợp còn lúng túng, chưa phân biệt rõ ràng, chính xác thế nào là khiếu
nại, thế nào là tố cáo, khi đơn thư có nội dung chứa đựng cả việc khiếu nại và
việc tố cáo thì thụ lý, giải quyết còn nhiều lúng túng. Đây chính là một trong
nhiều nguyên nhân làm nảy sinh những nhầm lẫn, thiếu sót, thậm chí là sai lầm
trong việc xử lý đơn thư, tiến hành xác minh giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân khiến người dân phải khiếu nại nhiều lần hoặc tố cáo sai về sự việc...
Từ đó dẫn đến việc đơn thư khiếu nại, tố cáo không được giải quyết kịp thời,
chính xác, để tồn đọng quá nhiều trong một thời gian dài mà pháp luật không cho
phép.
Khắc phục tình trạng chung này, đồng thời để các cơ quan có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại, tố cáo cũng như mọi người dân hiểu rõ hơn về khiếu nại và tố
cáo, trước nhất cần phải “phân tích” cách hiểu hai khái niệm về khiếu nại và tố
cáo theo quy định của pháp luật hiện hành.
Khiếu nại, tố cáo là hai khái niệm thường được nhắc đến cùng nhau, song tất
nhiên khiếu nại và tố cáo không phải là một. Theo các văn bản pháp luật hiện
nay, khiếu nại, tố cáo được hiểu như thế nào ? Điều 2 Luật khiếu
nại, tố cáo năm 1998 quy định: “1. Khiếu nại là việc
công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ,
công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề
nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi
hành chính hặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có
căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2.
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây
thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, cơ quan, tổ chức.”.
Từ hai định nghĩa này, xét về mặt lý luận, có thể tìm hiểu và phân biệt
khiếu nại, tố cáo trên các phương diện sau đây:
Thứ nhất, xét về chủ thể: Chủ thể
của hành vi khiếu nại có thể là công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức
có quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính
hoặc một quyết định kỷ luật cán bộ, công chức hoặc người đại diện hợp pháp của
những người này khi họ thực hiện quyền khiếu nại. Có nghĩa là, chủ thể của hành
vi khiếu nại phải là người bị tác động trực tiếp bởi chính đối tượng của hành
vi đó hoặc là người được những người này uỷ quyền theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp phát hiện thấy các quyết định hành chính, hành vi hành chính,
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức có biểu hiện vi phạm pháp luật, những
người không thuộc diện vừa nêu trên cũng không có quyền khiếu nại, họ chỉ có
thể “tư vấn”, “góp ý” hoặc sử dụng các hình thức tác động khác để chính người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện hành vi khiếu nại. Chính vì
đặc điểm này của chủ thể khiếu nại mà pháp luật quy định nghĩa vụ của họ một
cách “chặt chẽ” hơn so với chủ thể của hành vi tố cáo. Người khiếu nại có nghĩa
vụ “khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết”, trong trường hợp những
người khiếu nại đến khiếu nại hoặc gửi đơn khiếu nại qua đường bưu điện đến
những cơ quan không có thẩm quyền giải quyết thì các cơ quan, tổ chức này chỉ
có trách nhiệm “thông báo” và “chỉ dẫn” cho đương sự bằng văn bản mà không có
trách nhiệm chuyển đơn. Trên cơ sở tinh thần đó mà Nghị định số 136/2006/NĐ-CP
của Chính phủ ban hành ngày 14/11/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Khiếu nại, tố cáo gián tiếp quy định những cá nhân, cơ quan có quyền
chuyển đơn khiếu nại của công dân gồm đại biểu Quốc Hội, đại biểu Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc các cơ
quan báo chí (Điều 7); còn lại, đối với các chủ thể giải quyết khiếu nại (tức
người giải quyết khiếu nại) khác thì “Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm
quyền giải quyết của mình, ... thì cơ quan nhận được đơn không có trách nhiệm
thụ lý mà thông báo và chỉ dẫn cho người khiếu nại bằng văn bản. Việc thông báo
chỉ thực hiện một lần đối với một vụ việc khiếu nại...” (Khoản 5, Điều 6,
Nghị định số 136/2006/NĐ-CP). Bên cạnh đó, người khiếu nại và người tố cáo đều
phải có nghĩa vụ “trình bày trung thực về nội dung sự việc” song họ
không phải chịu trách nhiệm khi họ khiếu nại không đúng, ví dụ: ông A - Trưởng
Thi hành án dân sự huyện X đã có hành vi hạch sách, “vòi vĩnh” đối với người
được thi hành án trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình và đã bị tố cáo,
người có thẩm quyền giải quyết tố cáo đã cho tiến hành xác minh, làm rõ và kết
luận đội trưởng A có hành vi nhận hối lộ nhưng do sự việc có tính chất ít
nghiêm trọng lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trung thực nhận lỗi, số tiền
chiếm đoạt không nhiều, đã trả lại và xin lỗi người bị hại, do vậy, ông A chỉ
bị xử lý kỷ luật với hình thức cách chức. Không đồng ý với quyết định kỷ luật
này, ông A cho rằng mức kỷ luật là quá nặng nên đã có đơn khiếu nại lên cơ quan
có thẩm quyền. Sau khi xem xét lại sự việc, cơ quan có thẩm quyền kết luận Quyết
định kỷ luật đối với ông A là hoàn toàn chính xác, hợp lý, hợp tình
và đúng
theo quy định của pháp luật, khiếu nại của ông A không được chấp nhận. Khi đó,
ông A có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh Quyết định kỷ luật đã có hiệu lực
pháp luật nhưng không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi khiếu
nại không đúng của mình. Đây chính là một điểm khác biệt giữa người khiếu nại
và người tố cáo nhìn từ góc độ nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho họ.
Tuy nhiên, theo tác giả, pháp luật cũng nên có một quy định nhằm ràng buộc và
nâng cao trách nhiệm của người khiếu nại để những người này có ý thức hơn khi
làm đơn khiếu nại, đồng thời có thể giúp giảm bớt việc khiếu nại tràn lan,
không có cơ sở, chẳng hạn như quy định người đi khiếu nại phải nộp một khoản
tiền nhất định gọi là tiền tạm ứng lệ phí giải quyết khiếu nại khi họ nộp đơn
khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền, nếu khiếu nại đúng họ sẽ được hoàn trả lại
khoản tiền này, nếu là khiếu nại sai họ phải mất khoản tiền đã nộp, một hình
thức gần như kiểu “án phí”?
- Đối
với tố cáo: Chủ thể của hành vi tố cáo chỉ có thể là công dân, song cho dù có
liên quan hay không có liên quan tới hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của
việc tố cáo, công dân vẫn có quyền thực hiện hành vi tố cáo của mình. Ví dụ: bà
X là một công dân làm nghề tự do sinh sống trên địa bàn Phường Y, vì nhiều
nguyên nhân khác nhau, bà X biết được rằng ông N – Trưởng Thi hành án huyện M
nhận hối lộ của nhiều người, tuy bà hoàn toàn không có liên quan gì đến việc
thi hành án nhưng do bất bình bà đã làm đơn tố cáo ông N tới Phòng thi hành án
có thẩm quyền. Đơn tố cáo của bà X trong trường hợp này được chấp nhận và phải
được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, xét về quyền và nghĩa vụ: người tố cáo có quyền “gửi
đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền” (Điều
57, khoản 1, điểm a - Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998). Theo đó, người tố cáo
không có nghĩa vụ phải tố cáo tại đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, họ có
thể tố cáo tại bất kì cơ quan, tổ chức Nhà nước nào. Khác với khiếu nại, khi
nhận được đơn tố cáo của công dân, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xem xét
giải quyết hoặc chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền tuỳ thuộc đơn tố cáo đó
thuộc hay không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức mình. Điều 66
Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định “trong trường hợp tố cáo không
thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải chuyển đơn cho cơ quan, tổ chức,
có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo khi họ yêu cầu”. Song
vì tố cáo có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến danh dự, uy tín cũng như
những quyền lợi chính đáng của cán bộ công chức Nhà nước nên người tố cáo có
nghĩa vụ “trình bày trung thực về nội dung tố cáo” và phải “chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật” (Điều 57, khoản 2,
điểm a, c - Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998”. Quy định này của pháp luật hiện
hành đã thể hiện được tính công bằng, công lý và so với những quy định về khiếu
nại thì nó thể hiện một thái độ cứng rắn hơn. Vì vậy, khi người dân làm đơn tố
cáo phải cân nhắc, suy nghĩ cẩn trọng và đặc biệt không thể vì động cơ cá nhân
trả thù người có mâu thuẫn với mình hay vì một sự cạnh tranh không trong
sáng... mà làm đơn tố cáo, vu khống làm mất uy tín, danh dự, thậm chí gây thiệt
hại đến quyền và lợi ích chính đáng của người bị tố cáo, nếu người tố cáo làm
đơn tố cáo sai sự thật thì họ sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý mà pháp luật đã
quy định sẵn theo như quy định của Điều 57, khoản 2, điểm c Luật khiếu nại, tố
cáo năm 1998: người tố cáo có nghĩa vụ “chịu trách nhiệm trước pháp luật về
việc tố cáo sai sự thật”. Tuy nhiên, trên thực tế, rất ít trường hợp công
dân có hành vi tố cáo sai sự thật bị “xử lý”. Hơn nữa, pháp luật hiện hành cũng
chưa có nhiều hình thức chế tài để có thể xử lý linh hoạt những trường hợp tố
cáo sai sự thật tuỳ theo mức độ mà người tố cáo sai sự thật gây ra. Trong thời điểm
hiện tại, chỉ có duy nhất Bộ luật hình sự, tại Điều 122 quy định về Tội vu
khống, nhưng điều luật này chỉ áp dụng đối với những người có hành vi “bịa
đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm
hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa
đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền” còn
đối với các trường hợp khác ở mức độ nhẹ hơn thì chưa có hình thức để xử lý.
Ngoài ra, đối với những công dân là Đảng viên, nếu họ tố cáo sai sự thật thì họ
còn có thể phải chịu kỷ luật Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng. Đây chính là
nguyên nhân dẫn đến việc công dân tố cáo tràn lan, dù không có nguồn thông tin có
độ tin cậy cao cũng tố cáo chỉ để nhằm phục vụ cho lợi ích của bản thân hoặc
thậm chí là để trả thù người khác vì những lý do cá nhân.
Bên cạnh đó, nói đến chủ thể của hành vi tố cáo hiện nay vẫn còn nhiều điều cần
phải xem xét bởi xét về mặt lý thuyết, chỉ có cá nhân công dân có quyền thực
hiện hành vi tố cáo, còn cơ quan, tổ chức nếu phát hiện thấy những vi
phạm pháp luật cũng không được nhân danh cơ quan, tổ chức mình để thực hiện
hành vi tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp đó, cơ quan,
tổ chức phải cử đại diện cán bộ của mình nhân danh bản thân họ thực
hiện quyền tố cáo của mình. Song trên thực tế, có không ít trường hợp cơ quan
Nhà nước, tổ chức xã hội tố cáo hành vi trái pháp luật gây thiệt
hại cho Nhà nước, xã hội nói chung và gây thiệt hại cho họ nói riêng. Hơn
nữa, xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, việc quy định chỉ công dân mới có
quyền thực hiện hành vi tố cáo là không hợp lý và phần nào làm giảm tính
hiệu quả, tính tích cực trong nỗ lực phát hiện, xem xét, giải quyết cũng như
đấu tranh phòng ngừa những vi phạm pháp luật trong hoạt động hành pháp và tư
pháp hiện nay. Đơn cử một trường hợp như sau: công ty TNHH X hoạt động kinh
doanh thương mại là nguyên đơn trong một bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật
và phải được thi hành án theo quy định của pháp luật song vì những lý do cá
nhân hoặc tư lợi riêng, một số cán bộ thi hành án có trách nhiệm tổ chức thi
hành bản án đó đã có hành vi gây cản trở việc thi hành bản án. Trong trường hợp
này công ty X không có quyền nhân danh công ty viết đơn tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật của một số cán bộ thi hành án nói trên, tại sao pháp luật lại hạn chế
chủ thể này thực hiện hành vi tố cáo nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ? Rõ
ràng, về vấn đề này pháp luật hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập cần khắc phục.
Thứ ba, xét về đối tượng:- Đối tượng của khiếu nại là quyết định
hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức
của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bị người khiếu nại cho là
trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể
khiếu nại. Song, như đã phân tích ở phần chủ thể, những quyết định hành chính,
hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền dù có biểu hiện trái pháp luật và có thể xâm hại
đến quyền và lợi ích của một hoặc một số người nhưng không ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến chủ thể khiếu nại thì cũng không trở thành đối tượng của
hành vi khiếu nại xét trong mối quan hệ với chủ thể khiếu nại đang đề cập tới.
Trở lại ví dụ về trường hợp của bà X tố cáo Đội trưởng Đội THA huyện M, khi
này, do hoàn toàn không liên quan tới việc thi hành án nên bà X không thể khiếu
nại Quyết định cưỡng chế thi hành án của Trưởng Thi hành án huyện M dù cho
Quyết định đó là trái pháp luật, Bà chỉ có thể thực hiện hành vi tố cáo người
Đội trưởng này vì những hành vi Bà cho là có biểu hiện vi phạm pháp luật.
- Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,
tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi
ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức;
có nghĩa là hành vi trái pháp luật là đối tượng của tố cáo có thể ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo hoặc có thể không. Xét về
cấp độ sai phạm thì nội dung tố cáo ở cấp độ cao hơn, mức độ vi phạm pháp luật
nghiêm trọng hơn so với nội dung khiếu nại. Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân
biệt giữa khiếu nại và tố cáo. Điểm khác nhau này thể hiện rõ nét bản chất của
khiếu nại và tố cáo đồng thời cho thấy thái độ của Nhà nước ta đối với tố cáo
là khuyến khích, động viên, thậm chí khen thưởng những người có hành vi tố cáo đúng,
góp phần làm rõ, điều tra, truy tố, xét xử những vụ án lớn, coi họ như là người
có thành tích trong sản xuất, chiến đấu, thậm chí như một người có công với
công cuộc đấu tranh chống tiên cực, tham nhũng.
Thứ tư, xét về thẩm quyền:Nhìn chung, khiếu nại được giải quyết lần đầu
tại chính nơi có thẩm quyền ra quyết định hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật
là đối tượng của hành vi khiếu nại. Trong trường hợp đương sự
không
đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu sẽ tiếp tục thực hiện quyền
khiếu nại của mình lên cấp trên trực tiếp của cấp đã có thẩm quyền giải quyết
hoặc khởi kiện tại Toà án. Pháp luật về khiếu nại, tố cáo có quy định cụ thể
từng cấp giải quyết khiếu nại bao gồm Chủ tịch UBND cấp xã, cấp huyện và cấp
tỉnh; Giám đốc các Sở và các cấp tương đương thuộc UBND tỉnh; Bộ trưởng, thủ
trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan
thuộc Chính phủ; Tổng thanh tra. Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc
giải quyết khiếu nại chỉ được giải quyết ở 2 cấp, nếu đương sự còn khiếu nại
thì phải khởi kiện tại Toà án. Nhưng theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính thì nhiều nội dung khiếu nại không thuộc thẩm quyền của Toà hành
chính (ví dụ như khiếu nại về thi hành án dân sự). Đây là vấn đề bất cập gây nhiều
bức xúc cho người khiếu nại. Đối với giải quyết tố cáo thì pháp luật không quy
định quyết định giải quyết tố cáo nào được xác định là quyết định giải quyết tố
cáo cuối cùng. Hơn nữa, thẩm quyền giải quyết tố cáo cũng có những điểm được
quy định khác so với thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Điều 59 Luật khiếu nại có
quy định “...Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực
tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết”. Như vậy, khác với thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào đó là chủ thể
giải quyết tố cáo không có thẩm quyền giải quyết đối với đơn tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật của chính bản thân mình, họ chỉ có quyền giải quyết những tố cáo
hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức
mình quản lý trực tiếp. Ví dụ: ông A là Trưởng Thi hành án huyện B ra một quyết
định cưỡng chế phát mại tài sản để thi hành án, bà M là người phải thi hành
quyết định cưỡng chế nói trên. Không đồng ý với quyết định cưỡng chế này, bà M
làm đơn khiếu nại lên chính ông A - Trưởng Thi hành án huyện B, trong trường
hợp bà cho rằng ông A vì đã nhận tiền hối lộ của người được thi hành án nên mới
ra một quyết định cưỡng chế nhà đất của bà trái pháp luật và bà M làm đơn tố
cáo ông A, khi đó, người có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo của bà lại là
Trưởng Thi hành án cấp tỉnh nơi quản lý Thi hành án huyện B.
Ngoài điểm khác nhau này, nhìn chung, thẩm quyền giải quyết tố cáo cũng được
xác định gần tương tự như thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Thứ năm, xét về trình tự thủ tục giải quyết: nhìn chung thủ tục
giải quyết khiếu nại và tố cáo được tiến hành theo hai trình tự hoàn toàn khác
nhau, trình tự cụ thể được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo 1998, Luật sửa
đổi bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2005 và được hướng dẫn
chi tiết tại Nghị định 136/2006/NĐ-CP. Một điều đáng lưu ý là về vấn đề thời
hiệu, đối với khiếu nại, thời hiệu được tính là 90 ngày, kể từ ngày nhận được
quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính; đối với khiếu nại quyết
định kỷ luật cán bộ, công chức, thời hiệu được tính là 15 ngày, kể từ ngày nhận
được quyết định kỷ luật, trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi
công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người
khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời
gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại. Trong khi đó, pháp luật
không quy định thời hiệu tố cáo.
Từ những phân tích về các đặc điểm khác biệt giữa khiếu nại và tố cáo nêu trên,
tác giả rút ra một số vấn đề sau:
Một số lưu ý khi giải quyết khiếu nại, tố cáo: Trong thực tế, “cách
thức” giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền nhiều khi còn có sự khác
nhau giữa khiếu nại và tố cáo. Nhìn chung, từ những phân tích ở trên, chúng ta
có thể thấy rằng rõ ràng “thái độ” của các nhà làm luật đối với khiếu nại, tố
cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo là khác nhau, vì thế chúng ta cần phải phân
biệt cụ thể các đơn thư khiếu nại, tố cáo để từ đó xác định được cơ chế và thủ
tục giải quyết phù hợp với từng loại đơn thư theo đúng quy định của pháp luật
hiện hành. Tuy nhiên, khiếu nại, tố cáo trên thực tế không phải lúc nào
cũng hoàn toàn độc lập với nhau, nói một cách khác khiếu nại và tố cáo trong
nhiều trường hợp có mối quan hệ mật thiết.
- Trường hợp đơn vừa có nội dung khiếu nại vừa có nội dung tố cáo thì ta áp
dung khoản 3, Điều 6 của Nghị định 136/2006/NĐ-CP: “Đối với đơn vừa có nội
dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì cơ quan nhận được có trách nhiệm xử
lý nội dung khiếu nại theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều này,
còn nội dung tố cáo thì xử lý theo quy định tại Điều 38 Nghị định này.”. Theo
đó, nếu đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì ta phải tách
nội dung khiếu nại ra để giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết
khiếu nại và nội dung tố cáo phải giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết
tố cáo.
- Trường hợp tiêu đề của đơn lại không thống nhất với nội dung của đơn: Nếu
tiêu đề của đơn là “Đơn tố cáo” nhưng thực chất nội dung là khiếu nại thì ta
giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại và nếu tiêu đề của đơn
là “Đơn khiếu nại” nhưng nội dung thực chất là tôa cáo thì giải quyết theo
trình tự, thủ tục của giải quyết tố cáo. Ví dụ như vì động cơ mục đích của
người khiếu nại là đòi được hưởng thừa kế nhưng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
bác bỏ, vì thế họ tố cáo “vu vơ” hoặc có trường hợp tố cáo cán bộ để đạt được
mục đích chính là khiếu nại việc của mình bị “thua thiệt”, ở trường hợp
này thì chúng ta phải căn cứ vài nội dung để phân biệt là khiếu nại hay tố cáo
để áp dụng trình tự, thủ tục giải quyết phù hợp.
- Bên cạnh đó, khiếu nại, tố cáo còn có thể chuyển hoá linh hoạt cho nhau trong
quá trình cơ quan có thẩm quyền giải quyết chúng, người khiếu nại có thể trở
thành người tố cáo, người giải quyết khiếu nại có thể trở thành người bị tố
cáo, người bị tố cáo có thể trở thành người đi khiếu nại, khiếu nại thông
thường có thể trở thành khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ công chức...chẳng
hạn: công dân A là người phải thi hành án trong Bản án X đã có hiệu lực pháp
luật. Trong quá trình thi hành án, Chấp hành viên B ra một quyết định cưỡng chế
kê biên bán đấu giá tài sản để thực hiện thi hành án. A cho rằng quyết định đó
là trái pháp luật và đã có đơn khiếu nại, vì nhiếu nguyên nhân, người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại là C đã không xem xét sự việc để trả lời cho đương sự theo
quy định của pháp luật vì thế công dân A làm đơn tố cáo cán bộ C, khi này A với
tư cách ban đầu là người khiếu nại nay đã trở thành người tố cáo, C là người
giải quyết khiếu nại đã chuyển thành người bị tố cáo. Trong trường hợp sau khi
xác minh sự việc, C bị cơ quan có thẩm quyền kỷ luật bằng hình thức cách chức,
không đồng ý với quyết định kỷ luật đó, C làm đơn khiếu nại, như vậy trường hợp
này từ khiếu nại thông thưòng ban đầu đã chuyển hoá thành khiếu nại quyết định kỷ
luật cán bộ công chức, C là người bị tố cáo đã trở thành người đi khiếu nại.
Nói tóm lại, khiếu nại, tố cáo của công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong quản lý Nhà nước là một lĩnh vực hoạt động nhạy cảm, liên quan trực tiếp
tới quyền và lợi ích của công dân, không những thế còn tác động tới và giúp cho
việc thực hiện pháp luật đựơc nghiêm chỉnh. Phân biệt khiếu nại, tố cáo một
cách chuẩn xác là một trong những việc làm cần thiết quan trọng để góp phần
khắc phục tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo bức xúc như hiện nay. Để giúp
các đồng chí trực tiếp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo hình dung được quy
trình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo một cách ngắn gọn, dễ nhớ, dễ phân
biệt và dễ áp dụng trong thực tiễn, tác giả xin mô hình hoá quy trình giải
quyết riêng biệt giữa khiếu nại và tố cáo theo sơ đồ kèm theo chuyên đề này.
Theo MOJ
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------