Phán quyết của trọng tài vụ việc “Giao hàng kèm chất lượng ”
Vì giao hàng có độ biuret không đạt tiêu chuẩn do hợp đồng quy định và thương nhân Nhật đã cam kết hỗ trợ cho DN Việt Nam 11.700 USD theo biên bản thoả thuận ngày 22/8/1996, nhưng còn thiếu 3.700 USD, do đó, thương nhân Nhật phải có trách nhiệm trả tiếp cho DN Việt Nam số tiền này.
Thực tế thương nhân Nhật giao các bao UREA bên
trong có vón cục hoặc đóng cứng, trọng lượng các bao không đều, nên DN Việt Nam
phải tái chế, đóng gói lại. Việc này thương nhân Nhật đã thừa nhận trong bản
biện minh ngày 29/6/1996, vì vậy thương nhân Nhật phải bồi thường những thiệt
hại phát sinh trực tiếp gồm:
Chi phí giám định: 13.304.880 VND.
Chi phí lưu kho để đóng lại lô hàng chỉ được tính
căn cứ vào hợp đồng thuê kho và phiếu chi tiền thuê kho, từ 29/8/1996 đến
15/11/1996 (2 tháng rưỡi).
1.314,84 tấn x 10.000 VND/tấn/tháng x 2,5 tháng =
32.871.000 VND.
Phí bốc nhập hàng vào kho để tái chế, đóng gói
lại hàng là 7.889.040 VND.
Phí bốc xuất hàng từ kho cảng kể cả khi không
phải tái chế đóng gói lại hàng thì DN Việt Nam vẫn phải chi, vì DN Việt Nam
phải bốc hàng từ kho để vận chuyển giao cho người mua lại hoặc chở về kho của
mình. Sau khi tái chế DN Việt Nam
đã giao hàng cho người mua lại tại kho của công ty tái chế. Do đó, DN Việt Nam không có
quyền đòi bồi thường chi phí này.
Chi phí vận chuyển hàng từ cảng Bến Nghé về kho
của công ty tái chế không phải là thiệt hại trực tiếp do phải tái chế đóng gói
lại hàng, bởi vì nếu không phải tái chế đóng gói lại hàng thì DN Việt Nam vẫn
phải có nghĩa vụ vận chuyển hàng từ cảng Bến Nghé về kho của mình hoặc để giao
cho người mua lại. Vì vậy, thương nhân Nhật không có trách nhiệm bồi thường chi
phí này.
Chi phí tái chế, đóng gói lại lô hàng, gồm: Chi
phí gia công, đóng gói lại: 86.319.250 VND; Phí bốc xếp nhập tái chế: 2.021.100
VND; Phí trung chuyển phục vụ đóng gói: 2.694.800 VND; Chi phí mua bao bì mới
và phiếu chi trừ tiền bán bao bì cũ là: 26.500 bao x 3.100 VND/1 bao –
1.855.000 VND = 80.295.000 VND. Số tiền là:171.330.150 VND.
Tổng cộng = 225.395.070 VND.
Lãi suất đọng vốn NK tính theo mức 1,124%/tháng
là hợp lý, vì DN Việt Nam
thanh toán tiền hàng theo phương thức L/C trả chậm 330 ngày (tức 11 tháng).
314.099,43 USD x 1,124%/tháng x 3 tháng =
10.591,43 USD.
F. Lãi suất đọng vốn trên số tiền giám định, thuế
kho, mua bao bì, đóng gói lại:
225.395.070 VND x 1,25%/tháng x 6 tháng =
16.904.630 VND.
Cộng (A + B + C + D) + E + F = 225.395.070 VND +
10.591,43 USD + 16.904.630 VND = 10.591,43 USD + 242.299.700 VND.
Quy đổi ra USD theo tỷ giá 1 USD = 11.650 VND
= 10.591,43 USD + (242.299.700: 11.650)
= 31.389.684 USD
Tổng cộng: (1) + (2) = 3.700 USD + 31.389,68 USD
= 35.089,68 USD.
Căn cứ vào những điều phân tích đó, Trọng tài ra
phán quyết buộc thương nhân Nhật phải trả cho DN Việt Nam tiền hỗ trợ
độ biuret không đạt còn thiếu cộng với chi phí tái chế là 35.089,68 USD.
Bình luận và
lưu ý
Qua tranh chấp nêu trên, chúng ta thấy rằng DN
Việt Nam
đã kịp thời làm đầy đủ các thủ tục pháp lý, khiếu nại và thương lượng trực tiếp
với DN nước ngoài. Điều quan trọng là đã ký được văn bản thoả thuận ràng buộc
trách nhiệm của DN nước ngoài. Mặt khác, khi đi kiện, DN Việt Nam đã cung cấp
đầy đủ bằng chứng để chứng minh cho những yêu sách chính đáng của mình. Tuy
nhiên, cũng cần lưu ý là những yêu cầu không chính đáng thì không nên đưa vào
đơn kiện.
(sưu tầm)