Phân tích những ưu việt trong luật cạnh tranh IRELAND và kinh nghiệm cho các nước phát triển
Như chúng ta đã biết để xây dựng được một bộ luật cạnh tranh đầy đủ thì ngoài việc cần đến sự nghiên cứu, đưa ra ý kiến của các thành viên có trình độ chuyên môn cao thì việc học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước cũng là điều vô cùng quan trọng.
Ireland
– một trong số ít các nước đã áp dụng phạt hình sự trong Luật cạnh tranh sẽ đưa
ra cho các nhà hoạch định, xây dựng luật cạnh tranh nhiều vấn đề cần phải quan
tâm.
Ví như, trong Luật cạnh tranh của Ireland ngoài việc áp dụng các mức phạt
hành chính đối với các công ty tùy thuộc vào mức độ vi phạm, ở Ireland còn quy
định mức phạt đối với các giám đốc, người quản lý hay cán bộ tương đương, cá
nhân khác có ý định hành động trên cương vị đó nếu chấp thuận hoặc ra lệnh cho
doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị coi là phạm tội và chịu các hình
phạt. Đây được xem là một điểm rất tiến độ trong Luật cạnh tranh bởi việc áp
dụng khung hình phạt này sẽ góp phần răn đe ban lãnh đạo của các công ty đã vi
phạm, thậm chí đang có ý định phải dè chừng. Bởi trong các trường hợp vi phạm,
người quyết định các vi phạm chính là ban lãnh đạo còn nhân viên chỉ là những
người chấp hành. Tuy nhiên, khi quyết định chỉ áp dụng phạt đối với riêng công
ty thì có khả năng công ty sẽ bị phá sản và người chịu thiệt lại chính là nhân
viên; còn khi áp dụng mức phạt đối với ban lãnh đạo – những người trực tiếp đưa
ra các quyết định sẽ không chỉ có tác dụng phạt đúng đối tượng mà còn khiến họ
phải cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định vi phạm.
Điểm đặc biệt là đối với các cá nhân điều hành công ty bị tình nghi vi phạm
có thể bị bắt và giữ để thẩm vấn tới 12 giờ; tùy theo mức độ còn có thể bị phạt
tù tối đa 5 năm. Quy định này khắc phục điểm yếu của văn bản pháp luật cạnh
tranh ở rất nhiều nư��c khi không quy định quyền hạn khả thi để thẩm vấn các cá
nhân và tăng tính răn đe lên cao hẳn so với các quy định chỉ phạt hành chính.
Năm 1996, Ireland đưa ra những hình phạt hình sự đầu tiên, chỉ cho phép Cơ
quan sao chép tài liệu có trong khóa nghiên cứu, trong đó quy tắc “chứng cứ tốt
nhất” thường yêu cầu tài liệu gốc. Quy định này đã gây ra nhiều hạn chế trong
quá trình quản lý thực thi luật. Như trường hợp mặc dù đã khám phá ra rõ ràng
ban quản lý một công ty đã đưa ra quyết định tăng giá và một Ủy viên ban quản
trị đã cho biết ông có thông tin rằng các nhà sản xuất sẽ ngừng sản xuất trong
tuần để tăng giá vào tuần sau. Nhưng những tài liệu như vậy lại không được chấp
nhận ở Ireland
và kết quả điều tra đã không đươc sử dụng.
Vào năm này, Ireland
tuy áp dụng phạt hình sự nhưng lại không cho phép các cơ quan quản lý cạnh
tranh quyền chất vấn cá nhân theo quy định tại các nguồn luật cũ đã cho thấy đó
là vật cản chính đối với sự thành công của các cuộc điều tra.
Vấn đề về nguồn nhân lực của Cơ quan đã tiến đến một mức độ như một cuộc
khủng hoảng năm 2000. Thậm chí do thiếu nguồn nhân lực mà các đơn đề nghị khởi
tố hình sự các vụ kiện cartel đã phải nằm chờ ở Cơ quan hơn một năm và như vậy
thì sao có thể tiến hành điều tra thành công?!
“Thậm chí nếu hệ thống kiểm soát thị trường của Bị đơn có thể đã được thiết
lập bởi chứng cứ thì về bản chất nó chẳng khác gì là gây phương hại đến người
mua các sản phẩm của họ và đối với công chúng và nhìn chung nó chỉ gây bất ngờ
đối với các đối thủ cạnh tranh tiềm năng và rồi chỉ với mức độ mà ở đó các hành
vi cụ thể là đặc biệt chống lại chúng”.Cartel là các liên quan mật thiết với
Giám đốc và người làm công của các doanh nghiệp đối thủ đã cùng thỏa thuận một
cách bí mật để tăng giá với khách hàng của họ đối với hàng hóa và dịch vụ mà họ
cung cấp. Họ thông đồng với nhau nhằm lừa gạt người tiêu dung và phủ nhận khoản
lợi nhuận có được từ các doanh nghiệp đã phải cạnh tranh với doanh nghiệp khác
để giành giật khách hàng hoặc vì người đứng đầu lúc đó của Phòng chống độc
quyền đã nhìn nhận nó ít tinh tế hơn “chúng là những hành vi ăn trộm giống nhau
của những tên trộm thanh lịch”.
Cartel được tổ chức và điều hành bởi các cá nhân và công ty tính toán rằng
họ tồn tại để kiếm những khoản lợi chắc chắn từ hành vi như vậy. Người nấp sau
Cartel không phải là những kẻ lừa đảo tầm thường; chúng là những nhà điều hành
tinh vi và sắc sảo, những người đã phấn đấu đến vị trí cấp cao trong công ty
của họ
Phạt chỉ đối với các công ty có liên quan sẽ không thực sự có hiệu quả để
ngăn chặn các cartel. Cần xử phạt cả những cá nhân điều hành công ty, những
người hoàn toàn đưa ra quyết định để cấu kết trong cartel. Nếu chỉ công ty là
đối tượng của hình phạt trong vụ cấu kết cartel thì nó sẽ là các cổ đông hơn là
các Ủy viên ban quản trị, người sẽ bị phạt. Vì vậy phạt công ty trong tình
huống này sẽ ít có hiệu quả trong việc ngăn chặn. Mức phạt như vậy sẽ chỉ được
xem như một khoản “chi phí kinh doanh”.
Một điểm nữa là đối với một số cac doanh nghiệp bị phát hiện là có cấu kết
trong cartel, việc áp đặt mức phạt tối đa đã làm cho họ bị phá sản. Và như vậy
trong trường hợp này người bị phạt sẽ là tất cả các nhân công trong doanh
nghiệp, những người không có trách nhiệm trong việc ấn định giá. Để ngăn chặn
có hiệu quả các cartel bắt buộc rằng các cá nhân của một công ty có trách nhiệm
trong việc đưa ra các quyết định tham gia vào một cartel sẽ phải chịu các hình
phạt. Phạt các cá nhân như vậy là một lựa chọn hợp lý.
Hình phạt tù là một sự ngăn cản có hiệu quả đối với các vi phạm cartel. Bởi
vì, không giống như các tội phạm nguy hiểm do sự tức giận trong giây lát, việc
tham gia cartel là các kế hoạch đã được tính toán và cân nhắc kỹ, trong thời
gian dài.
Chương trình miễn trừ cartel của Bộ đã giúp nhiều doanh nghiệp đến khai báo,
thừa nhận việc tham gia của họ vào các cartel và cung cấp chứng cứ chống lại
những kẻ âm mưu với họ.
Sai lầm ở Iralend là việc ấn định giá ở quán rượu địa phương có thể bị bỏ
tù, trong khi các cartel chảo lớn ở Châu Âu chỉ bị phạt hành chính. Như vậy uy
tín của ngành tư pháp rõ ràng sẽ bị mất đi khi mà các vụ kiện nhỏ nhất lại phải
nhận hình phạt cao nhất còn những sai phạm nghiêm trọng lại chỉ bị những hình
phạt thật bình thường!
Hạn chế theo chiều dọc không liên quan tới giá như các thỏa thuận phân phối
nhằm loại trừ không thể xác định tự động là ủng hộ hay hạn chế cạnh tranh và
cần có một bản phân tích chi tiết về thị trường riêng trong mỗi trường hợp.
Tương tự vậy, một điểm được thừa nhận rộng rãi là thường có một ranh giới rõ
ràng giữa cạnh tranh quá mức và lạm dụng vị trí thống lĩnh. Bởi vì không có sự
thống nhất về điều tạo thành hoặc không tạo thành hành vi hạn chế cạnh tranh
trong những trường hợp như vậy cho nên các hình phạt có vẻ như không thích hợp.
Nếu các cuộc điều tra cho thấy những hành vi ấy làm hạn chế cạnh tranh thì biện
pháp khắc phục thích hợp là yêu cầu công ty đó chấm dứt hành vi đó. Các hình
phạt sẽ thích đáng nếu như công ty đó vẫn tiếp tục vi phạm yêu cầu này.
Và đôi khi một hành vi có thể gây hại nhưng án phạt chỉ là tiền thì vẫn là
chưa thỏa đáng. Ví như một công ty tham gia vào ấn định giá bán thấp dù trong
một thời gian công ty ấy chịu lỗ, nhưng bù lại công ty ấy lại loại bỏ được đối
thủ cạnh tranh. Và như vậy so với lợi ích đem lại từ việc loại bỏ được đối thủ
cạnh tranh với việc chịu lỗ trong thời gian ngắn và thậm chí là cả việc chịu
phạt hành chính thì e rằng hình phạt cũng chỉ là “chi phí đã có trong dự trù”
của công ty!
Đa số các công ty tham gia vào ấn định giá bán thấp thành công đều liên quan
tới những công ty có tham gia vào các thị trường khác nhau do đó việc loại bỏ
thành công trên một thị trường cho phép công ty đó kiếm được các khoản lợi
nhuận thặng dư không chỉ trên thị trường đó mà còn ở những thị trường khác. Và
công ty có vị trị thống lĩnh còn có lợi ích trong việc tạo tiếng tăm về loại bỏ
đối thủ.
Nếu tiền phạt có tác dụng răn đe và ranh giới giữa việc xác định cái gì gây
hại và không gây hại là không rõ ràng thì có rất nhiều khả năng các công ty sẽ
đứng ở giới hạn an toàn và tránh cạnh tranh một cách quá khốc liệt vì sợ vượt
qua ranh giới đó. Nói cách khác tiền phạt không chỉ hạn chế hành vi hạn chế
cạnh tranh mà còn ngăn chặn việc cạnh tranh của các công ty và như vậy rõ ràng
đi ngược những dự định ban đầu. Thậm chí nếu tiền phạt không làm hạn chế cạnh
tranh thì mối đe dọa bị phạt có thể làm tăng đáng kể các chi phí đề phòng đối
với các công ty muốn đảm bảo rằng họ không vượt qua ranh giới chỉ vì bất cẩn.
Rồi trong việc phải lựa chọn giữa theo đuổi vi phạm nghiêm trọng nhưng khó
xác định bằng chứng và vi phạm ít nghiêm trọng nhưng bằng chứng dễ xác định
hơn, để chứng tỏ hiệu quả cơ quan đã lựa chọn vụ ít nghiêm trọng để họ có cơ
hội thành công cao hơn. Như vậy thì những vi phạm nghiêm trọng, tinh vi đến bao
giờ được giải quyết?
Luật 2002 đã khắc phục rất nhiều thiếu sót, luật củng cố thẩm quyền điều tra
của Cơ quan quản lý cạnh tranh , cụ thể là cho phép cơ quan này quyền thu giữ
tài liệu gốc, vào khám phá tư gia cũng như văn phòng công ty và sử dụng các
biện pháp cưỡng chế hợp lệ để vào khám nếu cần thiết. Luật cũng giả định liên
quan đến tài liệu cho phép chúng được xuất trình dưới dạng bằng chứng mà không
cần xác nhận nguồn tác giả. Và việc tăng hình phạt đối với các cá nhân lãnh đạo
trong các vụ việc cartel cho thấy sự thừa nhận rằng các hoạt động này gây tổn
hại nghiêm trọng cho xã hội trong phạm vi rộng.
Có một số thỏa thuận hoặc hành vi do tác động nguy hại của nó tới cạnh tranh
và không có bất kỳ tác dụng tốt nào để biện hộ sẽ hoàn toàn bị coi là không hợp
lệ và dó đó bất hợp pháp mà không cần điều tra phức tạp về thiệt hại chính xác
nó gây ra hay lý do doanh nghiệp thực hiện chúng..Các vấn đề này tối thiểu hóa
chi phí thực thi pháp luật và tối đa hóa sự răn đe, trong khi nguy cơ sai sót
có thể được giảm thiểu bằng cách giới hạn quy định về hành vi gây hại rõ ràng.
Mặc dù Luật cạnh tranh của Ireland
còn có nhiều điểm bị hạn chế do trình độ và số lượng chuyên viên của Cục còn
chưa đủ, nhưng với những quy định mang tính cải cách, tiến bộ của Ireland
rất đáng để các cơ quan quản lý cạnh tranh nhiều nước cần suy ngẫm!
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH – BỘ CÔNG
THƯƠNG - MINH LAN (Tổng hợp)
Trích dẫn từ:
http://www.vcad.gov.vn/Web/Content.aspx?distid=2098&lang=vi-VN