Pháp luật – phương tiện quan trọng bảo vệ quyền con người
Quyền con người là một trong những vấn đề được cả nhân loại quan tâm và nghiên cứu. Ở Việt Nam, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), công cuộc đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam đã làm thay đổi nhận thức về vấn đề bảo vệ quyền con người. Hiến pháp năm 1992 được ban hành, sửa đổi, bổ sung một số điều đã khẳng định cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm quyền con người trong mọi lĩnh vực với sự giám sát chặt chẽ của lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân. Sự nghiệp bảo vệ quyền con người đã trở thành ý chí thống nhất của toàn Đảng, toàn dân.
Thành tựu của công cuộc đổi mới đã ảnh hưởng sâu
sắc đến toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội Việt Nam. Hàng loạt vấn đề mới xuất
hiện, hàng loạt vấn đề của cơ chế cũ đang được xem xét, nhìn nhận lại trong
điều kiện mới với sự hội nhập quốc tế và khu vực. Bằng sự đánh giá khách quan,
khoa học ở Việt Nam
và trên thế giới chúng ta càng nhận thức rõ hơn về những quyền con người.
Bảo vệ quyền con người là một quá trình. Nó phụ
thuộc vào tổng thể nhiều điều kiện khác nhau (kinh tế, chính trị, pháp luật,
văn hóa…) trong đó pháp luật có vị trí, vai trò và tầm quan trọng hàng đầu. Bởi
vì, pháp luật có các đặc điểm mà các điều kiện khác không có như:
- Pháp luật là phương tiện chính thức hóa các giá
trị xã hội của quyền con người; các quyền đó được pháp luật hóa và mang tính
bắt buộc, được xã hội thừa nhận, bảo vệ. Nếu không có sự thừa nhận của xã hội
thông qua pháp luật thì quyền tự nhiên vốn có của con người chưa trở thành
quyền thực sự. Ngược lại, quyền con khi đã được quy định trong pháp luật thì nó
sẽ trở thành quyền pháp định, là ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội thừa
nhận phục tùng, được quyền lực Nhà nước tôn trọng bảo vệ. Khi quyền con người
được quy định trong Hiến pháp và pháp luật thì nó sẽ trở thành “tối thượng” có
giá trị bắt buộc đối với toàn xã hội, ngay cả với cơ quan cao nhất của Nhà
nước.
- Pháp luật là công cụ sắc bén của Nhà nước trong
việc thực hiện bảo vệ quyền con người. Tính sắc bén của pháp luật trong việc
thực hiện bảo vệ quyền con người được thể hiện ở các quy định về quyền con
người trong pháp luật được đảm bảo bằng bộ máy, cách thức tác động quyền lực
của Nhà nước, khi cần thiết thì Nhà nước sử dụng các biện pháp cưỡng chế trên
cơ sở tiến hành các biện pháp giáo dục, thuyết phục bảo đảm cho nội dung quyền
con người, quyền công dân được thực hiện và bảo vệ. Bên cạnh đó, nhờ hệ thống
cơ quan bảo vệ pháp luật mà mọi hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân
đều có khả năng bị phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời.
- Pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp
lý để công dân đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Ở đây
pháp luật được xem xét không chỉ với tư cách là công cụ, phương tiện của Nhà
nước mà còn là công cụ, vũ khí của mọi người trong xã hội để thực hiện, bảo vệ
quyền con người. Bởi vì pháp luật là đại lượng mang giá trị phổ biến, là chuẩn
mực của sự công bằng, do đó có thể đo được hành vi của mọi người, kể cả các cơ
quan tổ chức, công chức Nhà nước. Nó là cơ sở, là căn cứ để công dân đánh giá,
kiểm tra, đối chiếu các hành vi từ phía Nhà nước và các thành viên trong xã
hội, đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền con người,
quyền công dân có thể bị xâm phạm từ phía các cơ quan, tổ chức, công chức Nhà
nước trong khi thi hành công vụ, cũng như từ phía các thành viên khác trong xã
hội, bởi vì trong quan hệ với Nhà nước, công dân vừa là người chủ Nhà nước, vừa
là đối tượng bị quản lý cho nên quyền và lợi ích hợp pháp của họ có nguy cơ xâm
hại cao. Trong hoạt động của bộ máy Nhà nước thì hoạt động của hệ thống cơ quan
hành chinh Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật có nguy cơ làm phương hại
đến các quyền con người, quyền công dân rất cao. Bởi vì, các quyết định quản lý
của cơ quan hành chính Nhà nước, các phán quyết của cơ quan bảo vệ pháp luật
đều trực tiếp tác động đến các quyền và lợi ích của công dân.
Trong mối quan hệ với các cơ quan này, công dân
là người bị quản lý và chịu sự phán quyết nên họ luôn luôn ở vị thế bất lợi.
Trong điều kiện đó, người công dân không có vũ khí, phương tiện nào khác hữu
hiệu hơn là sử dụng pháp luật để đấu tranh tự bảo vệ lấy các quyền và lợi ích
của mình. Chỉ có pháp luật, bằng các qui phạm pháp luật quy định chặt chẽ về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức,
các quyền và nghĩa vụ của công dân, mới tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để mọi
người đấu tranh chống lại các hành vi xâm hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình.
- Vai trò của pháp luật trong việc thực hiện và
bảo vệ quyền con người còn thể hiện trong mối quan hệ giữa pháp luật và các
điều kiện bảo đảm khác (chính trị, kinh tế, văn hóa …) các điều kiện trên đều
phải thông qua pháp luật, thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá
trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên qui mô toàn xã hội. Chỉ có như vậy
thì các điều kiện đó mới phát huy được vai trò của mình trong việc thực hiện và
bảo vệ quyền con người, cụ thể như:
+ Điều kiện chính trị: Đường lối chính trị của
một quốc gia là nhằm xây dựng vào bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ độc lập dân tộc, xây
dựng nền kinh tế phát triển, nền dân chủ thực sự. Đường lối chính trị đó phải
được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp quy định chế độ chính
trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội, tổ chức hoạt động của các cơ quan Nhà nước
và tổ chức xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Đó chính là cơ sở
pháp lý để xây dựng một xã hội có cơ cấu tổ chức và chế độ chính trị hướng tới
tôn trọng, bảo vệ quyền con người.
Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là điều
kiện tiên quyết bảo đảm Nhà nước Việt Nam là Nhà nước thực sự của dân, do dân
và vì dân. Muốn dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, bảo
đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa xã
hội, tạo điều kiện bảo dảm thực hiện, bảo vệ quyền con người, muốn đường lối,
chính sách, nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực trong cuộc sống xã hội thì
sự lãnh đạo của Đảng phải được thể chế hóa thành pháp luật.
+ Điều kiện kinh tế: Phát triển kinh tế tạo cơ sở
vật chất là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện quyền con
người. Nhưng muốn phát triển kinh tế thì đường lối chính sách, cơ chế phải được
cụ thể hóa trong pháp luật. Pháp luật sẽ tạo khuôn khổ môi trường pháp lý thuận
lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ phát huy được mọi tiềm năng, hạn
chế được các mặt tiêu cực.
+ Điều kiện văn hóa: Phát triển văn hóa giáo dục,
nâng cao dân trí cũng phải được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật, bảo đảm
cho con người được phát triển tự do và toàn diện, tạo điều kiện cho mọi người
được độc lập, nghiên cứu nâng cao nhận thức về mọi mặt. Mặt khác, pháp luật có
vai trò giáo dục tích cực, mạnh mẽ đối với tất cả các thành viên trong xã hội
góp phần hình thành văn hóa pháp lý ở mọi người, giúp cho mọi người biết sống
và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, biết “tự bảo vệ” các quyền và lợi ích
hợp pháp của mình và biết tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người
khác trong cộng đồng.
Từ những phân tích ở trên, chúng ta thấy pháp
luật hiện diện ở tất cả các điều kiện khác, tạo cơ sở pháp lý cho các điều kiện
ấy phát huy được vai trò và hiệu quả của chúng trong việc thực hiện quyền con
người trên quy mô toàn xã hội.
- Pháp luật là phương tiện để thực hiện sự cam
kết và hòa nhập giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, bảo đảm việc bảo
vệ quyền con người ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Trong điều kiện hiện
nay, nhiều nội dung cụ thể của quyền con người cũng như việc bảo vệ quyền con
người đòi hỏi phải có sự đấu tranh, hợp tác giải quyết, phối hợp của nhiều quốc
gia hoặc cộng đồng quốc tế (đấu tranh chống tội phạm, giải trừ vũ khí hạt nhân,
đói nghèo và các vấn đế xã hội khác…). Những nội dung này đều là những vấn đề
đòi hỏi cần có sự hợp tác, phối hợp của các quốc gia với nhau trong cộng đồng
thế giới.
Trách nhiệm của các quốc gia khi tham gia ký kết,
hay phê chuẩn các công ước, tuyên ngôn về quyền con người là phải thực hiện các
cam kết đó, mỗi nước phải cụ thể hóa những quy định của pháp luật quốc tế sao
cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của đất nước mình, hòa nhập pháp
luật quốc gia với pháp luật quốc tế, thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm thực
hiện bảo vệ quyền con người trước cộng đồng quốc tế. Hơn nữa trong bối cảnh
giao lưu, hòa nhập quốc tế giữa các nước ngày nay ngày càng mở rộng ở tất cả
các lĩnh vực (lao động, học tập, kinh tế, ngoại giao, du lịch, hôn nhân…) vấn
đề bảo vệ quyền con người của công dân ở nước ngoài cũng như công dân nước
ngoài đang là vấn đề phức tạp cần quan tâm. Vì vậy cần phải có sự phối hợp hợp
tác giải quyết các vấn đề liên quan, mà phương pháp giải quyết đó là bằng con
đường cụ thể hóa các quyền trong các văn bản pháp luật. Việc ký kết các hiệp
định tương trợ tư pháp sẽ tạo cơ sở pháp luật giải quyết vấn đề quyền con người
trong điều kiện có xung đột pháp luật.
Từ các điều kiện của pháp luật như đã trình bày,
chúng ta thấy pháp luật có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc bảo vệ quyền
con người. Để phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo
vệ quyền con người thì phải thể chế hóa quyền con người thành các quy định cụ
thể trong hệ thống pháp luật, phải có cơ chế bảo đảm cho các quy định đó được
thực hiện trong thực tế, tạo thành đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người.
Nói cách khác, đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người chính là đảm bảo thực
hiện quyền con người bằng pháp luật.
Thể chế hóa quyền con người trong hệ thống pháp
luật, không chỉ là cụ thể hóa quyền con người thành các quyền và nghĩa vụ cụ
thể của công dân và những người không phải là công dân hoặc bị tước đi quyền
công dân. Nó còn bao hàm cả việc quy định các hình thức, biện pháp xử lý những
hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân, quy định về tổ chức hoạt động
của bộ máy Nhà nước, chức năng nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức và công chức Nhà nước, xây dựng hệ thống các thủ tục trong tố
tụng trong đó có tố tụng hình sự, cụ thể hóa các công ước quốc tế về quyền con
người mà các quốc gia đã tham gia ký kết hay phê chuẩn nhằm đảm bảo thực hiện
bảo vệ quyền con người. Quyền con người được thể chế hóa trong hệ thống pháp
luật thành hệ thống các quy định nêu trên, nhưng nếu không có cơ chể bảo đảm
thực hiện các quy định đó thì không thể nói đã có đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền
con người. Vì vậy, phải triển khai các hoạt động phổ biến, tuyên truyền, giáo
dục, giải thích pháp luật, hướng dẫn thực hiện pháp luật… nhằm nâng cao ý thức
pháp luật cho các thành viên xã hội, hình thành văn hóa pháp lý trong đời sống
xã hội.
Đồng thời huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã
hội trong việc tổ chức thực hiện pháp luật, nhất là nâng cao hiệu lực, hiệu quả
tổ chức thực hiện pháp luật của bộ máy Nhà nước, phải bảo đảm cho các quy định
nhằm thực hiện bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hệ thống pháp luật
được thực thi nghiêm chỉnh, các hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân
ngày càng giảm, còn có hiện tượng vi phạm thì càng phải được phát hiện, xử lý
kịp thời.
Tóm lại, đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người
là hệ thống các quy định trong hệ thống pháp luật nhằm cụ thể hóa, bảo đảm thực
hiện bảo vệ quyền con người và cơ chế bảo đảm thực hiện các quy định đó trong
thực tiễn đời sống.
Quá trình thể chế hóa quyền con người, xây dựng
các thiết chế bảo đảm thực hiện nó trong hệ thống pháp luật cũng chính là quá
trình xây dựng đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người. Quyền con người được thể
chế hóa trong hệ thống pháp luật sẽ trở nên vô nghĩa nếu việc tổ chức thực hiện
không được thường xuyên. Khả năng bảo đảm bảo vệ quyền con người trong quá
trình tổ chức thực hiện trước hết phụ thuộc vào chất lượng của việc thể chế hóa
quyền con người tự nhiên thành quyền công dân, cùng với các thiết chế bảo đảm
thực hiện nó trong hệ thống pháp luật như: bảo đảm tính cụ thể, đồng bộ thuận
tiện khả thi của các quy định pháp luật về quyền công dân; xây dựng thiết chế
tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước hướng đến mục tiêu thực hiện bảo vệ
quyền con người; xây dựng hệ thống các thủ tục tố tụng ngăn ngừa sự tùy tiện,
lạm quyền của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng, hòa nhập pháp luật
quốc gia và pháp luật quốc tế.
THEO: NGUYỄN QUANG HIỀN – TẠP
CHÍ KHPL SỐ 1 /2004
0.000000 0.000000
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------