Pháp luật về kinh doanh bất động sản ở Việt Nam dưới góc độ hoạt động đầu tư nước ngoài
Ở Việt Nam trong một thời gian dài, hoạt động kinh doanh BĐS (BĐS) dường như ít được pháp luật đề cập. Đó là thời kỳ mà nền kinh tế được quản lý bởi cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp. Trong cơ chế đó, Nhà nước trở thành một trung tâm chỉ huy trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh cũng như phân phối sản phẩm xã hội.
1. Pháp luật Việt Nam về kinh doanh bất động sản
Doanh nghiệp không có quyền tự chủ trong việc lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, không được tự chủ về xây dựng phương án, kế hoạch kinh doanh. Mọi công đoạn của quá trình sản xuất – kinh doanh đều thực hiện theo “cây gậy” chỉ huy của Nhà nước.
Công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế nước ta đã mở
ra một hiện thực hoạt động khác cho mọi loại hình doanh nghiệp, kể cả
các doanh nghiệp hoạt động đầu tư, kinh doanh BĐS. Hệ thống pháp luật đã
có gần đủ các văn bản quy phạm pháp luật cho mọi hoạt động sản xuất,
đầu tư, kinh doanh, trong đó có kinh doanh BĐS.
Nói đến BĐS, trước hết phải đề cập đến đất đai và nhà
ở, bởi đây là hai loại BĐS chủ yếu và quan trọng nhất. Trong lĩnh vực
đất đai, trước đây, do việc “xã hội hóa” đất đai một cách tuyệt đối: đất
đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý (Điều 19 Hiến
pháp 1980), nên pháp luật “đóng khung” quan hệ đất đai thông qua hành vi
Nhà nước cấp đất (không thu tiền sử dụng đất) cho người dân và thu hồi
đất khi họ không còn nhu cầu sử dụng. Các giao dịch về đất đai bị pháp
luật nghiêm cấm. Điều 5 Luật Đất đai năm 1987 quy định “Nghiêm cấm việc
mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận
đất được giao mà không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích, tự tiện
sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hoại
đất đai”. Còn trong lĩnh vực nhà ở, có hai hình thức sở hữu chủ yếu: sở
hữu nhà nước và sở hữu của từng cá nhân. Trong thời kỳ này, giao dịch về
BĐS là nhà ở chủ yếu là các giao dịch về thuê lại hoặc chuyển nhượng
nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; hay các giao dịch về mua bán nhà ở thuộc sở
hữu tư nhân.
Nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động kinh doanh BĐS phát triển. Để hoàn thiện đồng bộ thể chế
kinh tế thị trường, Nhà nước đã phải xây dựng đồng bộ và quản lý các thị
trường mang tính “đầu vào” của quá trình sản xuất – kinh doanh, bao
gồm: thị trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường BĐS và thị
trường khoa học – công nghệ. Đồng thời, Nhà nước xây dựng và hoàn thiện
khung pháp luật của nền kinh tế thị trường (trong đó có hệ thống pháp
luật kinh doanh BĐS) nhằm điều chỉnh và định hướng các hoạt động của thị
trường. Pháp luật kinh doanh BĐS được xây dựng, đánh dấu bằng sự ra đời
của Luật Đất đai năm 1993 với những quy định rất mới như giao quyền sử
dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; người sử dụng
đất được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn giao đất v.v.. Tiếp
đó, một loạt các đạo luật khác liên quan đến lĩnh vực kinh doanh BĐS lần
lượt được ban hành như: Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1994
(được sửa đổi, bổ sung năm 1999); Bộ luật Dân sự năm 1995 (được sửa đổi,
bổ sung năm 2005); Luật Xây dựng năm 2003; Luật Đầu tư năm 2005; Luật
Doanh nghiệp năm 2005; Luật Thương mại năm 2005; Luật về Nhà ở năm 2005;
đặc biệt phải kể đến việc ra đời của Luật Kinh doanh BĐS năm 2006 (Luật
KDBĐS) điều chỉnh trực tiếp hoạt động kinh doanh BĐS.
2. Pháp luật kinh doanh bất động sản dưới góc độ hoạt động đầu tư nước ngoài
Tìm hiểu các quy định về kinh doanh BĐS dưới góc độ
hoạt động đầu tư nước ngoài, chúng ta có thể đưa ra một số bình luận chủ
yếu sau đây:
2.1. Tính ưu việt của hệ thống pháp luật về kinh doanh BĐS
Hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS nói chung và hoạt
động đầu tư kinh doanh BĐS của các nhà đầu tư nước ngoài được pháp luật
Việt Nam khuyến khích và bảo hộ; cụ thể: Nhà nước có chính sách khuyến
khích đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, chính sách này được ghi nhận
rất rõ ràng tại Điều 12 Luật KDBĐS năm 2006; cơ chế pháp lý bình đẳng
trong hoạt động kinh doanh BĐS được xác lập; mọi chủ thể đầu tư (không
phân biệt đó là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài – Sau
đây gọi chung là nhà đầu tư) đều được tham gia đầu tư kinh doanh BĐS
(Điều 2 Luật KDBĐS); nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia hoạt động kinh
doanh dịch vụ BĐS cũng phải đáp ứng điều kiện có chứng chỉ hành nghề và
có giấy phép đăng ký kinh doanh dịch vụ kinh doanh BĐS như nhà đầu tư
trong nước (Điều 8 Luật KDBĐS); đồng thời hoạt động của nhà đầu tư phải
chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nguyên tắc hoạt động
kinh doanh BĐS được quy định tại Điều 5 Luật KDBĐS năm 2006 được áp
dụng cho mọi chủ thể kinh doanh BĐS…;
a) Nhà nước Việt Nam có chính sách ưu đãi cho các nhà
đầu tư trong hoạt động kinh doanh BĐS; các chính sách ưu đãi này bao
gồm: Nhà nước Việt Nam miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất xây dựng công trình có chuyển giao cho Nhà nước, công trình hạ tầng không kinh doanh, nhà chung cư phục vụ cho các đối tượng chính sách; Tổ chức tín dụng nhà nước cho vay ưu
đãi đầu tư đối với các dự án xây dựng nhà ở để cho thuê, cho thuê mua,
bán cho người có công, người nghèo, người có thu nhập thấp, sinh viên,
công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất; Nhà nước
khuyến khích và có chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân kinh doanh BĐS đầu
tư tạo lập quỹ nhà ở để bán trả chậm, trả dần, cho thuê, cho thuê mua
đối với người có công, người nghèo, người có thu nhập thấp; đầu tư hạ
tầng các khu công nghiệp để cho thuê mặt bằng phục vụ sản xuất;
b) Nhà đầu tư nước ngoài được phép hoạt động đầu tư
trong kinh doanh nhà, công trình xây dựng trong phạm vi và theo các hình
thức cụ thể sau: Tổ chức, cá nhân nước ngoài được kinh doanh BĐS trong
đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;
Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh BĐS được đầu tư tạo lập nhà, công
trình xây dựng để kinh doanh theo các hình thức sau đây: (i) đầu tư xây
dựng mới nhà, công trình xây dựng; (ii) đầu tư cải tạo, sửa chữa nhà,
công trình xây dựng có sẵn; tổ chức, cá nhân đầu tư tạo lập nhà, công
trình xây dựng để kinh doanh phải phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức, cá nhân đầu tư xây
dựng khu đô thị mới, khu nhà ở, hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp phải có
dự án đầu tư. Việc lựa chọn chủ đầu tư dự án khu đô thị mới, dự án khu
nhà ở, dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp phải được thực hiện theo
quy định của pháp luật về xây dựng và pháp luật về đấu thầu. Chủ đầu tư
dự án phải có năng lực tài chính để thực hiện dự án;
c) Tổ chức, cá nhân nước ngoài được hoạt động đầu tư
trong kinh doanh quyền sử dụng đất trong phạm vi do Luật KDBĐS quy định
như sau: Tổ chức, cá nhân nước ngoài được kinh doanh BĐS trong đầu tư
cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê
đất đã có hạ tầng
d) Tổ chức, cá nhân nước ngoài được hoạt động đầu tư
trong kinh doanh dịch vụ BĐS, cụ thể: (i) dịch vụ môi giới BĐS; (ii)
dịch vụ định giá BĐS; (iii) dịch vụ sàn giao dịch BĐS; (iv) dịch vụ tư
vấn BĐS; (v) dịch vụ đấu giá BĐS; (vi) dịch vụ quảng cáo BĐS; (vii) dịch
vụ quản lý BĐS.
2.2. Một số điểm hạn chế của hệ thống pháp luật kinh doanh bất động sản
Bên cạnh những thành công, hệ thống pháp luật kinh doanh BĐS của nước ta còn bộc lộ một số điểm hạn chế chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, trong thời gian qua thị trường BĐS ở nước ta bộc lộ rõ tính phân khúc; cụ thể:
(i) Xét trên phạm vi cả nước, thị trường BĐS phát
triển mạnh ở khu vực thành thị, khu công nghiệp, khu kinh tế (đặc biệt
là ở các đô thị lớn và khu vực phụ cận được “đô thị hóa”) – những nơi
kinh tế phát triển, sức mua của người dân tăng cao; trong khi đó thị
trường BĐS ở khu vực nông thôn, vùng có điều kiện kinh tế chậm phát
triển, vùng sâu, vùng xa lại kém sôi động;
(ii) Xét trong phạm vi một tỉnh, một khu vực, một địa
phương, thị trường BĐS phát triển sôi động ở những khu vực được Nhà
nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, ở các khu đô thị mới, khu
vực có điều kiện tự nhiên, yếu tố cảnh quan, phong thủy hợp thị hiếu
người dân…; trong khi đó, các khu vực khác, các giao dịch về BĐS lại kém
sôi động hơn;
(iii) Xét về cơ cấu, chủng loại hàng hóa BĐS, thị
trường BĐS nhà ở cao cấp, nhà ở chung cư, văn phòng cao cấp cho thuê,
đất dự án v.v.. thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà đầu tư
kinh doanh BĐS và người dân; trong khi đó, loại nhà ở xã hội, nhà chung
cư bán cho người có thu nhập thấp, người nghèo v.v.. lại ít nhận được sự
quan tâm tìm hiểu, sự đầu tư của các chủ thể kinh doanh BĐS;
Thực trạng trên đây của thị trường BĐS Việt Nam chưa
được pháp luật kinh doanh BĐS đưa ra các giải pháp hữu hiệu để khắc
phục. Điều này thể hiện qua các mặt: chưa có các quy định đầy đủ, rõ
ràng và đồng bộ nhằm xác lập cơ chế ưu đãi về cho vay vốn đối với doanh
nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho người có thu nhập thấp,
người nghèo; còn thiếu các quy định về hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư xây
dựng nhà ở xã hội, đầu tư kinh doanh BĐS ở khu vực kém phát triển trong
việc tiếp cận, cung cấp thông tin, chính sách khuyến khích đầu tư, hỗ
trợ giải quyết các thủ tục hành chính trong lập, triển khai dự án đầu
tư; chính sách ưu đãi về miễn, giảm tiền sử dụng đất v.v..
Thứ hai, pháp luật kinh doanh BĐS còn thiếu
các quy định nhằm xác lập cơ chế pháp lý đồng bộ, có hiệu quả để xử lý
tình trạng đầu cơ, mua bán đất đai lòng vòng kiếm lời, đẩy giá nhà, đất
lên quá cao so với giá trị thực tế. Hơn nữa, hệ thống pháp luật kinh
doanh BĐS chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng lấy đất
nông nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa ổn định) ở các tỉnh lân cận Thủ
đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… chuyển sang xây dựng khu đô thị mới,
khu nhà ở; xây dựng các sân golf v.v..
Thứ ba, pháp luật kinh doanh BĐS mặc dù có
những tác động tích cực nhằm nâng cao tính công khai, minh bạch của thị
trường BĐS, song điều này dường như là chưa đủ. Còn thiếu các quy định
về việc xây dựng, lưu trữ, công bố hệ thống cơ sở thông tin, dữ liệu về
thị trường BĐS. Các nhà đầu tư kinh doanh BĐS gặp nhiều khó khăn trong
việc tiếp cận các quy định về trình tự thủ tục, giao đất, cho thuê đất,
lập dự án đầu tư v.v.. Hơn nữa, tính khả thi của một số quy định của
pháp luật kinh doanh BĐS còn thấp. Các nhà đầu tư kinh doanh BĐS vẫn gặp
phải tình trạng nhũng nhiễu khi thực hiện những thủ tục hành chính liên
quan về đầu tư kinh doanh BĐS;
Thứ tư, các quy định hiện hành về đầu tư
kinh doanh BĐS vẫn còn hạn chế các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh BĐS
tại Việt Nam. Theo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở và Điều 121
Luật Đất đai năm 2009, không phải mọi đối tượng người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đều được mua nhà ở tại Việt Nam mà chỉ:
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối
tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú
tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân
và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:
a) Người có quốc tịch Việt Nam;
b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực
tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho
đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ
quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam;
người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy
định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở
lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại
Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại
Việt Nam” (Điều 1);
Tương tự, Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12 của Quốc hội
ngày 03/06/2008 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và
sở hữu nhà ở tại Việt Nam quy định: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc
các đối tượng sau đây được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam: 1. Cá nhân
nước ngoài có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật
về đầu tư hoặc được doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam theo quy
định của pháp luật về doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê giữ chức danh quản lý trong
doanh nghiệp đó; 2. Cá nhân nước ngoài có công đóng góp cho Việt Nam
được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân
chương, Huy chương; cá nhân nước ngoài có đóng góp đặc biệt cho Việt Nam
do Thủ tướng Chính phủ quyết định; 3. Cá nhân nước ngoài đang làm việc
trong lĩnh vực kinh tế – xã hội có trình độ đại học hoặc tương đương trở
lên và người có kiến thức, kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu; 4.
Cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam; 5. Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư
không có chức năng kinh doanh BĐS, có nhu cầu về nhà ở cho những người
đang làm việc tại doanh nghiệp đó ở” (Điều 2). Điều này làm cho thị
trường BĐS có độ “mở” hạn chế chưa thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư nước
ngoài vào lĩnh vực này;
Thứ năm, trình tự, thủ tục đăng ký quyền sử
dụng đất và đăng ký quyền sở hữu nhà và tài sản trên đất được quy định ở
hai đạo luật khác nhau là Luật Đất đai năm 2003 và Luật về Nhà ở năm
2005 với hai hệ thống trình tự, thủ tục có nhiều điểm khác biệt. Điều
này cũng làm giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư trong lĩnh vực kinh
doanh BĐS;
3. Kiến nghị về hoàn
thiện hệ thống pháp luật kinh doanh bất động sản nhằm nâng cao tính hấp
dẫn của thị trường bất động sản việt nam đối với các nhà đầu tư nước
ngoài
1. Nhà nước cần soạn thảo và sớm ban hành cơ chế về tín dụng cho hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS;
2. Thủ tục hành chính liên quan đến việc giao đất,
xây dựng quy hoạch v.v ở Việt Nam thực hiện mất từ 2 – 3 năm nên nhiều
dự án khâu tiếp cận vấn đề đất đai rất khó khăn và triển khai chậm tiến
độ. Nhà nước cần rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định về thủ tục hành
chính trong đầu tư kinh doanh BĐS theo hướng công khai, minh bạch, giản
tiện cho nhà đầu tư và rút ngắn thời gian thực hiện xuống còn từ 3 – 5
tháng như các nước trong khu vực;
3. Nhà nước sớm xây dựng và ban hành các quy chế về
tổ chức và hoạt động của tổ chức môi giới BĐS, tổ chức tư vấn BĐS, tổ
chức định giá BĐS, tổ chức quản lý sàn giao dịch BĐS, tổ chức quản lý
BĐS v.v;
4. Nhà nước cần tiến hành rà soát, sửa đổi bổ sung
các quy định mâu thuẫn, chồng chéo trong đăng ký BĐS giữa Luật Nhà ở,
Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng… đảm bảo
tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật kinh doanh BĐS;
5. Sớm sửa đổi, bổ sung quy định về giải quyết mâu
thuẫn giữa Luật Nhà ở và Luật KDBĐS về điều kiện cho phép nhà đầu tư
được bán tài sản hình thành trong tương lai; đồng thời ban hành quy định
hiểu như thế nào là “móng nhà” và “hạng mục công trình kỹ thuật” của
một dự án kinh doanh BĐS;
6. Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về
BĐS để cho các nhà đầu tư dễ dàng tra cứu, tìm hiểu thông tin trước khi
đi đến quyết định có đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh BĐS hay không.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - THS. NGUYỄN NGỌC MINH – Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam
Trích dẫn từ:http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/phap-luat-ve-kinh-doanh-bat-111ong-san-o-viet-nam-duoi-goc-111o-hoat-111ong-111au-tu-nuoc-ngoai