Phổ biến giáo dục pháp luật: Nhà nước là trụ cột!
Một trong những nguyên nhân khiến các vụ việc khiếu nại tố cáo vẫn còn nhiều và nhiều vụ kéo dài là do pháp luật chưa đi vào cuộc sống. Điều đó đặt ra yêu cầu xác định rõ chủ thể và nội dung phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) để đưa văn hóa pháp lý thành nếp sống của mỗi người dân.
Nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị
PBGDPL là một hoạt động
quan trọng để đưa pháp luật đến với từng cá thể trong xã hội. Nhưng từ trước
đến nay, PBGDPL mới chỉ được coi là trọng trách của Nhà nước và các tổ chức
chính trị - xã hội, chứ chưa được các chủ thể khác trong xã hội cùng “gánh
vác”. Nghĩa là hoạt động PBGDPL phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn ngân sách nhà
nước, trong khi đây là hoạt động cần được đầu tư nhiều, lâu dài mới phát huy
hiệu quả. Vậy là chủ thể chính thực hiện hoạt động PBGDPL sẽ liên quan đến
nguồn tài chính và trách nhiệm nếu văn bản (VB) PL không đến được với dân.
Thực tế cho thấy, những
dự án Luật được tài trợ từ bên ngoài thì hoạt động PBGD bao giờ cũng “rôm rả”,
dày đặc và đa dạng hơn. Do đó, ông Nguyễn Văn Pha – Phó Chủ tịch Uỷ ban TW Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng, người dân có nhu cầu được PBGDPL nhưng cần phải
xác định đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước đóng vai
trò chủ yếu. Còn ông Nguyễn Đắc Bình (Ủy ban Dân tộc) lại yêu cầu quy định rõ
chủ thể, chứ không thể quy định chung chung là Nhà nước.
Trong Điều 8 và 10 dự
thảo 2 Luật PBGDPL mà Bộ Tư pháp đang chủ trì soạn thảo, xác định, trách nhiệm
thực hiện PBGDPL thuộc về tổ chức Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, UBND cấp xã, tổ chức
pháp chế, cơ sở giáo dục, cơ quan báo chí, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước
ngoài và các cá nhân “được giao nhiệm vụ” hoặc “khuyến khích thực hiện PBGDPL”.
Ồng Trương Khánh Hoàn (Bộ Tư pháp) không đồng tình với quy định tại Điều 8
khoản 1 điểm a, b. Ông thấy rằng, theo Luật Ban hành VBQPPL, cơ quan nào soạn
thảo dự án Luật nào thì có trách nhiệm phổ biến văn bản đó, chứ không chỉ có Bộ
Tư pháp. Hơn nữa, cơ quan có trách nhiệm PBGDPL có thể phân công một tổ chức
nào đó thuộc cơ quan thực hiện, mà không nhất thiết là tổ chức pháp chế. Do
vậy, quy định như Điều 8 khoản 1 vô hình chung đã hạn chế sự tham gia hoạt động
PBGDPL của các chủ thể là các Bộ, ban, ngành khác và cũng không phù hợp với quy
định của pháp luật hiện hành về vấn đề này.
Nhất trí với ý kiến
trên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp - Trưởng Ban soạn thảo dự án Luật PBGDPL Hà Hùng
Cường - nhấn mạnh, đây phải là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trên cơ sở
xác định rõ cơ quan ban hành là cơ quan phổ biến văn bản, mà nòng cốt là Nhà
nước nên cũng không cần quy định về vấn đề xã hội hóa hay Quỹ PBGDPL. Những vấn
đề này có thể được xem xét vào năm 2020, sau khi Luật PBGDPL góp phần tạo được
đột phá cho nếp “sống và làm việc theo Hiến pháp và PL” trong nhân dân và cả
cán bộ công chức.
Chỉ phổ biến
những văn bản pháp luật đã ban hành
Với quy định về nội
dung PBGDPL quy định tại Điều 22 dự thảo 2 Luật PBGDPL được cho là quá rộng so
với thực tiễn. Ông Lê Minh Đức (Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam) cho biết, ở địa phương,
chủ yếu PBGD các VBPL của TƯ, tỉnh, chứ không quan tâm đến các VBPL quốc tế hay
điều ước quốc tế. Ông Trương Khánh Hoàn cũng thấy, nếu quy định như Điều 22 là
sẽ bất khả thi trong điều kiện dân trí cũng như nhu cầu tìm hiểu PL của đại đa
số người dân. Theo ông, chỉ cần PBGD những VB mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký
kết. Đồng thời phải cân nhắc việc PBGD những dự án, dự thảo VBQPPL vì đã được
Luật Ban hành VBQPPL điều chỉnh trong quy trình xây dựng PL. Do vậy, Điều 22
nên thu hẹp quy định đối với các VBPL đã ban hành. Đồng thời, cũng cần cân nhắc
để không “đá nhau” với Luật Tiếp cận thông tin (mà Bộ Tư pháp cũng đã chủ trì
soạn thảo).
Bộ trưởng Hà Hùng Cường
cũng lưu ý, dự thảo Luật PBGDPL chỉ điều chỉnh hoạt động PBGDPL trực tiếp,
không nên “ôm” cả các hoạt động PBGDPL gián tiếp khác như hoạt động của tổ chức
báo chí, tư vấn PL, trợ giúp pháp lý…, tránh đi quá xa trọng tâm của dự thảo
Luật. Hơn nữa, những hoạt động gián tiếp này đã được điều chỉnh trong các VBPL
khác./.
Huy
Anh
|
Ông Nguyễn Văn
Pha – Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Phổ biến pháp
luật nhiều khi mới tiếp cận được các "chức sắc"
PV: Từ thực
tiễn hoạt động PBGDPL của MTTQVN, ông nhận thấy lực lượng nào báo cáo viên,
tuyên truyền viên hay cộng tác viên nên được phát triển?
Ông Nguyễn Văn
Pha: Số lượng báo cáo viên rất hạn chế (mỗi tỉnh khoảng 25 người, còn mỗi
huyện cũng chỉ khoảng 5-7 người), khó có thể đảm trách nhiệm vụ PBGDPL. Vì
thế nên phát triển đội ngũ cộng tác viên để tận dụng được sự linh hoạt, kiến
thức rộng rãi và đông đảo của họ. Tuy nhiên, phải có cơ chế phù hợp để khuyến
khích các thành phần trong xã hội tham gia lực lượng này.
PV: Ông đánh
giá thế nào về vai trò của các cơ quan thông tấn báo chí trong hoạt động
PBGDPL?
Ông Nguyễn Văn
Pha: Đây là kênh quan trọng vì đến được với từng người dân. Các kênh PBGDPL
hiện nay chủ yếu mới chỉ tiếp cận được các “chức sắc” như cán bộ thôn, xã....
Cần có những quy định cụ thể hơn để tăng cường vai trò của kênh thông tin này
trong PBGDPL.
|
Nguồn: Bộ tư pháp