Quan điểm và định hướng phát triển xuất nhập khẩu nhằm phát triển bền vững ở VIệt Nam thời kỳ 2011- 2020
Trong những năm qua, phát triển xuất khẩu đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới của đất nước. Xuất khẩu đã trở thành một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định kinh tế, xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo.
I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2001-2010
Trong những năm qua, phát triển xuất khẩu đã có những
đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới của đất nước. Xuất khẩu đã trở
thành một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, góp phần
ổn định kinh tế, xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa
đói, giảm nghèo.
Nhịp độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân
hàng năm giai đoạn 2001-2010 ở mức cao, đạt 19%/năm. Quy mô xuất khẩu
tăng từ 15 tỷ USD năm 2001 lên 72,19 tỷ năm 2010, tăng hơn 4,7 lần. Tỷ
trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trên GDP tăng từ 46% năm 2001 lên
70% năm 2010. Mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú và đa dạng. Nếu
như năm 2004, Việt Nam chỉ có 6 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD
thì đến hết năm 2010 đã có 18 nhóm hàng, trong đó có 10 nhóm hàng đạt
kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và 8 nhóm hàng trên 2 tỷ USD. Hàng hóa
xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 220 nước và vùng
lãnh thổ.
Trong 10 năm qua, xuất khẩu đã đóng góp tỷ trọng lớn
nhất vào tăng trưởng kinh tế bên cạnh các yếu tố khác là tiêu dùng, đầu
tư và nhập khẩu[1]. Tăng trưởng xuất khẩu cao và
tương đối ổn định trong nhiều năm đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô như
hạn chế nhập siêu, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ
ngoại tệ. Chính sách khuyến khích xuất khẩu trong giai đoạn vừa qua cũng
đã góp phần vào công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển hệ
sinh thái. Khả năng đáp ứng các quy định về môi trường và an toàn vệ
sinh thực phẩm của nhiều nhóm hàng được nâng cao[2].
Các phương pháp sản xuất thân thiện môi trường ngày càng được áp dụng
rộng rãi, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Phát triển
xuất khẩu đã góp phần tạo thêm việc làm[3], tăng
thu nhập, xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với khu vực nông thôn. Phát
triển xuất khẩu cũng đã có tác dụng tích cực trong việc nâng cao trình
độ lao động, hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và
thành thị, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
Trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế, công
nghệ nước ta còn thấp, chính sách nhập khẩu trong thời gian qua đã tạo
thuận lợi để Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến, giải quyết sự thiếu
hụt về nguyên, nhiên liệu, máy móc thiết bị. Nhập khẩu đã góp phần thúc
đẩy tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện trình độ công nghệ của nền kinh tế,
ổn định đời sống nhân dân. Người tiêu dùng được tiếp cận hàng hóa và
dịch vụ rẻ hơn và tốt hơn…
Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn vừa
qua phát triển chưa bền vững. Giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu
còn thấp do chủ yếu dựa vào khai thác các yếu tố về điều kiện tự nhiên
và nguồn lao động rẻ. Chính sách phát triển xuất khẩu trong thời gian
qua quá chú trọng đến chỉ tiêu về số lượng, chưa thật sự quan tâm đến
chất lượng và hiệu quả xuất khẩu. Chúng ta chưa khai thác một cách hiệu
quả lợi thế cạnh tranh xuất khẩu dựa vào công nghệ, trình độ lao động,
quản lý… để tạo ra các nhóm hàng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh cao,
có hàm lượng khoa học, công nghệ cao[4], có khả năng tham gia vào khâu tạo ra giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh đó, mở rộng xuất khẩu đang có nguy cơ làm
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm
môi trường. Tăng trưởng xuất khẩu của nước ta hiện nay chủ yếu dựa vào
việc khuyến khích khai thác các nguồn lợi tự nhiên và sử dụng ngày càng
nhiều các yếu tố đầu vào làm gia tăng áp lực gây ô nhiễm[5].
Nhiều vấn đề xã hội nảy sinh từ hoạt động xuất, nhập
khẩu mà chúng ta chưa có cơ chế, chính sách để giải quyết hiệu quả. Chia
sẻ lợi ích từ xuất khẩu chưa thật bình đẳng, đặc biệt là lợi ích thu
được từ các nhóm hàng xuất khẩu có nguồn gốc thiên nhiên. Gia tăng
khoảng cách giàu nghèo trong quá trình tự do hóa thương mại. Cơ hội về
thu nhập và việc làm dựa vào xuất khẩu chưa thật sự bền vững đối với
nhóm xã hội dễ bị tổn thương là người có thu nhập thấp, khu vực nông
nghiệp. Xung đột chủ thợ có xu hướng gia tăng[6].
Nhập khẩu chưa bền vững do vẫn chú trọng nhập khẩu
công nghệ trung gian, khuyến khích nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ, chưa
có biện pháp dài hạn để kiềm chế nhập siêu, nhập khẩu cạnh tranh chưa
được khuyến khích đúng mức… Nhập khẩu chưa được quản lý tốt đã góp phần
làm tăng nguy cơ ô nhiễm và suy thoái môi trường. Tình trạng nhập khẩu
hàng hóa không đảm bảo các quy định an toàn và môi trường còn khá phổ
biến, nhất là nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc. Tình trạng nhập khẩu
thiết bị lạc hậu, thực phẩm kém chất lượng, hóa chất độc hại từ Trung
Quốc và qua các cửa khẩu tiếp giáp với Lào và Căm Pu Chia chưa được ngăn
chặn. Quản lý nhập khẩu chưa tốt làm nảy sinh hiện tượng gian lận
thương mại, một số nhóm người thu lợi bất chính từ hoạt động nhập khẩu,
làm trầm trọng thêm sự bất ổn định kinh tế và xã hội.
Nguyên nhân của tình trạng nói trên là do, trong quá
trình xây dựng và hoạch định chính sách xuất, nhập khẩu thời kỳ
2001-2010, chúng ta chưa thật sự quan tâm đúng mức đến chất lượng tăng
trưởng, thiên về chỉ tiêu số lượng, coi nhẹ những ảnh hưởng tiêu cực của
xuất khẩu đối với xã hội và môi trường, duy trì quá lâu mô hình tăng
trưởng theo chiều rộng, chưa chú trọng đúng mức để tạo tiền đề cho việc
chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu. Một số chỉ tiêu trong
chiến lược xuất, nhập khẩu thời kỳ 2001-2010 không thực hiện được. Chẳng
hạn như, chỉ tiêu về cân bằng xuất nhập khẩu vào năm 2010, chỉ tiêu
nhập khẩu 40% công nghệ nguồn, chỉ tiêu về chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu
theo hướng nâng cao tỷ trọng hàng chế biến, công nghệ, lao động chất
lượng cao… Hạn chế về năng lực thực thi các quy định về môi trường, đặc
biệt là tại các khu công nghiệp, các vùng nuôi trồng thủy sản, khu vực
khai thác và chế biến khoáng sản là nguyên nhân gây nên suy thoái môi
trường. Chúng ta chưa có chính sách chia sẻ lợi ích hợp lý trong hoạt
động xuất khẩu và hạn chế rủi ro của hoạt động xuất khẩu. Điều này thấy
rất rõ trong việc các đầu nậu thu gom nông sản ép giá đối với nông dân,
các thương lái vật tư sản xuất nông nghiệp nâng giá để trục lợi, các
công ty môi giới lao động (đặc biệt là lao động nước ngoài), tư vấn
chuyên môn định phí quá cao… Hoạt động xuất khẩu dễ bị tổn thương trong
bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là các nhóm
xuất khẩu dựa vào lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động rẻ như nông
sản, thủy sản, dệt may, da giày, đồ gỗ… Chính sách của nhà nước để hạn
chế rủi ro chưa được thực hiện một cách liên tục và kịp thời. Biến động
giá cả của một số mặt hàng xuất khẩu như gạo, cà phê trong năm 2008 cho
thấy Chính phủ còn bị động trong việc điều hành xuất khẩu. Lợi ích từ
xuất khẩu không được chia sẻ một cách hợp lý tiềm ẩn nguy cơ xung đột xã
hội, giảm lòng tin của người dân vào các chính sách của nhà nước.
Phát triển xuất, nhập khẩu bền vững đặt ra hết sức
cấp bách đối với nước ta trong giai đoạn 2011-2020, giai đoạn tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững, với mục tiêu chủ yếu là coi trọng chất
lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, đảm bảo ổn định
kinh tế vĩ mô, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng
tăng trưởng, ổn định xã hội, bảo vệ tốt môi trường. Đây là chủ trương
lớn của Đảng cho giai đoạn 2011-2020. Yêu cầu phát triển xuất, nhập khẩu
bền vững càng bức xúc hơn trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu
hơn với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sau khi gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) và thực hiện các cam kết FTA ở mức độ cao hơn.
Hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng cơ hội mở rộng thị trường xuất, nhập
khẩu, do đó khuyến khích khai thác tài nguyên và gia tăng sử dụng các
yếu tố đầu vào liên quan đến môi trường, tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường
qua biên giới. Áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và sự biến động kinh
tế thế giới đang là thách thức đối với việc duy trì tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu cao và bền vững, hạn chế mất cân đối ngoại thương. Mở cửa thị
trường, thực hiện các cam kết thương mại quốc tế có thể làm nảy sinh các
vấn đề xã hội như việc làm, thu nhập, xung đột xã hội… nếu như không có
các chính sách đúng đắn và kịp thời. Như vậy ở nước ta, trong giai đoạn
tăng trưởng tiếp theo còn đang tiềm ẩn những nhân tố làm chệch định
hướng phát triển bền vững kinh tế nói chung và xuất, nhập khẩu nói
riêng.
II. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 2011-2020
Mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế của Việt
Nam thời kỳ 2011-2020 là phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền
vững. Tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng,
hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi khai thác các yếu
tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố phát
triển theo chiều sâu. Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn
hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công
bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm
giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng
cách phát triển giữa các vùng. Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện
môi trường ngay trong từng bước phát triển, không gây ô nhiễm và huỷ
hoại môi trường. Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm ổn định
chính trị – xã hội; ổn định chính trị – xã hội là tiền đề, điều kiện để
phát triển nhanh và bền vững. Đây là quan điểm định hướng cho các
ngành, các lĩnh vực xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển bền vững.
Trên cơ sở quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế
thời kỳ 2011-2020, quan điểm cụ thể để phát triển xuất nhập khẩu ở Việt
Nam trong thời gian tới là:
(1) Phát triển xuất khẩu trên cơ sở khai thác
triệt để lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, đảm bảo tốc độ và chất
lượng tăng trưởng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Trong những năm tới, xuất khẩu vẫn là động lực chính
của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Vì vậy, cần phải kiên trì định hướng
công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu. Đây là chủ trương cần được quán
triệt trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế Việt Nam trong giai
đoạn tới. Trong bối cảnh hiện nay, khi cuộc khủng hoảng tài chính và
suy thoái toàn cầu làm sụt giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, nhiều quan
điểm cho rằng, cần chuyển định hướng phát triển kinh tế dựa vào xuất
khẩu sang thay thế nhập khẩu và phát triển thị trường nội địa. Thực tế
cho thấy là nhiều nước trên thế giới đã làm như vậy thông qua các biện
pháp như tăng cường bảo hộ thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng…
Tuy nhiên, đối với Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa,
thị trường trong nước chưa phát triển, cần tranh thủ nguồn lực bên
ngoài, nhất là FDI, để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát
triển xuất khẩu là con đường để Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá
trị toàn cầu, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.
Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất
khẩu cần phải nhanh chóng thay đổi mô hình tăng trưởng. Trong những năm
qua, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu dựa vào khai thác lợi
thế so sánh sẵn có về tài nguyên và lao động rẻ. Lợi thế nói trên hiện
tại và một vài năm tới vẫn đang phát huy tác dụng. Tuy nhiên, dễ dàng
nhận thấy rằng, nguồn lực tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Những hạn chế
mang tính cơ cấu về lợi thế tự nhiên như khả năng khai thác, đánh bắt,
nuôi trồng sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong dài hạn. Đó là
chưa kể đến những tác động tiêu cực đến môi trường được xem như một hạn
chế cản trở tăng trưởng xuất khẩu. Lợi thế lao động rẻ cũng ngày càng
giảm dần trong bối cảnh chênh lệch tiền lương lao động ở nước ta và các
nước giảm dần và nhu cầu cao trên thị trường thế giới về những hàng hóa
có hàm lượng công nghệ và khoa học ngày càng cao. Do đó, dựa vào mô hình
tăng trưởng theo chiều rộng trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh sẵn có,
xuất khẩu Việt Nam khó có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức
cao. Bên cạnh đó, cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh suy thoái kinh tế
toàn cầu cũng là áp lực phải nhanh chóng chuyển sang mô hình tăng trưởng
mới.
Mô hình tăng trưởng mới là mô hình tăng trưởng theo
chiều sâu, dựa vào việc khai thác lợi thế cạnh tranh động để nâng cao
năng suất, chất lượng và hiệu quả xuất khẩu trên cơ sở đẩy mạnh cải cách
thể chế, sử dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại. Chuyển từ phát triển xuất khẩu
theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ việc dựa chủ yếu vào
lợi thế so sánh sẵn có (tĩnh) sang lợi thế cạnh tranh động là nhân tố
quyết định chất lượng tăng trưởng xuất khẩu; duy trì được tốc độ tăng
trưởng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng hóa xuất khẩu, phù hợp với xu hướng biến đổi của thị trường, do đó,
hạn chế được rủi ro khi thị trường thế giới biến động bất lợi. Thực
hiện định hướng phát triển xuất khẩu theo chiều sâu cũng là giải pháp để
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khắc phục
nguy cơ tụt hậu, bẫy thu nhập trung bình, nâng cao vị thế quốc gia, đảm
bảo phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Trong giai đoạn tới, chất lượng phát triển phải là
mục tiêu hàng đầu. Cần khắc phục tư tưởng coi trọng số lượng, chạy theo
thành tích cục bộ và ngắn hạn. Nhiều chỉ tiêu xuất khẩu trong giai đoạn
vừa qua chỉ phản ánh về mặt số lượng mà chưa phán ánh được hiệu quả đầu
tư, các tác động về mặt xã hội, môi trường. Nhiều chuyên gia kinh tế cho
rằng, trong thời gian qua, nước ta đã đầu tư quá mức cho xuất khẩu mà
chưa tính toán đến hiệu quả của nó. Điều này dẫn đến sự hao phí nguồn
lực, sử dụng không hiệu quả vốn đầu tư, làm nảy sinh hành vi tiêu cực
như tham nhũng, gian lận thương mại. Cần phải tính toán xem mỗi một đô
la giá trị xuất khẩu mà ta mang về đem lại bao nhiêu lợi nhuận đóng góp
vào tăng trưởng kinh tế. Chủ trương phát triển xuất khẩu là đúng đắn,
tuy nhiên nếu không có chiến lược phát triển đúng hướng, tập trung vào
các ngành có lợi thế mà đầu tư dàn trải, tràn lan thì chúng ta không thể
có được các sản phẩm có vị thế cạnh tranh quốc tế. Thực tế cho thấy,
trong 25 năm đổi mới, Việt Nam chưa có nhiều những thương hiệu hàng hóa
và doanh nghiệp có uy tín quốc tế, ngoại trừ một số sản phẩm có được sự
nổi tiếng do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên.
(2) Phát triển xuất khẩu trên cơ sở khai thác hợp
lý tài nguyên thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài
nguyên, nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường
của hàng hóa xuất khẩu.
Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường ở nước
ta trong những năm tới là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có
hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm
soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ
được các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển
và bảo tồn sự đa dạng sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất
lượng môi trường. Đây là định hướng phát triển bền vững về môi trường
cho các ngành kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng.
Trên cơ sở mục tiêu phát triển bền vững về môi trường
của nước ta trong thời gian tới, quan điểm phát triển xuất khẩu và bảo
vệ môi trường được khái quát ở những khía cạnh sau đây:
Trước hết, tăng trưởng xuất khẩu phải trên cơ
sở khai thác hợp lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Cần nhận
thức đầy đủ rằng, bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên là cơ sở
của sự phát triển bền vững. Đối với Việt Nam, một đất nước được thiên
nhiên ưu đãi, có trình độ phát triển thấp, khai thác hợp lý, sử dụng
hiệu quả tài nguyên sẽ tạo thuận lợi để tích lũy ban đầu cho công cuộc
công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Lợi thế về điều kiện tự nhiên đã tạo
thuận lợi cho Việt Nam xếp thứ hạng cao hiện nay về xuất khẩu một số sản
phẩm như gạo (thứ hai thế giới), cà phê (thứ hai thế giới), hạt tiêu
(số một thế giới), hạt điều (thứ ba thế giới). Một số mặt hàng khác như
dầu thô, thủy sản đang có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối trên thị trường
thế giới.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, chúng ta chưa khai
thác một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Tăng trưởng xuất khẩu một
số mặt hàng như cà phê, hạt điều, cao su, chè kéo theo sự suy giảm diện
tích rừng và đa dạng sinh học. Tương tự, khai thác thủy sản theo lối hủy
diệt, quá mức làm suy giảm nghiêm trọng sinh quyển biển. Tăng diện tích
nuôi trồng thủy sản cùng với giảm diện tích rừng ngập mặn. Tăng trưởng
xuất khẩu của nước ta đang tiềm ẩn nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và mất
cân bằng sinh thái. Khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên sẽ làm giảm
tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong tương lai và gây nên những hệ lụy
đối với môi trường và xã hội.
Thứ hai, tăng trưởng xuất khẩu phải đi đôi với
việc hạn chế ô nhiễm môi trường. Trong những năm tới, Việt Nam phải đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quá trình này sẽ khuyến
khích khai thác tài nguyên và sử dụng ngày càng nhiều năng lượng và
nguyên liệu đầu vào. Xuất khẩu trong giai đoạn tới sẽ tập trung vào tăng
tỷ trọng các mặt hàng chế biến. Nếu không có những biện pháp kiểm soát ô
nhiễm, môi trường sinh thái nước ta sẽ ô nhiễm nghiêm trọng. Ô nhiễm
môi trường còn làm giảm khả năng xuất khẩu và ảnh hưởng đến uy tín của
doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu.
Thứ ba, phát triển xuất khẩu trong giai đoạn
tới phải chú trọng nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn
môi trường của hàng hóa xuất khẩu, áp dụng các quy trình và phương pháp
sản xuất thân thiện với môi trường. Xu hướng áp dụng các tiêu chuẩn môi
trường trong thương mại quốc tế ngày càng phổ biến để giải quyết các vấn
đề toàn cầu và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Các tiêu chuẩn môi
trường đối với sản phẩm, quy trình chế biến ngày càng được các nước áp
dụng rộng rãi và ở mức cao hơn như những rào cản kỹ thuật trong buôn bán
quốc tế. Việt Nam xuất khẩu nhiều mặt hàng nhạy cảm với môi trường và
an toàn như nông sản, thủy sản. Đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi
trường phải được nhìn nhận như là một biện pháp để nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hóa và cải thiện môi trường trong nước.
Thứ tư, phát triển xuất khẩu bền vững ở nước
ta trong giai đoạn tới phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lý, sử dụng
tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về
mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Từng bước thực hiện nguyên
tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi", trong đó
ưu tiên cho phát triển kinh tế. Cần khắc phục quan điểm cực đoan trong
việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên. Bảo tồn thiên nhiên quá mức sẽ
ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, công cuộc xóa đói giảm nghèo
và hậu quả là gây khó khăn cho việc quản lý tài nguyên. Khai thác hợp lý
và có chính sách quản lý môi trường linh hoạt sẽ khuyến khích người
hưởng lợi có ý thức chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường, bảo tồn
và phát triển chúng để khai thác bền vững trong tương lai. Tuy nhiên
khai thác quá mức tài nguyên để đạt được sự tăng trưởng nhanh trong ngắn
hạn sẽ dẫn đến suy thoái và cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng đến sự phát
triển bền vững của các thế hệ tương lai.
(3) Phát triển xuất khẩu góp phần thực hiện các
mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, tạo nhiều việc làm đảm bảo công
bằng xã hội, chia sẻ lợi ích hợp lý giữa các thành phần tham gia xuất
khẩu.
Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội được đề ra
trong Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam là: “Đạt được kết quả
cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ
dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được nâng
cao, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm tình
trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và
nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền
lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong một xã hội,
duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc, không
ngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần”.
Quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách
công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc
sống của các thế hệ tương lai. Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi
cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận
tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công
cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho
những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái
tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống
sản xuất sạch và thân thiện với môi trường, xây dựng lối sống lành mạnh,
hài hòa, gần gũi và yêu quý thiên nhiên.
Trên cơ sở mục tiêu phát triển bền vững về xã hội của
nước ta trong giai đoạn tới, quan điểm phát triển xuất khẩu về mặt xã
hội được thể hiện ở một số điểm sau đây:
Thứ nhất, phát triển xuất khẩu góp phần thực
hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm. Các cấp, các ngành, địa
phương cần quán triệt quan điểm này trong hoạch định chính sách phát
triển trong giai đoạn tới. Hơn 70% dân số sống ở nông thôn, dựa chủ yếu
vào nguồn lợi tự nhiên. Phát triển xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thủy
sản trong thời gian qua đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là những
vùng trồng cà phê, cao su (Tây Nguyên), lúa gạo, thủy sản (Đồng bằng
sông Cửu Long). Xuất khẩu các mặt hàng sử dụng nhiều lao động như dệt
may, da giày, thủy công mỹ nghệ, điện tử, đồ gỗ… thu hút một lượng lao
động lớn, cải thiện đời sống của người dân lao động. Mặc dù, xuất khẩu
của nước ta trong thời gian qua chưa thể hiện được xu hướng công nghiệp
hóa, nhưng đóng góp về mặt xã hội là rất to lớn.
Thứ hai, phát triển xuất khẩu đóng góp vào
nâng cao chất lượng lao động, trình độ quản lý. Cần nhanh chóng chuyển
dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng hàng công nghiệp chế
biến và giá trị gia tăng cao để cải thiện nguồn nhân lực, thu hút lao
động nông nghiệp. Chất lượng lao động và trình độ quản lý của các doanh
nghiệp nước ta còn hạn chế. Đây cũng là một trong những nguyên nhân hạn
chế tăng trưởng xuất khẩu bền vững. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chính
sách đào tạo nguồn nhân lực và khuyến khích sử dụng người có trình độ
chuyên môn cao là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao chất
lượng tăng trưởng xuất khẩu.
Thứ ba, cần có chính sách để giải quyết các
vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa định hướng xuất
khẩu. Trước hết, cần giải quyết các vấn đề xã hội do tập trung lao động
(nhất là lao động nữ) ở một số ngành như da giày, dệt may. Đây là một
vấn đề đang bức xúc mà chưa được sự quan tâm của các ngành. Cần tạo môi
trường sinh sống ổn định cho người lao động như nhà ở, các dịch vụ phục
vụ đời sống hàng ngày. Thứ hai, cải thiện môi trường lao động để đảm bảo
sức khỏe và an toàn cho công nhân. Thứ ba, cần tính đến những vấn đề
khác như việc xây dựng gia đình cho công nhân, cuộc sống con cái của họ
sau này…
Thứ tư, cần có chính sách chia sẻ lợi ích thu
được từ xuất khẩu một cách hợp lý giữa những nhóm xã hội, nhất là trong
việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Xử lý tốt vấn đề này sẽ tăng hiệu
quả xuất khẩu, khai thác hợp lý tài nguyên và tránh được các xung đột xã
hội có liên quan. Đây cũng là một vấn đề quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay,
chúng ta chưa có một thiết chế hữu hiệu để kiểm soát phân phối thu nhập
giữa các bên tham gia vào chuỗi giá trị. Thực tế cho thấy, người lao
động, phần lớn là người sản xuất (nông dân) bị thua thiệt trong phân
phối thu nhập. Người được hưởng lợi nhiều nhất là các nhà hoạch định
chính sách, môi giới, nhà xuất khẩu trung gian. Trường h���p người trồng
cà phê, trồng lúa, cá tra… bị các thương lái ép giá trong trường hợp có
biến động thị trường còn khá phổ biến ở nước ta. Một vấn đề nữa là chia
sẻ lợi ích giữa những người dân bản địa, nơi có tài nguyên đa dạng sinh
học. Những người khai thác là những người ở nơi khác đến. Trường hợp dễ
nhận thấy là những đầm nuôi tôm, rừng trồng cà phê, chè… Mở rộng diện
tích trồng cà phê, nuôi tôm ở vùng có rừng tự nhiên và ngập mặn làm mất
đi nguồn lợi sinh sống của người dân bản địa. Họ phải đi sâu vào các
cánh rừng khác và tiếp tục phá hoại môi trường. Như vậy, chia sẻ lợi ích
giữa các nhóm xã hội không những là vấn đề xã hội mà còn là vấn đề môi
trường.
Vấn đề chênh lệch giàu nghèo ở nước ta hiện nay cũng
có nguyên nhân từ việc chia sẻ chưa hợp lý lợi ích từ xuất khẩu. Trong
nền kinh tế thị trường, khác nhau về năng lực dẫn đến khác nhau về thu
nhập là tất yếu khách quan. Tuy nhiên, một bộ phận dân cư giàu lên nhanh
chóng bằng cách dựa vào khai thác nguồn lợi tự nhiên một cách phi pháp,
trục lợi bằng những cách thức kinh doanh thiếu lành mạnh. Kinh doanh
xuất khẩu mang lại lợi nhuận cao và cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ phân hóa
sâu sắc giàu nghèo.
Thứ năm, cần có quan điểm tổng thể, dài hạn
trong quản lý, khai thác tài nguyên và tài sản quốc gia. Trước hết là
đảm bảo lợi ích quốc gia, sự phát triển cân đối giữa các vùng và hài hòa
lợi ích của các thế hệ. Khắc phục cách nhìn cục bộ địa phương, tư duy
ngắn hạn, nhiệm kỳ trong quản lý và khai thác tài nguyên, sử dụng tài
sản công. Tài nguyên quốc gia là tài sản chung của toàn dân, các công
dân các thế hệ khác nhau có quyền được hưởng lợi. Không xử lý tốt vấn đề
lợi ích trong khai thác và sử dụng tài sản quốc gia sẽ làm nảy sinh
nguy cơ xung đột xã hội, giảm niềm tin của nhân dân vào chính sách của
Đảng và Nhà nước.
(4) Đẩy mạnh nhập khẩu công nghệ tiên tiến, hạn
chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất được, hạn chế nhập khẩu
hàng hóa nguy hại đối với môi trường và sức khỏe, cân đối xuất, nhập
khẩu theo hướng hạn chế nhập siêu, tiến tới cân bằng cán cân thương mại.
Chính sách quản lý nhập khẩu trong giai đoạn
2011-2020 cần tập trung vào việc xử lý những vấn đề như: cân bằng cán
cân thương mại, khuyến khích nhập khẩu cạnh tranh, trước hết là công
nghệ nguồn; hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất được;
quản lý nhập khẩu hàng hóa không đảm bảo các quy định về sức khỏe và môi
trường. Trong bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô như lạm phát gia tăng, cán
cân thanh toán thâm hụt, hạn chế nhập khẩu hợp lý có vai trò quan trọng
góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Để giảm nhập siêu, biện pháp dài hạn là
phát triển các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu và đẩy mạnh xuất
khẩu, trên cơ sở nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hàng
hóa Việt Nam, quản lý nhập khẩu đối với các doanh nghiệp nhà nước và đẩy
mạnh tự do hóa thương mại.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2011-2020
(1) Định hướng phát triển xuất khẩu
Chiến lược phát triển xuất khẩu của Việt Nam giai
đoạn đến 2020 cũng đề ra mục tiêu là: “Nỗ lực gia tăng tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo
công ăn việc làm, thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng
nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các
loại sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu
dịch vụ; mở rộng và đa dạng hóa thị trường và phương thức kinh doanh;
hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu vực và thế giới”.
Trên cơ sở mục tiêu định hướng chung nêu trên, một số định hướng cụ thể phát triển xuất khẩu trong giai đoạn 2011-2020 là:
- Xác định phát triển xuất khẩu các mặt hàng mới phù
hợp với xu hướng biến đổi của thị trường thế giới và lợi thế của Việt
Nam là khâu đột phá trong phát triển xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn
2011-2020. Các mặt hàng mới là các mặt hàng chế tạo công nghệ trung bình
và công nghệ cao.
- Giai đoạn 2011-2015 tập trung phát triển xuất khẩu
những mặt hàng có lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động rẻ như thuỷ
sản, nông sản, dệt may, điện tử, các sản phẩm chế tác công nghệ trung
bình… Tuy nhiên cần chuẩn bị điều kiện để gia tăng tỷ trọng xuất khẩu
hàng chế biến.
- Giai đoạn 2016-2020 tập trung phát triển các mặt
hàng công nghiệp mới có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ và
chất xám cao, trên cơ sở thu hút mạnh đầu tư trong nước và nước ngoài
vào các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu, những ngành chế tạo công
nghệ trung bình và công nghệ cao.
- Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giảm
xuất khẩu hàng thô, nông sản, thuỷ sản, tăng tỷ trọng hàng công nghiệp,
đặc biệt là hàng công nghiệp chế tạo như điện tử, viễn thông, vật liệu
xây dựng, đồ gỗ…
- Không khuyến khích phát triển sản xuất, xuất khẩu
các mặt hàng thu hút nhiều lao động rẻ, ô nhiễm môi trường, giá trị gia
tăng thấp. Chú trọng phát triển các mặt hàng xuất khẩu thân thiện môi
trường, hạn chế sử dụng năng lượng và tài nguyên.
- Tập trung phát triển thị trường cho các sản phẩm có
sức cạnh tranh lớn, có giá trị gia tăng cao hoặc các nhóm sản phẩm có
tỷ trọng kim ngạch lớn. Trước hết là khai thác cơ hội mở cửa thị trường
từ các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu và các thị
trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN… Khai
thác các thị trường tiềm năng như Nga, Đông Âu, châu Phi và châu Mỹ La
tinh…
(2) Định hướng nhập khẩu
- Khuyến khích nhập khẩu công nghệ cao, công nghệ
tiên tiến, công nghệ nguồn trên cơ sở khai thác lợi thế từ các hiệp định
thương mại tự do với các nước có nền công nghiệp phát triển.
- Hạn chế nhập khẩu các loại hàng hóa sản xuất trong
nước, nhập khẩu hàng xa xỉ, có chính sách phát triển ngành công nghiệp
hỗ trợ và các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu.
- Áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ
sản xuất trong nước, hạn chế ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức
khỏe, thông qua việc xây dựng các biện pháp phi thuế quan phù hợp với
các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, các biện pháp tự vệ khẩn cấp, áp
thuế chống bán phá giá, các tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp kiểm dịch
động thực vật…
- Ngăn chặn việc nhập lậu hàng từ các nước ASEAN và
Trung Quốc để bảo vệ hàng sản xuất trong nước. Tranh thủ mở cửa thị
trường trong các FTA mới để đa dạng hóa thị trường nhập khẩu và nhập
khẩu công nghệ nguồn.
IV. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tiếp tục đổi mới tư duy và nhận thức về phát triển nhanh và bền vững: Trước hết,
chuyển từ tư duy phát triển kinh tế theo chiều rộng sang tư duy phát
triển theo chiều sâu, tư duy theo số lượng sang tư duy chất lượng, hiệu
quả. Thứ hai, chuyển từ tư duy và nhận thức ngắn hạn, cục bộ,
nhiệm kỳ trong phát triển kinh tế sang tư duy và nhận thức một cách tổng
thể, dài hạn. Thứ ba, cần có tư duy toàn cầu về phát triển kinh tế, chuyển từ tư duy quốc gia sang tư duy toàn cầu. Thứ tư, chuyển từ tư duy hành chính, mệnh lệnh sang tư duy kinh tế – kỹ thuật. Thứ năm, chuyển từ tư duy phòng thủ, bảo hộ, đối phó sang tư duy tấn công, mở cửa, chủ động chiếm lĩnh thị trường. Thứ sáu, đổi mới tư duy về quản lý nhà nước. Thứ bảy, nhận thức về việc phát huy nội lực và ngoại lực.
2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa: Tiếp
tục hoàn thiện một số chính sách vĩ mô nhằm tạo ra môi trường kinh
doanh bình đẳng, có hiệu quả, thúc đẩy cạnh tranh và tạo lòng tin để các
doanh nghiệp và nhân dân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất. Khuyến
khích kinh tế tập thể và tư nhân phát triển lâu dài. Tiếp tục đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp nhà nước. Tích
cực thu hút đầu tư nước ngoài. Hình thành đồng bộ các loại hình thị
trường, các công cụ điều tiết thị trường như cơ chế giá, thuế, tiền
lương, tỷ giá… Duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô bằng cách
hoàn thiện các chính sách tài chính, cân đối ngân sách, ổn định tiền
tệ, kiểm soát lạm phát, ngăn chặn suy giảm kinh tế. Đẩy mạnh cải cách
hành chính.
3. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Chuyển nền
kinh tế từ tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển chủ yếu
theo chiều sâu, trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và
công nghệ tiên tiến để tăng năng suất lao động và nâng cao sức cạnh
tranh của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nâng cao hiệu quả của nền
kinh tế nói chung và hiệu quả của vốn đầu tư nói riêng. Chuyển nền kinh
tế từ khai thác và sử dụng tài nguyên dưới dạng thô sang chế biến tinh
xảo hơn, nâng cao giá trị gia tăng từ mỗi một đơn vị tài nguyên được
khai thác. Triệt để tiết kiệm các nguồn lực trong phát triển, sử dụng có
hiệu quả nguồn tài nguyên khan hiếm và hạn chế tiêu dùng lấn vào phần
của các thế hệ mai sau.
4. Phát triển khoa học và công nghệ: Ưu tiên
nhập khẩu công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn, nhập khẩu bằng sáng chế
phát minh để ứng dụng, tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm
và phối hợp nghiên cứu triển khai. Xây dựng trung tâm công nghệ cao thu
hút đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia để từng bước rút ngắn
khoảng cách về công nghệ với các nước trong khu vực. Phát triển thị
trường khoa học, công nghệ nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp
cận và tăng tính thanh khoản các nguồn vốn đầu tư cho R&D, đổi mới
sản phẩm, đổi mới công nghệ. Thực hiện cơ chế khuyến khích mọi tổ chức,
cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển khoa học, công
nghệ.
5. Chính sách đối với các thành phần kinh tế:
Đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao tính chủ
động, hiệu quả và khả năng cạnh tranh. Các giải pháp lớn là cổ phần
hóa, sáp nhập, bán, cho thuê. Khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư
nhân, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải được coi là nhiệm vụ lâu
dài và then chốt để chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu. Tạo
điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh lâu dài và
hiệu quả ở nước ta. Tăng cường khả năng liên kết ngành kinh tế, xây dựng
các tập đoàn kinh tế mạnh cũng là một giải pháp để nâng cao chất lượng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu.
6. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ:
Xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn và đào tạo lại. Có chính sách trọng
dụng nhân tài, đãi ngộ hợp lý đối với người lao động, nhất là những
người có nhiều cống hiến cho đất nước. Cải cách hệ thống tiền lương theo
tiêu chí công bằng và theo năng lực, chất lượng và hiệu quả làm việc;
đồng thời, thiết lập một hệ thống bảo hiểm xã hội.
7. Phát triển kết cấu hạ tầng: Ưu tiên thu hút
đầu tư trong và ngoài nước để cải thiện cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ:
giao thông, cung cấp điện, bến cảng, kho tàng, văn phòng…
8. Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế: Thực
hiện tốt các cam kết Việt Nam đã ký kết, nhất là các cam kết gia nhập
WTO và các FTA. Tổ chức tham gia một cách hiệu quả vào các vòng đàm phán
thương mại thế giới. Đổi mới cơ chế và tổ chức điều phối liên ngành
trong việc đàm phán và thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế.
Trước hết là kiện toàn bộ máy của Ửy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế
quốc tế. Tăng cường năng lực và hoạt động của các cơ quan ngoại giao,
thương vụ để dự báo và xử lý các trường hợp biến cố đối với thị trường
xuất khẩu. Đào tạo đội ngũ cán bộ trong đàm phán vững vàng về chính trị,
thành thạo nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ.
9. Giữ vững ổn định chính trị – xã hội: Chiến
lược phát triển bền vững của Việt Nam nêu rõ mối quan hệ giữa phát triển
bền vững với bảo đảm ổn định chính trị, xã hội. Một trong những nguyên
tắc phát triển bền vững là kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế,
phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh
và trật tự an toàn xã hội. Môi trường chính trị, xã hội ổn định của Việt
Nam trong những năm qua là nhân tố quan trọng đảm bảo tăng trưởng kinh
tế cao và ổn định. Môi trường chính trị ổn định là một trong những yếu
tố hấp dẫn đầu tư nước ngoài vào nước ta trong những năm qua. Chính trị,
xã hội ổn định cũng là yếu tố làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư
trong nước.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Công Thương (2010), Báo cáo tình hình hoạt động của ngành công thương năm 2010.
2. Bộ Thương mại (2002), Chiến lược xuất nhập khẩu Việt Nam thời kỳ 2001-2010, www.moit.gov.vn.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21),
được ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17/8/2004
của Thủ tướng Chính phủ, http://www.monre.gov.vn/monreNet/.
4. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.
5. Hội đồng lý luận Trung ương (2007): “Khi Việt Nam đã vào WTO”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[1] Theo điểm phần trăm, năm 2002, GDP tăng 7,08% thì
xuất khẩu đóng góp 5,89 điểm phần trăm, tương ứng năm 2003 là 7,34 và
11,66; năm 2004: 7,79 và 16,80; năm 2005: 8,44 và 15,13; năm 2006: 8,23
và 17,78; năm 2007: 8,48 và 19,8 và năm 2008 là 6,18 và 3,57. Theo tỷ lệ
phần trăm, năm 2002, xuất khẩu đóng góp 83,25%; năm 2003: 158,78%; năm
2004: 215,71%; năm 2005: 179,25%; năm 2006: 206,04%; năm 2007 là 233,53%
và năm 2008 là 57,57%.
[2] Năm 2009, có 295 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam được EU cấp chứng nhận về chất lượng và VSATTP.
[3] Năm 2008, có 3,6 triệu lao động tham gia xuất
khẩu trong ngành dệt may, ngành da giày là 660.000 người, điện tử
230.000 người và thủ công mỹ nghệ là 1,88 triệu người.
[4] Tính đến hết năm 2009, tỷ trọng hàng xuất khẩu
công nghệ cao của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 9% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu. Trong khi đó, tỷ lệ này của Trung Quốc là 35%, Thái Lan là 40%,
Malaysia là 60%. Điều đáng nói là tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ cao
của Việt Nam ít thay đổi trong 10 năm gần đây.
[5] Chỉ trong hơn hai thập kỷ qua, diện tích rừng
ngập mặn Việt Nam giảm đi hơn một nửa, trung bình mỗi năm mất đi gần
20.000 ha, hơn 80% độ che phủ đã bị ảnh hưởng. Các đầm nuôi tôm là một
trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng phá huỷ này.
[6] Tranh chấp và đình công có xu hướng gia tăng mạnh
trong thời gian kể từ năm 2006, song đặc biệt tăng nhanh trong 2 năm
2007 và 2008. Trong năm 2008, cả nước có 720 cuộc đình công, gấp 4,7 lần
so với năm 2005 và gấp hơn 10 lần so với năm 2000. Các vụ đình công xảy
ra chủ yếu trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và có xu
hướng ngày một tăng. Tuy nhiên, đến năm 2009 thì số vụ đình công giảm
hẳn, chỉ còn 216 vụ.
SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH
PGS. TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Thường trực Bộ Công Thương
TS. HỒ TRUNG THANH – Viện Nghiên cứu Thương mại
Trích dẫn từ: http://www.moit.gov.vn/vsi_portlets/UserFiles/Docman/Upload/xuatnhapkhau_phattrienbenvung.doc
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------