Quy chế nền kinh tế phi thị trường (NME) và cách tiếp cận trong việc xác định thuế chống bán phá giá của Hoa kỳ và EU
Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam buộc phải chấp nhận việc bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm. Trên thực tế, quy chế nền kinh tế phi thị trường (NME) đã gây ra nhiều bất lợi cho Việt Nam những năm gần đây. Cùng với tăng trưởng thương mại, Việt Nam cũng bị cáo buộc bán phá giá nhiều hơn. Việt Nam đã phải chịu nhiều thiệt hại về xuất khẩu khi các mặt hàng cá da trơn, xe đạp, da giầy, vv...bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.
Bài
viết sau đây sẽ đi sâu phân tích quy chế NME và cách tiếp cận nước thay thế mà
Hoa Kỳ và EU sử dụng nhằm đưa ra các phán quyết cuối cùng khẳng định bán phá
giá và làm tăng biên độ phá giá.
I)
Các tiêu chí
về quy chế kinh tế phi thị trường
Thuật ngữ nền kinh tế phi thị
trường có nguồn gốc ra đời đặc biệt. Sau Đại chiến Thế giới II, vai trò chủ
chốt của Nhà nước trong giao dịch ngoại thương của các nước Đông Âu đã khiến các tài liệu chính thức sử dụng
thuật ngữ các nước mà Nhà nước thực hiện giao dịch thương mại. Sau khi đã có tự
do hóa thương mại và giảm bớt độc quyền Nhà nước tuyệt đối trong các giao dịch
ngoại thương, các nhà kinh tế học và chính trị gia chuyển sang thuật ngữ nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Khi có thêm các cải cách định hướng thị trường
hồi cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, các nước chuyển đổi được gọi là
các nền kinh tế phi thị trường.
Quy chế NME được Hoa Kỳ và EU xây
dựng là một quyết định mang tính chính trị hơn là trên cơ sở kinh tế. Bộ Thương
mại Hoa Kỳ và EU không đề rõ ranh giới mà một nền kinh tế phi thị trường hoàn
thành quá trình chuyển đổi để trở thành một nền kinh tế thị trường. Hoa Kỳ và EU
chỉ đưa ra tiêu chí khái quát nhằm xác định qui chế NME với từng nước. Sự khác
biệt cơ bản giữa các tiêu chí của Hoa Kỳ và các tiêu chí của EU là Hoa Kỳ đánh
giá các nước trong khi EU đánh giá các doanh nghiệp. Dưới đây là bảng tiêu chí
của Hoa Kỳ nhằm xác định NME:
|
STT
|
Tiêu chí
|
|
1
|
Mức độ mà đồng tiền của nước ngoài đó có thể được chuyển đổi sang
đồng tiền của nước khác
|
|
2
|
Mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của chính phủ đối với các phương tiện
sản xuất
|
|
3
|
Mức độ kiểm soát của chính phủ đối với sự phân bổ các nguồn lực và
đối với các quyết định về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp
|
|
4
|
Mức độ mà các mức tiền công lao động ở nước ngoài đó được xác định
bởi sự thương lượng tự do giữa người lao động và giới quản lý
|
|
5
|
Mức độ mà các liên doanh hoặc các dạng đầu tư khác của doanh nghiệp
từ các nước khác được phép hoạt động ở nước ngoài đó
|
|
6
|
Những yếu tố khác mà cơ quan quản lý thấy phù hợp
|
Nguồn:
Polouektov (2002)
EU lại đưa ra các tiêu chí về nền
kinh tế thị trường (ME), những quốc gia không đáp ứng được các tiêu chí này sẽ
bị coi là nền kinh tế phi thị trường:
|
1
|
Chuyển đổi hối đoái được thực hiện theo tỷ giá thị trường
|
|
2
|
Các quyết định của doanh nghiệp về giá cả, chi phí và đầu vào – gồm
chi phí nguyên vật liệu, công nghệ và lao động, sản lượng, doanh số và đầu tư
– được đưa ra để đáp ứng với những tín hiệu thị trường phản ánh cung và cầu,
không có sự can thiệp đáng kể nào của Nhà nước, và chi phí của những đầu vào
chính về cơ bản phản ánh giá thị trường
|
|
3
|
Các doanh nghiệp có một loạt các sổ sách kế toán cơ bản rõ ràng,
được kiểm toán độc lập theo các chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng cho
tất cả các mục đích
|
|
4
|
Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của doanh nghiệp không chịu
sự bóp méo đáng kể dưới tác động của hệ thống kinh tế phi thị trường, nhất là
liên quan tới khấu hao tài sản, các dạng xóa nợ và các dạng thanh toán bù nợ
khác
|
|
5
|
Các doanh nghiệp liên quan chịu sự điều chỉnh của các luật về phá
sản và tài sản đảm bảo sự chắc chắn và ổn định về pháp lý cho doanh nghiệp
hoạt động
|
Nguồn:
Polouektov (2002)
II) Cách tiếp cận nước thay thế trong việc xác
định thuế chống bán phá giá
1.
Phương pháp
nền kinh tế thị trường dùng để thay thế
Bán phá giá được định nghĩa là
việc đặt giá xuất khẩu thấp hơn so với giá trong nước, vì vậy gây thiệt hại cho
các ngành công nghiệp của nước nhập khẩu. Bất cứ phương pháp điều tra nào làm tăng giá nội địa đều làm tăng khả
năng dẫn đến phán quyết cuối cùng khẳng định có bán phá giá. Khi các rào cản
thuế quan và phi thuế quan đang được giảm để tuân thủ với các quy định của WTO,
thì các vụ chống bán phá giá được sử dụng nhiều hơn nhằm bảo vệ các ngành công
nghiệp trong nước.
Trong các vụ kiện chống bán phá
giá, Hoa Kỳ và EU đã sử dụng cách tiếp cận nước thay thế cho các nền kinh tế bị
coi là phi thị trường. Phương pháp này bắt nguồn từ các cuộc thương lượng về
cách làm thế nào để xác định giá cả trong nước ở những nước mà Nhà nước độc
quyền thương mại vào những năm thuộc thập niên 1960 và chúng được duy trì trong
các quy định của WTO. Cách tiếp cận này cho phép bên khởi kiện lựa chọn một nền
kinh tế thị trường để thay thế cho nền kinh tế phi thị trường. Giá cả ở nước
thay thế được sử dụng để đại diện cho giá trong nước của nền kinh tế phi thị
trường. Sự tuỳ tiện trong quá trình lựa chọn và việc so sánh các sản phẩm không
giống nhau giữa các nước là điều phổ biến. Thường xảy ra sự lạm dụng trong việc
tính toán giá trị thông thường. Tình trạng định giá quá cao đối với các yếu tố
sản xuất gần như diễn ra ở khắp mọi nơi, nhất là đối với chi phí lao động bởi
vì phương pháp này không đếm xỉa gì tới sự khác biệt giữa các nước. Việc không
tính đến những khác biệt giữa các nước để không tính đến nguyên nhân chính yếu
vì sao hàng xuất khẩu của các nước nghèo lại rẻ hơn và vì vậy làm sai lệch các
kết quả phát hiện. Hơn nữa, việc Hoa Kỳ sử dụng những thông tin bất lợi có sẵn
đối với các nhà sản xuất của NME cho phép Hoa Kỳ sử dụng những số liệu không
đáng tin cậy để tính ra giá trị thông thường. Phương pháp nước thay thế cho
phép các bên khởi kiện thao túng các con tính, dựng ra kết luận khẳng định bán
phá giá và phóng đại biên độ phá giá.
2. Một số trường hợp điển hình về điều tra chống bán phá giá ở Việt Nam
a) Cá da trơn
Trong vụ kiện chống bán phá giá
cá da trơn, Bangladesh đã
được Hoa Kỳ chọn là nước có nền kinh tế thị trường để thay thế cho Việt Nam. Mặc dù có
trình độ phát triển kinh tế tương đương, nhưng lại có sự khác biệt đáng kể ở
cấp độ doanh nghiệp và sản xuất, khiến cho chi phí sản xuất ở Bangladesh cao
hơn và vì thế giá trị thông thường của Việt Nam bị tính quá cao. Bộ Thương mại
Hoa Kỳ không tính giá trị thông thường dựa trên cơ sở sản xuất tích hợp – từ
khâu thượng nguồn là đầu vào cho tới khâu chế biến. Thay vào đó, Bộ Thương mại
Hoa Kỳ lại định giá đầu vào chính (cá sống) được sử dụng để sản xuất mặt hang
đang bị điều tra. Điều này dẫn tới việc định giá quá cao.
Ngoài ra, việc sử dụng tiền công
lao động dựa trên phép hồi quy là 0,63 USD/giờ đối với Việt Nam đã khiến mức
tiền công lao động hàng tháng được xác định cao gấp ba lần so với mức tiền công
lao động trung bình ở Việt Nam.
b) Xe đạp
Trong vụ kiện chống bán phá giá
cá da trơn, Mexico đã được EU lựac chọn làm nước thay thế dựa trên sự tương tự
của sản phẩm và sự tồn tại thị trường cạnh tranh. Tuy nhiên, EU lại không tính
tới sự chênh lệch về trình độ phát triển của hai nước này. Tính theo ngang giá
sức mua năm 2004 (PPP) tổng thu nhập quốc dân trên đầu người của Việt Nam là
2.700 USD còn của Mexico là 9.640USD (Nguồn: Ngân hàng thế giới). EU giả định
rằng các thị trường lao động không tồn tại trong các nền kinh tế phi thị trường
và thay vào đó họ sử dụng giá của nước thay thế. Điều này từ chối không tính
tới lao động rẻ là lợi thế so sánh chủ chốt của các nước nghèo hơn. Kết quả là
thuế suất phá giá bị tính quá cao.
Lý luận phản đối việc EU chọn
Mexico làm nước thay thế cho Việt Nam, nhiều người cho rằng chi phí lao động
cao gấp ba lần so với chi phí lao động ở Việt Nam. Vì thế, chi phí sản xuất và
giá thành phẩm ở Mexico cao hơn so với chi phí và giá ở Việt Nam. EU đáp lại
rằng Việt Nam được xem là nền kinh tế đang chuyển đổi. Chi phí lao động của các
Nhà sản xuất Việt Nam không được hưởng quy chế kinh tế thị trường nên không
phải là giá cả tự do. Mục đích chính của việc sử dụng nước so sánh là nhằm loại
bỏ tác động của giá cả phi thị trường và bác bỏ luận điểm này.
III) Một số giải pháp giải quyết vấn đề kinh tế
phi thị trường của Việt Nam
Trước những cách tính tùy tiện
thuế chống bán phá giá mà Hoa Kỳ và EU áp đặt cho Việt Nam dựa trên quy chế NME
và cách tiếp cận nước thay thế, Việt Nam cần đưa ra những giáp pháp ngắn hạn và
dài hạn, vi mô và vĩ mô để sớm thoát khỏi việc bị áp đặt là nền kinh tế phi thị
trường. Có như vậy, Việt Nam mới hạn chế tối đa được những thiệt hại của hàng
xuất khẩu khi bị cáo buộc bán phá giá. Dưới đây là một số hướng đi chính mà
Việt Nam cần thực hiện trong thời gian tới:
- Chấp nhận những thách thức mà một nước bị coi là
kinh tế phi thị trường sẽ phải đối mặt khi tham gia thương mại quốc tế, đặc
biệt trong quan hệ thương mại với những nước thường xuyên sử dụng công cụ chống
bán phá giá. Xác định rõ những khó khăn có thể sẽ gặp phải khi xuất khẩu ra thị
trường quốc tế để chuẩn bị sẵn các giải pháp đối phó. Như vậy, doanh nghiệp và
Chính phủ phải chấp nhận những thách thức nảy sinh từ việc bị coi là nền kinh
tế phi thị trường để chuẩn bị các biện pháp đối phó với tình trạng áp đặt thuế
chống bán phá giá và trợ cấp của các nước như Hoa Kỳ, EU và các nước khác đối
với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Mục tiêu là bảo vệ lợi ích của các doanh
nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường các nước nói trên.
-
Đẩy mạnh cải cách theo định hướng thị trường.
Đồng thời tích cực vận động các thành viên WTO sớm công nhận quy chế thị trường
và không áp dụng điều khoản trong Nghị định thư gia nhập WTO về kinh tế phi thị
trường. Đẩy mạnh cải cách kinh tế thị trường là cách đối phó tích cực và lâu
dài nhất trong trường hợp bị coi là kinh tế phi thị trường. Hướng đi này cũng
phù hợp với mục tiêu phát triển của Việt Nam trong những năm tới.
- Với tư cách thành viên WTO, yêu cầu xem xét lại và sửa
đổi các điều khnoản liên quan kinh tế phi thị trường trong Hiệp định Chống bán
phá giá của WTO. Tích cực vận động các nước công nhận kinh tế thị trường của
Việt Nam đồng thời nâng cao vai trò của mình trong các cuộc đàm phán sắp tới để
có tiếng nói quan trọng trong vấn đề kinh tế phi thị trường trong WTO.
Tác giả: Lê Thị Thủy - Chuyên viên tư vấn Investconsult Group
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1. Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
http://www.sunlaw.com.vn/news/luat-su-rieng-cho-doanh-nghiep.aspx
2. Tư vấn thành lập các loại hình doanh
nghiệp:
http://www.sunlaw.com.vn/news/tu-van-thanh-lap-cac-loai-hinh-doanh-nghiep-.aspx
3. Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu
doanh nghiệp:
http://www.sunlaw.com.vn/news/tu-van-thay-doi-noi-dung-dang-ky-kinh-doanh-cho-cac-loai-hinh-doanh-nghiep.aspx
4. Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
http://www.sunlaw.com.vn/news/tu-van-quan-tri-noi-bo-doanh-nghiep.aspx
5. Dịch vụ tư vấn pháp luật Việt Nam:
http://www.sunlaw.com.vn/news/tu-van-luat-thuong-xuyen.aspx
6. Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính
cho doanh nghiệp:
http://www.sunlaw.com.vn/news/cung-cap-thong-tin-tai-chinh-doanh-nghiep.aspx
7. Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh
nghiệp:
http://www.sunlaw.com.vn/news/tu-van-lap-quy-che-tai-chinh-cho-doanh-nghiep--sunlaw-firm.aspx
8.Dịch vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn
hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
http://www.sunlaw.com.vn/news/dich-vu-dang-ky-bao-ho-doc-quyen-nhan-hieu-hang-hoa-tai-thi-truong-viet-nam.aspx
9. Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy
tính:
http://www.sunlaw.com.vn/news/dang-ky-ban-quyen-phan-mem-may-tinh.aspx
10. Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
http://www.sunlaw.com.vn/news/dang-ky-bao-ho-ban-quyen-tac-gia.aspx
11. Tư vấn cấp phép đầu tư:
http://www.sunlaw.com.vn/news/tu-van-xin-cap-giay-phep-dau-tu.aspx
12. Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
http://www.sunlaw.com.vn/news/tu-van-dieu-chinh-giay-phep-dau-tu-.aspx
13. Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư
vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
http://www.sunlaw.com.vn/news/dich-vu-truoc-ba-sang-ten-nha-dat.aspx
14. Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết
tranh chấp:
http://www.sunlaw.com.vn/news/luat-su--tranh-tung-tai-toa-an-sunlaw-firm.aspx
15. Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật:
http://www.sunlaw.com.vn/news/dich-vu-cung-cap-van-ban-phap-luat.aspx
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------